Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi sống trong trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh vĩnh phúc hiện nay ( nghiên cứu trường hợp tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh vĩnh phúc) - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-----------------------

NGUYỄN THIÊN THANH

NÂNG CAO KỸ NĂNG HÕA NHẬP CỘNG ĐỒNG
CHO TRẺ EM MỒ CÔI SỐNG TRONG TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÖC HIỆN NAY

“Nghiên cứu trƣờng hợp tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc”

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-----------------------

NGUYỄN THIÊN THANH

NÂNG CAO KỸ NĂNG HÕA NHẬP CỘNG ĐỒNG
CHO TRẺ EM MỒ CÔI SỐNG TRONG TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÖC HIỆN NAY

“Nghiên cứu trƣờng hợp tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc”
Chuyên ngành: Công tác xã hội

1.2.3. Trẻ em mồ côi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay………………….......46
CHƢƠNG II:
TRẺ EM MỒ CÔI SỐNG TRONG TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH
VĨNH PHÖC VÀ KHẢ NĂNG HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG.
2.1. Thực trạng hoà nhập cộng đồng của trẻ mồ côi hiện đang sống trong Trung
tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay………………………..………….47
2.1.1. Hòa nhập của trẻ mồ côi trong hoạt động học tập. .................................... .......48
1


2.1.2. Hòa nhập của trẻ mồ côi trong hoạt động vui chơi giải trí……………………50
2.1.3. Hòa nhập của trẻ mồ côi trong hoạt động giao tiếp xã hội……………….53
2.2. Những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng khó khăn trong quá trình
hoà nhập cộng đồng của trẻ mồ côi sống trong Trung tâm
2.2.1. Nguyên nhân từ chính bản thân trẻ……………………………………….55
2.2.1.1. Tâm lý mặc cảm, tự ti về bản thân và gia đình……………………….......55
2.2.1.2. Những hạn chế về trình độ học vấn và nghề nghiệp của bản thân.……....56
2.2.1.3. Ngại tiếp xúc với mọi người xung quanh.…………………………………57
2.2.2. Nguyên nhân từ phía Trung tâm.……………………………………........58
2.2.2.1. Việc tổ chức các hoạt động giao tiếp xã hội cho trẻ còn hạn chế….……58
2.2.2.2. Công tác hướng nghiệp và dạy nghề cho trẻ chưa được quan tâm ..........59
2.2.2.3. Cán bộ chăm sóc trẻ không có nhiều kiến thức về công tác xã hội…………60
2.3. Vai trò của nhân viên xã hội trong việc nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng
đồng cho trẻ mồ côi sống trong Trung tâm…………………………………….60
2.3.1. Vai trò người giáo dục……………………………………………………...62
2.3.2. Vai trò người tổ chức, quản lý………………………………………………63
2.3.3. Vai trò người kết nối………………………………………………………..65
2.3.4. Vai trò người biện hộ……………………………………………………….67
2.4. Các giải pháp nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng của trẻ mồ côi sống tại
Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay……………………….….68

CNH-HĐH : Công nhiệp hoá- hiện đại hoá.
TTBTXH: Trung tâm bảo trợ xã hội

4


PHẦN I - MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” không chỉ là lời của những bài hát nổi
tiếng mà còn là một thực tế tất yếu. Trẻ em là nguồn hạnh phúc, niềm hy vọng của
người cha người mẹ và là tương lai của dân tộc. Một dân tộc để vững bước đi lên ở cả
hiện tại cũng như tương lai thì thế hệ trẻ giữ một vai trò cực kỳ quan trọng bởi những
mầm non đó đang hàng ngày tiếp bước truyền thống tốt đẹp của cha anh đi trước
đồng thời cũng không ngừng học tập sáng tạo tu dưỡng rèn luyện về mọi mặt để trở
thành những con người vừa có đức vừa có tài nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh
như mong muốn của Bác Hồ kính yêu hàng mong ước cũng như mong muốn của
hàng triệu người khác. Trẻ em sinh ra trong thế giới này đều có quyền mà Công ước
Quốc tế đã ghi nhận và cũng được pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Thực hiên
các quyền của trẻ cũng chính là trách nhiệm nghĩa vụ của Đảng nhà nước của mỗi gia
đình và của toàn xã hội.
Trong công cuộc CNH-HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành
tựu đạt được, Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề xã hội như: sự phân hoá
giàu nghèo, vấn đề việc làm các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng..... làm
ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân nhất là đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó đối tượng đầu tiên chịu tác động là trẻ em mồ côi.
Trẻ mồ côi là một hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả quốc gia trên thế giới, là
nhóm trẻ đặc thù của công tác xã hội, là nhóm trẻ dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt
thòi; trẻ mồ côi ít có cơ hội để phát triển và hoàn thiện nhân cách cũng như hoà nhập
với cộng đồng. Hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chăm sóc và có nhiều

Trung tâm vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Qua thực tế tiếp xúc trực
tiếp thấy rằng, trẻ mồ côi sống tại đây vẫn còn một số biểu hiện như mặc cảm, nhút
nhát, giao tiếp kém, thiếu niềm tin vào bản thân và người khác. Vấn đề dặt ra cho
Trung tâm lúc này là cần phải làm tốt công tác giáo dục kỹ năng hòa nhập cộng đồng
cho trẻ mồ côi nhằm giúp cho các em có được cuộc sống tốt hơn sau khi ra khỏi
6


Trung tâm hòa nhập với cộng đồng. Với lý do như vậy mà tôi đã mạnh dạn lựa chọn
đề tài: “ Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi sống trong
Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”.
Đề tài này mang đến cái nhìn chính xác hơn về khả năng hòa nhập cộng đồng
của trẻ mồ côi ở TTBTXH tỉnh VP. Đồng thời cũng qua luận văn này này chúng tôi
mạnh dạn đưa ra góc nhìn mới về trẻ em mồ côi dưới con mắt của nhân viên công tác
xã hội, cũng như vận dụng những kỹ năng, phương pháp của CTXH khi làm việc với
đối tượng này.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng là mối quan tâm
lớn của Đảng, nhà nước và nhân dân ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và
chiến lược phát triển con người. Mối quan tâm này được thể hiện Việt Nam là nước
đầu tiên ở Châu á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ
em vào ngày 20/02/1990, Nhà nước đã công bố luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, đã thông qua và đưa Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 1991 - 2000 và
Chương trình hành động vì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn giai đoạn 1999 –
2002; Quyết định số 65/ 2005/ QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
để án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật
nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học và trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS dựa
vào cộng đồng giai đoạn 2005 - 2010”. [40]
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách
nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội và công dân. Trẻ em không phân biệt gái, trai,

trên cơ sở quyền trẻ em hiện nay. Theo đó, cách tiếp cận truyền thống là tiếp cận
dưới góc độ trẻ em là đối tượng cần được hỗ trợ và bảo vệ từ trên xuống mang nặng
tính từ thiện, bao cấp, còn tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em nhìn nhận trẻ em là chủ
thể của quyền, có quyền được chăm sóc, bảo vệ. Trước bối cảnh số lượng trẻ em đặc
biệt cần được bảo vệ ngày càng gia tăng trong khi các hình thức chăm sóc tập trung
đã và đang vượt quá nhu cầu đầu vào thì hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em dựa vào
cộng đồng ngày càng trở lên phù hợp hơn. Tác giả đã rất cố gắng khi chỉ ra những bất
8


cập, trở ngại trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng
đồng song vẫn chưa chú trọng đến các giải pháp để khắc phục những hạn chế, bất cập
đó.
“Tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình
với nhau và với trẻ tới sức khỏe của trẻ em trong các gia đình Việt Nam hiện nay”
của tác giả Mai Thị Kim Thanh đăng trên Kỉ yếu Hội nghị Khoa học nữ Đại học
Quốc gia Hà Nội lần thứ 6 năm 2001. Tác giả đã nhận định mức độ tâm sự của những
người thân trong gia đình đối với trẻ em được thể hiện như sau: tâm sự giữa bố, mẹ
với con chiếm 46,2%, ông bà với cháu chiếm 24,8%, mẹ với con chiếm 24,7%, ít tâm
sự chiếm 8,0%, anh chị em với nhau chiếm 5,8%, bố với con chiếm 4,6% và không
tâm sự chiếm 4,5%. Tỷ lệ tâm sự giữa bố, mẹ, ông, bà với con cái càng thấp thì càng
ảnh hưởng đến sức khỏe con cái, đặc biệt là sức khỏe tinh thần. [5, 51]
“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện năm
2010. Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ em
dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không
phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình hình trẻ
em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu
và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam. Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc của
bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp. Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập
có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà,

phần hạn chế và giải quyết các vấn đề của trẻ em.
Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của tác giả
Nguyễn Hải Hữu cho thấy thực tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng Kông, việc hình
thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và
chính sách hiện hành. Một trong những điểm mới trong bài viết là khái niệm “tư pháp
thân thiện với trẻ em”.Khi trẻ em vi phạm pháp luật thì áp dụng các hình thức điều
tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho trẻ em đặc biệt là
trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại.

10


“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các
dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc
Phương nhận định tại Anh , Mĩ, Úc, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,
Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ
quan nhà nước. Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng tham
vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội và quản
lý việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội đa dạng khác nhau. Dịch vụ xã hội cũng có thể
bao gồm việc xem xét các nhu cầu phát triển của trẻ em , gia điǹ h, cộng đồng và lồng
ghép với sự tham gia của cộng đồng.
Dưới góc độ tâm lý, tác giả Văn Thị Kim Cúc qua công trình “Tổn thương tâm
lý của trẻ 10-15 tuổi do ly hôn của bố mẹ” đã tập trung nghiên cứu các tổn thương
tâm lý của trẻ thơ trong các gia đình do bố mẹ ly hôn. Các tổn thương này, theo tác
giả, là “các vết bầm của tâm hồn” và dù chỉ là những vết bầm, vết xước nhưng cùng
với những hoàn cảnh, những ký ức trẻ có trước và sau ly hôn sẽ có những tác động
tiêu cực suốt theo chiều dài cuộc đời của đứa trẻ. Các tác động tiêu cực này thể hiện
trong nhận thức, hành vi, năng lực ứng xử, xu hướng hành động, mối quan hệ của trẻ
với người khác và với xã hội. Các tác động này không hiện nguyên hình dưới dạng
hậu quả “hai năm rõ mười” của ly hôn, mà ngụy trang dưới các mặc cảm, các hình

đặc biệt” đã tổng quan tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và những chính sách
của Nhà nước vận dụng trong những năm qua. Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, thúc đẩy thực hiện mục tiêu vì trẻ em, đảm bảo các
quyền cơ bản cho trẻ em theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và luật pháp Việt
Nam, tác giả đã đưa ra bảy giải pháp về cần tập trung thực hiện trong thời gian tới.
Bảy giải pháp mà tác giả đưa ra đã bao trùm hầu hết những vấn đề tồn tại cơ bản
trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam.
“Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với các lớp học linh hoạt” là bài viết của tác
giả Trần Thị Minh Đức giới thiệu mô hình lớp học linh hoạt phù hợp với các em có
hoàn cảnh đặc biệt không thể đến trường học văn hóa hay học nghề dẫn tới chậm
phát triển về trí tuệ và có nguy cơ cao lây nhiễm các tệ nạn xã hội. Các em trong lớp
12


học linh hoạt thuộc những gia đình nghèo hoặc có bố mẹ nghiện hút, buôn bán ma
tuý, đánh bạc, bị tù v.v... hoặc các em là trẻ mồ côi được ở trong các Mái ấm, Nhà
tình thương của cộng động. Tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu là quan
sát, quan sát có sự tham gia, phỏng vấn trẻ, giáo viên, tư vấn viên và cha mẹ trẻ đề
giới thiệu một hình thức giáo dục không chính quy, không mang tính hàn lâm sư
phạm cho đối tượng học. Vấn đề tác giả đặt ra là triển vọng của các lớp học linh hoạt
ở Hà Nội sẽ ra sao nếu các nguồn tài trợ không còn để duy trì để trả lương cho giáo
viên, miễn phí sách vở, khám chữa bệnh, thậm chí cả bữa ăn cho các em. Đây là một
trong những khó khăn lớn khi triển khai mô hình lớp học linh hoạt trên diện rộng ở
Hà Nội.
“Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ
trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” là đánh giá của Vụ Pháp
chế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Đánh giá tập trung đến pháp luật đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sách với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu
hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bước hài hoà với pháp luật và các

cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ ít biết đến Quyết định 38 của Thủ tướng Chính phủ, đặc
biệt là ở cấp huyện và cấp xã có những trẻ em và gia đình thuộc đối tượng thụ hưởng
của Quyết định 38. Nghiên cứu nhận thấy mô hình chăm sóc nhận nuôi là mô hình
phù hợp để thí điểm ở các khu vực thành phố/đô thị, nơi được biết có số lượng trẻ em
bị bỏ rơi cao hơn và có nhiều gia đình có điều kiện tài chính cũng như kỹ năng chăm
sóc trẻ. [40]
Từ những công trình nghiên cứu, những đánh giá, bài viết kể trên có thể nhận
thấy, các tác giả đã tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số nội dung như quyền
trẻ em, môi trường bảo vệ trẻ, sự hiểu biết về quyền trẻ em, mô hình chăm sóc, bảo
vệ trẻ em (chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng, nuôi con nuôi, lớp học linh hoạt…).
Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em, pháp luật dân sự được nhiều tác giả đề cập tới
nhằm làm nổi bật vị trí, vai trò của trẻ em trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.

14


Các phương pháp chủ yếu được vận dụng trong quá trình nghiên cứu là điều tra, khảo
sát, nghiên cứu có sự tham gia.
Quá tình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài tác giả
nhận thấy trẻ em mồ côi là nhóm đối tượng đã được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên
cứu, chuyên gia quan tâm tìm hiểu, phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau.
Tuy vậy, tiếp cận từ góc nhìn công tác xã hội với việc nâng cao kỹ năng hòa nhập
cộng đồng cho trẻ mồ côi ở Trung tâm bảo trợ xã hội thì hầu như chưa có công trình
nghiên cứu chính thức nào đề cập tới. Đây là một trong những lý do chính để chúng
tôi thực hiện nghiên cứu về vấn đề này.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu và những trang bị kiến thức về công tác
xã hội, chúng tôi chọn đề tài“ Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em
mồ côi sống trong Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”.
3. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa lý luận

5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi khảo sát: Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2010
đến nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của
Việt Nam thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [35].Tuy nhiên, trong
khuôn khổ của luận văn thạc sỹ này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu việc nâng cao
kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em môi côi trong độ tuổi từ 8 đến 16 tuổi. Bởi vì
theo tác giả, ở tuổi này trẻ mồ côi thường hình thành một số đặc điểm tâm lý mang
tính tiêu cực như mặc cảm, nhút nhát, giao tiếp kém, thiếu niềm tin vào bản thân và
người khác, không nhanh nhạy, quyết đoán…., trẻ hay nói tục, đánh nhau, thiếu ý
thức làm chủ cuộc đời mình và dể bị bạn bè xấu lôi kéo. Vì vậy, đây là lứa tuổi cần
được trang bị kỹ năng sống giúp các em có tư tưởng ổn định, tâm lý phát triển lành
mạnh, có niềm tin vào bản thân mình.
6. Câu hỏi nghiên cứu
16


- Điều kiện và môi trường sống tại Trung tâm có đáp ứng được nhu cầu tham
gia hòa nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi hay không?
- Khả năng hòa nhập trong cộng đồng của trẻ em đã và đang sống trong Trung
tâm ra sao? Đâu là nhân tố chính khiến trẻ gặp khó khăn khi hòa nhập cộng đồng?
- Cần làm gì và làm như thế nào để nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng cho
trẻ em mồ côi đang sống tại Trung tâm?
7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
7.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào tìm hiểu thực trạng và phân tích những yếu tố tác động đến
khả năng hoà nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi sống tại Trung tâm, từ đó đưa ra
những biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ
côi ở Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó, đề tài giúp cho nhân

chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp luận nghiên cứu. Theo chủ nghĩa duy vật
lịch sử tất cả mọi hiện tượng nảy sinh trong xã hội đều có quá trình phát sinh, phát
triển, sự phát triển của nó trong các thời kỳ khác nhau, dưới các hình thức kinh tế - xã
hội khác nhau sẽ có sự biến đổi khác nhau. Việc sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử là
đặt các hiện tượng xã hội, các quá trình xã hội trong hoàn cảnh lịch sử của đời sống
xã hội. Dựa trên quan điểm đó có thể thấy nghiên cứu về trẻ em mồ côi cần phải đặt
nó trong điều kịên cụ thể về tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của TTBTXHTVP
cũng như trong điều kịên chung của cả nước. Trong mỗi điều kiện này thì vấn đề về
trẻ em mồ côi sẽ có những biến đổi khác với các hình thức khác nhau sao cho phù
hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, phù hợp vơi các nhu cầu cũng như những
khó khăn của trẻ em mồ côi tại Trung tâm.
Trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội sẽ có các yếu tố khác nhau tác
động đến khả năng hoà nhập của các em. Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự kiện xã hội này trong mối liên hệ với các sự
kiện xã hội khác. Không được tách riêng việc thực hiện quyền trẻ em ra khỏi sự vận
hành của đời sống xã hội, mà phải đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với kinh tế,

18


chính trị, văn hoá, xã hội và đặc biệt với các vấn đề xã hội khác như: Lạm dụng trẻ
em, xâm hại trẻ em, ngược đãi trẻ em…
Tiếp cận theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin tức là trong bối cảnh thực tế
tại TTBTXH phải xem xét việc thực hiện công tác hoà nhập cho trẻ em mồ côi trong
tình hình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, sự biến đổi của nền kinh tế - văn
hoá - xã hội đã có những tác động như thế nào trong quá trình hoà nhập của trẻ em
mồ côi.
9.2. Phương pháp nghiên cứu
9.2.1. Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi


THPT

10

- Nội dung bảng hỏi dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như: Thực trạng
hòa nhập; những khó khăn, trở ngại trong quá trình hòa nhập cộng đồng; cần làm gì
để các em ở đây được hòa nhập tốt hơn với môi trường xã hội ở ngoài Trung tâm...
19


+ Phương pháp phỏng vấn sâu
- Đối tượng: Cán bộ quản lý, nhân viên chăm sóc và trẻ em sống tại Trung tâm
bảo trợ.
- Dung lượng mẫu: 15 mẫu
- Cơ cấu mẫu: Cán bộ quản lý (02), nhân viên chăm sóc (03), đối tượng (05).
Giáo viên (02). Học sinh học cùng lớp (03)
- Nội dung phỏng vấn sâu dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như: Thực
trạng hòa nhập; những khó khăn, trở ngại trong quá trình hòa nhập cộng đồng; cần
làm gì để các em ở đây được hòa nhập tốt hơn với môi trường xã hội ở ngoài Trung
tâm...
+ Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu sử dụng tư liệu từ các công trình sau:
- Các báo cáo: Báo cáo tóm tắt phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010,
báo cáo hoạt động của một số mô hình bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ
rơi: trung tâm, làng trẻ, mái ấm tình thương, gia đình thay thế…, báo cáo hoạt động
chăm sóc, bảo vệ trẻ em ở Vĩnh Phúc, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc, nuôi
dưỡng trẻ em của Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh VP.
- Các kế hoạch: Kế hoạch số 912/KH-UBND ngày 29/3/2011 triển khai thực
hiện Nghị quyết 34/2010/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về Chương trình hành động vì

nhằm mục đích quan sát và đánh giá mức độ hòa nhập của các em, những trở ngại
mà các em gặp phải khi tham gia.

21


PHẦN II – NỘI DUNG
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cở sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm công cụ trong nghiên cứu.
1.1.1.1. Khái niệm trẻ em
Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định là dưới 18. Tại Singapore, trẻ em là người
dưới 14 tuổi. Trong khi đó ở Hồng Kông, trẻ em là nhóm người dưới 16 tuổi. Sở dĩ
có sự khác nhau này là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã
hội. Một lập luận khác để giải thích về sự khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế
của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ gắn liền với trách
nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyền
con người nói chung ở mỗi quốc gia.
Theo Điều 1, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố
năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi,
trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”
[27].
Tại Việt Nam, theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì “Trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [35].
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm Trẻ em theo Điều 11,
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi nghiên
cứu là những em mồ côi từ 8 đến 16 tuổi tại TTBTXH tỉnh Vĩnh Phúc.
1.1.1.2. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được hiểu là những trẻ em có hoàn cảnh
như sau [35]:
Mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn
người thân thích ruột thịt (ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ nuôi hợp pháp; anh, chị) để
nương tựa.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status