LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Tình,
người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong tổ bộ môn Tâm lí,
khoa Tâm lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Luận văn cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình của Phòng Sau đại học,
Thư viện Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, Văn phòng tỉnh ủy, Ủy ban nhân
dân tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La, Ban di dân tái định cư thủy điên
Sơn La, Ban chỉ đạo di dân tái định cư thủy điện Sơn La - huyện Mường La;
huyện ủy, Hội đồng dân dân, Ủy ban nhân dân, huyện Mường La, phòng Giáo
dục huyện Mường La đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn.
Trong quá trình thực hiện luận văn, do thời gian, nguồn lực tư liệu và
khả năng tiếp cận của bản thân còn hạn chế vì vậy không tránh khói những
hạn chế, thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để
luận văn được hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả
MỤC LỤC
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của hệ thống biện pháp........................81
Khảo nghiệm là phương pháp khảo sát để rút ra những nhận định về sự cần thiết và
tính khả thi của các biện pháp...........................................................................................81
3.3.1. Mục đích khảo nghiệm.............................................................................................81
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ trên địa bàn huyện
Mường La năm học 2014 -2015.........................................................................................46
giáo dục mầm non vùng tái định cư theo nghiên cứu đề tài.............................................81
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
CNH, HĐH
CNTT
GD&ĐT
GD-ĐT
GDMN
GDMNNVTĐC
HĐND
MNVTĐC
Nxb
UBND
XHCN
XHHGD
Xin đọc là
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghệ thông tin
Giáo dục và đào tạo
Giáo dục - Đào tạo
Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm nom vùng tái định cư
Hội đồng nhân dâm
Mầm non vùng tái định cư
Nhà xuất bản
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
1
hội nhập quốc tế. Mặc dù có những thành tựu, nền kinh tế nước ta vẫn là nền
kinh tế có mức thu nhập thấp. Các chỉ số về kết cấu hạ tầng, phát triển con
người vẫn ở mức thấp so với nhiều nước khu vực và trên thế giới. Thể chế
kinh tế thị trường định hướng XHCN còn nhiều hạn chế, vướng mắc, chưa
đồng bộ. Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế,
nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định
sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục mầm non càng có
vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Thực trạng sự nghiệp Giáo dục mầm non và
công tác xây dựng chiến lược giáo dục mầm non của nước ta đang đứng trước
những thuận lợi và khó khăn, bất cập trong việc hoạch định thực hiện các
chính sách. Tháo gỡ và đổi mới giáo dục mầm non như mục tiêu đặt ra phải
quan tâm đến xây dựng hệ thống chính sách.
Vai trò và thực trạng công tác giáo dục Mầm non trong bối cảnh chung
của đất nước và địa phương hiện nay đang rất cần có một cái nhìn, một hướng
nghiên cứu mới về thực hiện chính sách giáo dục Mầm non. Từ hướng tiếp
cận giáo dục và phát triển cộng đồng về quá trình thực hiện chính sách giáo
dục Mầm non của tỉnh và của huyện Mường La, tác giả chọn: “Thực hiện
chính sách giáo dục mầm non ở vùng tái định cư huyện Mường La, tỉnh
Sơn La” làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục và phát triển
cộng đồng.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về thực hiện chính sách giáo
dục mầm non ở vùng tái định cư huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Đề tài đề xuất một số biện pháp thực hiện hiệu quả chính sách giáo dục
Mầm non ở vùng tái định cư huyện Mường La, tỉnh Sơn La, giúp cho con em
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
Luận văn xây dựng phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về:
3
- Thực trạng phát triển chính sách giáo dục mầm nòn cho học sinh và giáo
viên mầm non ở các trường mầm non vùng tái định cư ở huyện Mường La;
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Luận văn thực hiện phỏng vấn nhằm thu thập thông tin về nhận thức,
nguyện vọng của các giáo viên, cán bộ quản lý về phát triển chính sách giáo
dục mầm non trong dạy học ở huyện Mường La. Đồng thời bổ sung, kiểm tra
và làm rõ những thông tin đã thu thập được thông qua điều tra bằng phiếu hỏi.
7.2.3. Phương pháp quan sát
Quan sát các hình thức biểu hiện hoạt động trong trường mầm non
nhằm thu thập thông tin về chính sách giáo dục mầm non ở vùng tái định cư
của huyện Mường La.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Trực tiếp (với một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi) trao
đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu với các chuyên gia trong
lĩnh vực
7.2.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Luận văn xem xét lại những kết quả thực tiễn chính sách giáo dục mầm
non ở vùng tái định cư huyện Mường La cũng như ở nơi khác. Từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm, những kết luận khoa học bổ ích, những ưu điểm
cần học hỏi và phát triển; làm cơ sở để đề xuất các biện pháp phát triển giáo
dục mầm non ở vùng tái định cư huyện Mường La.
7.2.6. Phương pháp khảo nghiệm
Tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất để khẳng định tính
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tiếp cận dưới góc độ lý thuyết chính sách công
- Hồ Văn Thông (Chủ biên, 1999), Tìm hiểu về khoa học chính sách
công, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đây là công trình nghiên cứu tương đối
có hệ thống các vấn đề về chính sách công dưới góc độ lý thuyết như: khái
niệm về chính sách công và khoa học chính sách công; phân tích chính sách
công trong thực tế; những khuynh hướng phát triển cơ bản của chính sách
công, công trình là tài liệu tham khảo quan trọng của luận văn.
- Đoàn Thu Hà, Nguyễn Ngọc Huyền (Chủ biên, 2000), Giáo trình
Chính sách Kinh tế xã hội, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. Công trình đã đề
cập đến vấn đề nghiên cứu trên các khía cạnh như: các công cụ quản lý kinh
tế - xã hội; hoạch định và chính sách kinh tế - xã hội; tổ chức thực thi chính
sách kinh tế - xã hội; phân tích chính sách...
- Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), Chính sách công: Cơ
sở lý luận, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội. Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về
chính sách công như: lý thuyết chính sách công; các công cụ nghiên cứu
chính sách công; các cách tiếp cận khi nghiên cứu chính sách công.
- Chu Văn Thành (Chủ biên, 2004) Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ
công, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Cuốn sách là tập hợp các bài viết về dịch vụ công, trong đó có giáo dục với tư
cách là những dịch vụ công chủ yếu mà Nhà nước có nghĩa vụ cung cấp.
Trong cuốn sách này, vấn đề nghiên cứu được đề cập đến dưới góc độ vĩ mô,
mang tầm quốc gia, đó là việc hoạch định và thực thi chính sách giáo dục
dưới góc độ chung.
hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ” của “Quỹ Hoà
bình và phát triển” do bà Nguyễn Thị Bình nguyên Phó Chủ tịch nước làm
7
Chủ tịch. Các tác giả cho rằng, đây là công trình lớn của quốc gia, đề xuất
việc đầu tiên cần làm là lập Uỷ ban cải cách giáo dục, uỷ ban có nhiệm vụ
soạn thảo chiến lược giáo dục và phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 với
tầm nhìn 2030 và xa hơn.
- Đề tài “Tác động của các chính sách đổi mới giáo dục đại học đối với
sự phát triển quy mô của hệ thống giáo dục đại học” của TS Trần Văn Hùng Viện Chiến lược và chương trình giáo dục làm chủ nhiệm. Mục tiêu nghiên
cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng về sự tác động của các chính sách đổi
mới giáo dục đại học đối với sự phát triển quy mô của hệ thống giáo dục đại
học Việt Nam trong giai đoạn vừa qua ở nước ta và đề xuất những định hướng
cho việc xây dựng chính sách phát triển giáo dục đại học đến năm 2010.
- Đề án “Cải cách giáo dục Việt Nam - phân tích và đề nghị” của nhóm
nghiên cứu giáo dục Việt Nam (người Việt ở nước ngoài và trong nước) đã
xem xét một cách tương đối toàn diện tính hợp lý của chiến lược thị trường
hoá nền giáo dục Việt Nam (ở nước ta được gọi bằng “xã hội hoá”), phân tích
và rút ra những vấn đề rất hữu ích cho giáo dục Việt Nam: Mục tiêu của giáo
dục và trách nhiệm xã hội; giáo dục và vấn đề ngân sách nhà nước; kế hoạch
cho hệ thống giáo dục.
Ngoài ra, cũng có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ viết về chính
sách thuộc chuyên ngành khác nhau liên quan đến GD-ĐT được bảo vệ ở Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, như:
- Nguyễn Thị Tứ (1993), Một số vấn đề chủ yếu của chính sách giáo
cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách mang
thuộc tính đường lối.
Chính sách là quyết định rõ ràng hoặc ngầm định hoặc nhóm quyết
định có thể tạo ra các định hướng cho việc hướng dẫn các quyết định trong
9
tương lai, hoặc bắt đầu, giữ vững, hoặc làm chậm hành động, hoặc hướng dẫn
việc triển khai các quyết định có trước
Chính sách là tất cả các quyết định hiện hành của cơ quan quản lý, dựa
vào đó để điều hành, kiểm tra, phục vụ và tác động đến mọi việc trong phạm
vi quyền lực của mình.
Các tác giả của Tập bài giảng Chính trị học của Viện Chính trị học,
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính sách
là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền
lực công cộng” [54, tr. 257].
Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải trong “Giáo trình Hoạch định và phân
tích chính sách công" thì, “Chính sách là những hành động ứng xử của Nhà
nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng
nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [18, tr.14].
Trong thang bậc của hệ thống quyền lực nhà nước, mọi cấp chính
quyền đều có thể có những chính sách trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền của
mình. Với nghĩa này người ta có thể chia chính sách công ra thành hai loại:
chính sách quốc gia (áp dụng cho toàn bộ đất nước) và chính sách địa phương
(cấp tỉnh, cấp huyện, và cấp xã).
Cho dù có thể có những cách hiểu khác nhau, song nhìn chung, một
cách cô đọng nhất có thể xem chính sách là chương trình hành động của nhà
nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể. Hoặc chính sách là tập hợp các văn
bản, được quyết định bởi chủ thể nắm quyền lực nhà nước, nhằm quy định
mô. Để giải quyết tốt vấn đề cần có chính sách hợp lý và khoa học.
Chính sách giáo dục là hệ thống những quan điểm, đường lối của
Đảng, Nhà nước; các Bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương về
hoạt động GD&ĐT nhằm phát triển và hoàn thiện công tác GD&ĐT với mục
đích “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính sách giáo dục là chủ trương,
biện pháp của đảng và nhà nước nhằm bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất
năng lực cho mỗi người dân (cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khỏe và
nghề nghiệp)
11
Chính sách giáo dục là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà
nước nhằm cụ thể hoá đường lối của đảng tác động đến lĩnh vực giáo dục,
nhằm đạt được mục tiêu giáo dục trong mỗi thời kỳ khác nhau.
Chính sách giáo dục là hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng,
Nhà nước; các Bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương về hoạt động
GD&ĐT nhằm phát triển và hoàn thiện công tác GD&ĐT với mục đích “nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính sách giáo dục là chủ trương, biện pháp của
đảng và nhà nước nhằm bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất năng lực cho mỗi
người dân (cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khỏe và nghề nghiệp)
1.2.3. Chính sách giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non là một bậc học nhằm hình thành ở trẻ em trước tuổi
đến trường phổ thông (trước 6 tuổi) cơ sở ban đầu của nhân cách con người
mới ở Việt Nam. Ở đây giáo dục mầm non được coi là một bậc (cấp) học như
các bậc học khác (giáo dục phổ thông, giáo dục đại học...) trong hệ thống giáo
dục quốc dân
hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan
trọng, quyết định sự thành công trong quá trình phát triển đất nước. Giáo dục
ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong voi.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân.
Tầm quan trọng của giáo dục mầm non ở chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc
giáo dục lâu dài nhằm hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Chính vì vậy,
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 khóa VIII đặt ra mục tiêu đến
năm 2020 phải “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu
hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức dạy trẻ cho các gia đình”.
Các loại hình giáo dục mầm non hiện nay
Hiện nay, nước ta có những loại hình giáo dục mầm non sau:
- Nhà trẻ trường mẫu giáo
- Nhà trẻ trường mẫu giáo hợp nhất
13
- Các loại hình giáo dục mầm non khác:
+ Nhà trẻ thu nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi
+ Trường mẫu giáo thu nhận trẻ từ 36 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi
+ Khác: Lớp mẫu giáo năm tuổi dành cho trẻ em năm tuổi mà chưa qua
lớp mẫu giáo nhỏ. Nhóm trẻ gia đình, đây là nhóm trẻ dưới 6 tuổi được chăm
sóc và dạy dỗ tại gia đình
Nhà nước coi giáo dục mầm non là một bậc học cần thiết và bắt buộc
phải có trong hệ thống giáo dục. Từ chỉ thị 53/CP của Hội đồng Bộ trưởng
ngày 12/8/1966 đã xác định mục tiêu của giáo dục mầm non. Giáo dục mầm
non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt.Các nghị quyết gần đây nhất của
đảng về nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo đều coi giáo dục mầm
non là tiền đề cho một nền giáo dục, là điểm khởi đầu để hình thành nhân
cách con người.Giáo dục mầm non là mốc thang đầu tiên mở đầu cho cả một
- Chính sách GD mầm non vùng tái định cư
Chính sách giáo dục m ầ m n o n là hệ thống những quan điểm,
đường lối của Đảng, Nhà nước; các Bộ, ngành trung ương và chính quyền địa
phương về giáo dục mầm non nhằm phát triển và hoàn thiện công tác giáo dục
mầm non đáp ứng mục tiêu giáo dục mầm non trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chính sách giáo dục mầm non vùng tái định cư là là hệ thống những
quan điểm, đường lối, cách thức, biện pháp của Đảng, Nhà nước; các Bộ,
ngành trung ương và chính quyền địa phương về giáo dục mầm non ở vùng
tái định cư, nhằm phát triển và hoàn thiện công tác giáo dục mầm non đạt
được mục tiêu trong mỗi thời kỳ khác nhau, giúp con em người dân tái định
cư sớm ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.
1.2.4.2. Nội dung của chính sách giáo dục Mầm non
Trong luận văn này, tác giả xem xét các chính sách giáo dục Việt Nam
thực hiện bởi quyền lực nhà nước được quy định bởi Hiến pháp, luật pháp và
văn bản quy phạm pháp luật.
15
Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (Hiến pháp 1992 sửa đổi) thì phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao
động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có
ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng được yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ bổ quốc.
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu,
chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi
ở địa phương.
UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm về phát triển sự nghiệp giáo dục của
tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo trên địa bàn
tỉnh. Cụ thể, UBND tỉnh chịu trách nhiệm trong việc xây dựng quy hoạch, kế
hoạch, chương trình, dự án phát triển giáo dục – đào tạo trên địa bàn tỉnh trình
HĐND cấp tỉnh thông qua hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Sở GD và ĐT có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về giáo dục trong phạm vi toàn tỉnh. Xây dựng và trình
UBND cấp tỉnh quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển giáo dục
ở địa phương, tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt
HĐND cấp huyện quyết định các biện pháp và điều kiện cần thiết để
xây dựng mạng lưới giáo dục mầm non trên địa bàn theo quy hoạch chung
UBND cấp huyện chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh về phát triển
giáo dục mầm non. Xây dựng các chương trình, đề án phát triển sự nghiệp
giáo dục của huyện, trình HĐND cùng cấp thông qua; tổ chức và chỉ đạo,
kiểm tra việc thực hiện các chương trình, đề án giáo dục đã được phê duyệt;
đảm bảo các điều kiện về ngân sách và biên chế giáo viên, cơ sở vật chất và
kỹ thuật để thực hiện theo quy định của pháp luật.
17
Phòng Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm giúp UBND cấp huyện thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện. Chủ trì xây
dựng và trình UBND cấp huyện các chương trình, đề án phát triển sự nghiệp giáo
dục của huyện, tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
HĐND cấp xã quyết định biện pháp bảo đảm các điều kiện cần thiết để
trẻ em vào học tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập tiểu
học; tổ chức các trường mầm non, thực hiện bổ túc văn hóa và xóa mù chữ
cho những người trong độ tuổi. UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý
(3) Triển khai thực hiện chính sách (4) Tổng kết, đánh giá chính sách
hay phân tích tác động của chính sách và cuối cùng là những phản hồi đối với
các chính sách đang được áp dụng, từ đó có thể dẫn tới việc xem xét lại hay
chấm dứt chính sách công đó.
Như vậy, chính sách là một chu trình khép kín. Quá trình hình thành
chính sách trên thực tế là quá trình các chủ thể lợi ích đưa ra yêu cầu của
mình và các chủ thể chính sách căn cứ vào yêu cầu lợi ích của xã hội để điều
chỉnh các mối quan hệ lợi ích phức tạp ấy. Cụ thể các bước trong chu trình
như sau:
Bước 1: Xác lập nghị trình
Xác lập nghị trình thực chất là xác định vấn đề gì cần được quan tâm,
ra chính sách. Đó là các yếu tố đầu vào của hệ thống chính sách.
Một chính sách ra đời bao giờ cũng là sản phẩm đầu ra của cả một hệ
thống. ở tầm vĩ mô, đó là sản phẩm của hệ thống chính trị. Quá trình tạo ra
được “sản phẩm đầu ra” phải trải qua nhiều công đoạn. Trước hết, đó là phải
xác định được vấn đề của chính sách. Vấn đề của chính sách nằm ngay trong
các nhu cầu chính sách (hay còn gọi là nhu cầu chính trị). Các nhu cầu này
xuất phát từ lợi ích cá nhân, các nhóm xã hội, của các đảng chính trị, thậm chí
của các quốc gia cần được đáp ứng.
Trong thời điểm mà những vấn đề nêu trên trở thành bức xúc, trong khi
xã hội vẫn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến lợi ích của các nhóm dân cư, các
19
lực lượng chính trị, xã hội khác nhau thì làm sao có thể lựa chọn được vấn đề
đúng cho chính sách. Điều này liên quan đến yếu tố đầu vào thứ hai là thông
tin. Các thông tin đến được với các nhà khoa học từ các nguồn khác nhau: từ
truyền miệng, qua dư luận, thông qua những kiến nghị bằng văn bản qua hệ
thống chính quyền, thông qua truyền thông đại chúng, từ các kết quả nghiên