THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC - ĐÀO
TẠO Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
9
1.1. Cơ sở lý luận về chính sách công và thực hiện chính sách giáo
dục - đào tạo
1.2. Chính sách giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
9
20
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2000-2009
41
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hệ thống giáo
dục - đào tạo của Hải Phòng có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện
chính sách giáo dục - đào tạo
98
100
104
GD-ĐT
: Giáo dục- đào tạo
GD&ĐT
: Giáo dục và Đào tạo
GDĐH
: Giáo dục đại học
GDMN
: Giáo dục mầm non
GDNN
: Giáo dục nghề nghiệp
GDPT
: Giáo dục phổ thông
GDTH
TT GDTX
: Trung tâm giáo dục thường xuyên
TT HTCĐ
: Trung tâm học tập cộng đồng
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
XHH GD
: Xã hội hóa giáo dục
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách phát triển GD-ĐT luôn đóng vai trò quan trọng trong việc
hoạch định chính sách công ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Thế giới đang
ở những năm cuối của thập niên đầu tiên thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật tiếp tục phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế tri
thức. Nhân loại đang hướng tới một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba
chính sách. Tháo gỡ và đổi mới GD-ĐT như mục tiêu đặt ra phải quan tâm
đến xây dựng hệ thống chính sách.
Thời kỳ trước đổi mới, Hải Phòng đã có đóng góp nhiều thành tựu cho
đất nước về kinh tế - xã hội. Từ đổi mới đến nay, Đảng bộ và chính quyền
thành phố đã năng động, sáng tạo thực hiện các Nghị quyết, chính sách của
Đảng và Nhà nước và có các chính sách để xây dựng, phát triển thành phố
“đô thị loại một cấp quốc gia”. Trong đó có các chính sách về GD-ĐT đáp
ứng yêu cầu phát triển của thành phố.
Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã xác định:
“Đổi mới mạnh mẽ, phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực. Tăng cường đầu tư phát triển GD-ĐT theo quan điểm
“là quốc sách hàng đầu” để tiếp tục thực hiện toàn diện các mục tiêu: nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, xây dựng con người Hải Phòng phát triển toàn diện cả về thể
lực, trí lực, có tác phong công nghiệp, khoa học và có phẩm chất đạo đức, lối
sống trong sáng, lành mạnh”[44, tr.18].
Vai trò và thực trạng công tác GD-ĐT tạo trong bối cảnh chung của đất
nước và địa phương hiện nay đang rất cần có một cái nhìn, một hướng nghiên
cứu mới về thực hiện chính sách GD-ĐT. Từ hướng tiếp cận chính trị học về
3
quá trình thực hiện chính sách GD-ĐT của ngành GD&ĐT thành phố Hải
Phòng, tác giả chọn: “Thực hiện chính sách giáo dục - đào tạo ở Hải Phòng
hiện nay - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ
khác nhau được thể hiện dưới các hình thức như: đề tài khoa học; giáo trình;
bài báo; bài đăng tạp chí... Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu liên
công dưới góc độ chung nhất, bao gồm các vấn đề như: nhận thức về chính
sách công; hoạch định chính sách công; tổ chức thực thi chính sách công;
phân tích chính sách công.
2.2. Tiếp cận dưới góc độ chính sách giáo dục, tổng kết kinh nghiệm
thực hiện chính sách giáo dục- đào tạo
- Tiếp cận với góc độ này trong những năm gần đây, phải kể đến một
số công trình tiêu biểu: Phạm Tất Dong (1993), Giáo dục - đào tạo - nền tảng
của chiến lược con người, Tạp chí Cộng sản (3). Phạm Văn Đồng (1999), Về
giáo dục - đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trung tâm thông tin, Bộ
Giáo dục và Đào tạo (2000), Toàn cảnh giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Đình Hoà (2001), Mối quan hệ giữa giáo dục, đào
tạo và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Triết học (9). Phạm Minh Hạc
(2002), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội. Phạm Minh Hạc (2003),Về giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Lê Thị Ái Lâm (2003), Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Đặng Bá Lãm
(2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: chiến lược phát
triển, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Lê Văn Giạng (2003), Lịch sử giản lược hơn
1000 năm nền giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn
Hữu Châu (2007), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo
5
dục, Hà Nội.
- Đề tài “Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách
phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ” của “Quỹ Hoà
bình và phát triển” do bà Nguyễn Thị Bình nguyên Phó Chủ tịch nước làm
Chủ tịch. Các tác giả cho rằng, đây là công trình lớn của quốc gia, đề xuất
việc đầu tiên cần làm là lập Uỷ ban cải cách giáo dục, uỷ ban có nhiệm vụ
triển GD-ĐT với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Một số công trình đã phân tích, đánh giá được các mặt tích cực, hạn
chế trong quá trình phát triển GD-ĐT, chỉ ra nguyên nhân của những hạn
chế khi tiến hành phát triển GD-ĐT trong điều kiện phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số tác giả đã đưa ra những dự
báo về xu thế phát triển GD-ĐT ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; đưa ra những kiến nghị về nâng
cao chất lượng GD-ĐT.... Tuy nhiên, vẫn chưa có các công trình nghiên
cứu quá trình thực hiện chính sách GD-ĐT trên thực tế, đặc biệt việc thực
hiện chính sách đó ở một địa phương nhất định. Do đó, nghiên cứu về thực
hiện chính sách GD -ĐT ở Hải Phòng dưới góc độ chính trị học thì đây là
công trình nghiên cứu đầu tiên ở nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
- Nghiên cứu thực trạng quá trình thực hiện chính sách GD-ĐT ở Hải
Phòng trong giai đoạn 2000-2009.
- Đưa ra một số giải pháp về việc thực hiện hiệu quả chính sách GDĐT ở Hải Phòng đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới.
3.2. Nhiệm vụ
7
- Nghiên cứu việc thực hiện chính sách GD-ĐT từ góc độ lý luận.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách GD-ĐT ở Hải Phòng trong
giai đoạn từ năm 2000 đến 2009.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả chính sách GDĐT ở Hải Phòng giai đoạn 2010-2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình thực hiện chính sách GD-ĐT ở Hải Phòng trong khoảng thời
gian từ năm 2000 đến 2009.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
1.1.1. Cơ sở lý luận về chính sách công
Khoa học về chính sách công được nghiên cứu ở phương Tây từ những
năm 1940 của thế kỷ XX. Nhưng phải đến những năm 1980, chính sách công
mới phát triển nhanh chóng và được coi như một lĩnh vực nghiên cứu riêng
biệt với các lý thuyết và các cách tiếp cận của mình. Ở Việt Nam, chính sách
công mới được nghiên cứu vào những năm cuối của thập niên 1990 và những
năm đầu của thế kỷ XXI.
Định nghĩa về chính sách công là một trong những vấn đề gây nhiều
tranh luận trong nghiên cứu khoa học - thực tiễn của khoa học khoa học xã
hội, được tập trung ở hai nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm định nghĩa chính sách công với tư cách như là sản phẩm có
mục đích của nhà nước.
Thomas Dye quan niệm đặc trưng hoá chính sách công là “tất cả những
gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. B.Guy Peters lại có một định
nghĩa cụ thể hơn: “ Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước
một cách trực tiếp hay gián tiếp, đều có ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi
công dân”. James Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn cho khái niệm
chính sách, trong đó chính sách công chỉ là một nội hàm “chính sách là một
quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể
trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
mang bản chất xã hội - nhà nước. Nói đến chính sách công là nói đến sáu vấn
đề quan trọng sau đây:
(1). Chính sách công là sản phẩm của một quá trình thực thi quyền lực
chính trị.
(2). Quá trình hoạch định chính sách chủ yếu được diễn ra trong bộ
11
máy nhà nước.
(3). Quá trình hoạch định chính sách bao hàm sự trao đổi thông tin và
các nguồn lực, thảo luận, thương thuyết giữa và trong các thể chế nhà nước.
(4). Quá trình hoạch định chính sách cũng bao hàm sự tương tác với
các tổ chức bên ngoài nhà nước. Nội dung, sự khăng khít và thời gian của
những tương tác này cũng là những chủ đề quan trọng của việc nghiên cứu
chính sách công.
(5). Mục đích căn bản của chính sách công là hướng tới việc làm tăng
khả năng có thể xảy ra của một hiện tượng xã hội đang khao khát.
(6). Các thể chế nhà nước có quyền và trách nhiệm đối với các vấn đề
công cộng thường chính thống hoá các hoạt động của họ bằng cách tuyên bố
rằng, những chính sách của họ là vì lợi ích chung chứ không thiên vị một
nhóm, một khu vực, hoặc một cá nhân nào.
H.K.Colebatch, tác giả cuốn “Chính sách” (Policy) cho rằng, chính
sách thường có ba đặc trưng: sự chặt chẽ, tính thứ bậc và tính công cụ.
Sự chặt chẽ: là sự giả định rằng tất cả các phần nhỏ của hành động phù
hợp với nhau, chúng tạo thành bộ phận của một chỉnh thể có tổ chức, vượt hệ
thống duy nhất và chính sách liên quan đến hệ thống này được điều hành như
thế nào.
Tính thứ bậc: tiến trình chính sách là những người ở trên cùng đưa ra
các hướng dẫn. Chính sách được xem là quyết định có tính cưỡng chế về
những gì sẽ được làm trong lĩnh vực cụ thể nào đó.
giá chính sách hay phân tích tác động của chính sách và cuối cùng là những
phản hồi đối với các chính sách đang được áp dụng, từ đó có thể dẫn tới việc
xem xét lại hay chấm dứt chính sách công đó.
Như vậy, chính sách công là một chu trình khép kín. Quá trình hình
thành chính sách công trên thực tế là quá trình các chủ thể lợi ích đưa ra yêu
cầu của mình và các chủ thể chính sách căn cứ vào yêu cầu lợi ích của xã hội
để điều chỉnh các mối quan hệ lợi ích phức tạp ấy. Cụ thể các bước trong chu
14
trình như sau:
Bước 1: Xác lập nghị trình
Xác lập nghị trình thực chất là xác định vấn đề gì cần được quan tâm,
ra chính sách. Đó là các yếu tố đầu vào của hệ thống chính sách.
Một chính sách ra đời bao giờ cũng là sản phẩm đầu ra của cả một hệ
thống. ở tầm vĩ mô, đó là sản phẩm của hệ thống chính trị. Quá trình tạo ra
được “sản phẩm đầu ra” phải trải qua nhiều công đoạn. Trước hết, đó là phải
xác định được vấn đề của chính sách. Vấn đề của chính sách nằm ngay trong
các nhu cầu chính sách (hay còn gọi là nhu cầu chính trị). Các nhu cầu này
xuất phát từ lợi ích cá nhân, các nhóm xã hội, của các đảng chính trị, thậm chí
của các quốc gia cần được đáp ứng.
Trong thời điểm mà những vấn đề nêu trên trở thành bức xúc, trong khi
xã hội vẫn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến lợi ích của các nhóm dân cư, các
lực lượng chính trị, xã hội khác nhau thì làm sao có thể lựa chọn được vấn đề
đúng cho chính sách. Điều này liên quan đến yếu tố đầu vào thứ hai là thông
tin. Các thông tin đến được với các nhà khoa học từ các nguồn khác nhau: từ
truyền miệng, qua dư luận, thông qua những kiến nghị bằng văn bản qua hệ
thống chính quyền, thông qua truyền thông đại chúng, từ các kết quả nghiên
cứu khoa học, từ hoạt động vận động hành lang, và từ nguồn thu thập thông
tin chính thức của hệ thống các cơ quan hoạch định chính sách.
Các chính sách khi được thông qua đều phải được tổ chức triển khai.
Giai đoạn này bao gồm: ban hành các văn bản có tính pháp lý, quy định trách
nhiệm, quyền hạn cũng như việc thực thi các hành động và biện pháp cụ thể.
Để triển khai có hiệu quả chính sách, cần đảm bảo ba điều kiện tối thiểu:
- Cơ quan được giao nhiệm vụ các nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực
- Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền kỹ thuật chuyên môn để biến các
mục tiêu thành các chương trình hành động cụ thể thích hợp.
- Cơ quan này cũng phải chịu trách nhiệm về các hoạt động triển khai nó.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả tập trung vào vấn đề triển khai thực
16
hiện chính sách, cụ thể là việc thực hiện chính sách GD-ĐT ở thành phố Hải
Phòng trong giai đoạn 2000-2009.
Bước 4: Tổng kết đánh giá chính sách
Khâu quản lý chính sách có đạt được những mục tiêu đặt ra hay không
phải được thể hiện trong công đoạn tổng kết, đánh giá. Vì vậy, tổng kết để
đánh giá quá trình triển khai, hiệu quả triển khai và các tác động thực tế của
chính sách. Việc đánh giá chính sách được thực hiện trên một số khía cạnh
như: đánh giá chính trị, đánh giá kỹ thuật, đánh giá toàn diện, phân tích chi
phí lợi nhuận, phân tích từ góc độ thông tin, những hạn chế của chính sách,
những kinh nghiệm được rút ra để phục vụ cho việc đề xuất, soạn thảo những
chính sách mới phù hợp hơn.
1.1.2. Thực hiện chính sách giáo dục - đào tạo
Thực hiện chính sách GD-ĐT là một khâu quan trọng trong chu trình
chính sách công. Trong thực tiễn có nhiều loại chính sách khác nhau, xuất
phát từ tầm quan trọng của GD-ĐT, chính sách GD-ĐT là một trong những
chính sách quan trọng. Chính sách GD-ĐT nhằm phát triển GD-ĐT với tư
cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội và có tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia.
sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định. Chỉ khi nào
quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích
cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao. Tuỳ theo tính chất
chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo
chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho
nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ
xã hội, của tình trạng khoa học, kĩ thuật và văn hoá của đất nước. Khái
niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả các khái niệm đào tạo. Có nhiều
dạng đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào
tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa... [57].
Đào tạo là một dạng đặc thù của giáo dục nên quá trình đào tạo cũng
18
tuân theo những quy luật chung của giáo dục. Song, do những đặc điểm riêng
của đào tạo (mục tiêu, đối tượng, phương pháp) nên trong thực tế giáo dục
người ta thường tách riêng giáo dục, đào tạo.
Qua những nghiên cứu, phân tích khái niệm chính sách công; giáo dục
và đào tạo ở trên, tác giả luận văn cho rằng: Chính sách GD-ĐT là hệ thống
những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; các Bộ, ngành
trung ương và chính quyền địa phương về hoạt động GD-ĐT nhằm phát triển
và hoàn thiện công tác GD- ĐT với mục đích “nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài” trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Từ quan niệm về chính sách GD-ĐT như trên, theo tác giả, thực hiện
chính sách GD-ĐT là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên
thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm
hiện thực hoá các chính sách GĐ-ĐT đã đề ra.
Ở Việt Nam, chính sách quốc gia (trong đó có chính sách về GD-ĐT)
TỊCH QH
Bộ và cơ quan ngang bộ
Các ban của Đảng
Chủ tịch UBND tỉnh
UBND tỉnh
Bí thư tỉnh ủy
Tỉnh ủy
Sở
Các ban
Huyện
Xã
Huyện ủy
Đảng ủy xã
19
Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học,
Tập bài giảng Chính trị học, Hệ cử nhân chính trị, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Sơ đồ này chia theo hai trục: trục Nhà nước - Đảng, và trục Trung ương
- địa phương. Sơ đồ này chưa thể hiện được hết các đặc điểm của bộ máy
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.2.1. Nội dung của chính sách giáo dục - đào tạo
Trong luận văn này, tác giả xem xét các chính sách GD-ĐT Việt Nam
thực hiện bởi quyền lực nhà nước (và các đường lối, Nghị quyết của Đảng
được thể chế hoá thông qua quyền lực nhà nước) được quy định bởi Hiến
pháp, luật pháp và văn bản quy phạm pháp luật.
Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Hiến
pháp 1992 sửa đổi) thì phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước
và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề,
năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên
góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [49, tr.211].
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu,
21
chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi
cử và hệ thống văn bằng.
Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục gồm giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học;
thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; phát triển các hình thức trường
quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác.
Các đoàn thể nhân dân trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản hồ Chí
Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có
trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng [49, tr.211].
Về thẩm quyền hoạch định chính sách GD-ĐT, theo quy định của Luật
tổ chức Chính phủ thì Chính phủ quy định chính sách cụ thể về giáo dục để
UBND cấp tỉnh quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển giáo dục
ở địa phương; tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ HĐND cấp huyện quyết định các biện pháp và điều kiện cần thiết để
xây dựng mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn theo
quy hoạch chung.
UBND cấp huyện chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh về phát triển
giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn huyện. Xây dựng
các chương trình, đề án phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện, trình Hội
đồng nhân dân cùng cấp thông qua; tổ chức và chỉ đạo, kiểm tra việc thực
hiện các chương trình, đề án giáo dục đã được phê duyệt; đảm bảo các điều
kiện về ngân sách và biên chế giáo viên, cơ sở vật chất và kỹ thuật để thực
hiện theo quy định của pháp luật.
Phòng GD&ĐT có trách nhiệm giúp UBND cấp huyện thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện. Chủ trì xây dựng và
trình UBND cấp huyện các chương trình, đề án phát triển sự nghiệp giáo dục
của huyện; tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.