BM03-TMSKKN
TÊN SKKN : VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TẠO SỰ HỨNG THÚ,
TÍCH CỰC CHO HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÝ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Địa Lí là môn học giúp cho học sinh có hiểu biết về thiên nhiên, dân cư,
kinh tế - xã hội của quê hương, đất nước, thế giới; bước đầu hình thành thế giới
quan khoa học, tư tưởng tình cảm đúng đắn và làm quen với việc vận dụng những
kiến thức địa lí để ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh,
phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế của thời đại.
Như các môn học khác, có được những kiến thức phổ thông, cơ bản, cần
thiết về địa lí là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay vẫn còn nhiều học
sinh chưa thấy được vai trò của môn Địa Lí, xem nhẹ môn học này, dẫn đến bị
hổng kiến thức. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài này nhằm tạo hứng thú trong học
tập, phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
Từ lâu, các nhà sư phạm đã quan tâm đến vai trò của hứng thú nhận thức
trong quá trình học tập. A.Komenski xem tạo hứng thú là một trong các con đường
chủ yếu để “làm cho học tập trong nhà trường trở thành niềm vui”. J.J.Rutxô dựa
trên hứng thú của trẻ đối với các sự vật hiện tượng xung quanh để xây dựng cách
dạy phù hợp với trẻ. K.Đ.Usinki xem hứng thú là một cơ chế bên trong bảo đảm
học tập có hiệu quả. J.Điuây cho rằng việc giảng dạy phải kích thích được hứng
thú; muốn vậy phải để cho các em độc lập tìm tòi, giáo viên chỉ là người tổ chức,
thiết kế, cố vấn. F.Brunơ nêu điều kiện đầu tiên là giáo viên phải biết vận dụng
phương pháp nào phù hợp với năng lực, hứng thú, nhu cầu của trẻ.
Lý luận dạy học hiện đại xem hứng thú là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ
trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân
cách của trẻ.
1
- Trong các kĩ năng bản đồ, khó và phức tạp nhất đối với học sinh là kĩ năng đọc
bản đồ. Vì vậy để hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng đọc bản đồ,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết kết hợp vốn hiểu biết về bản đồ và những
kiến thức địa lí đã có để có thể tìm ra những tri thức địa lí trên bản đồ.
- Khi tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ, giáo viên có thể hướng dẫn học
sinh khai thác kiến thức trên bản đồ theo các bước sau :
1. Xác định nội dung của bản đồ qua tên bản đồ.
2. Xem bảng chú giải để biết cách biểu hiện các sự vật và hiện tượng địa lí được
biểu hiện trên bản đồ bằng kí hiệu.
3. Tái hiện các biểu tượng về các sự vật và hiện tượng địa lí được biểu hiện bằng kí
hiệu.
4. Tìm vị trí của các đối tượng và hiện tượng địa lí trên bản đồ
5. Tìm hiểu đặc điểm của các đối tượng được thể hiện trên bản đồ.
6. Tìm hiểu ý nghĩa và các mối quan hệ về địa lí với các đối tượng khác trên bản
đồ.
Ví dụ 1 : Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ hình 12 ở bài 4 : Phương hướng trên
bản đồ. Kinh độ, vĩ độ và tọa độ địa lý, Địa Lý 6.
- Tên bản đồ : Bản đồ thủ đô các nước ở khu vực Đông Nam Á.
3
- GV hướng dẫn học sinh quan sát bản đồ, rồi nêu vấn đề : Muốn xác định phương
hướng trên bản đồ cần phải dựa vào yếu tố nào ? (dựa vào các đường kinh tuyến,
vĩ tuyến).
Dựa vào kinh tuyến để tìm phương hướng Bắc – Nam, vĩ tuyến để tìm phương
hướng Đông – Tây trên bản đồ. Dựa vào bốn hướng trên để xác định các hướng
phụ.
- Kết luận : Các em suy nghĩ và sẽ xác định được các hướng bay từ Hà Nội đến
Viêng Chăn, Gia-cac-ta, Ma-ni-la, … là những hướng nào.
- Tên lược đồ : Lược đồ tự nhiên vùng Tây Nguyên. Thể hiện các dạng địa hình,
sông ngòi, các vùng đất badan và các mỏ bôxít.
- Cách thể hiện trên lược đồ : Địa hình được thể hiện bằng đường bình độ kết hợp
phân tầng màu với 5 bậc độ cao. Các vùng đất badan được thể hiện bằng vùng
phân bố. Các nhà máy thủy điện, khoáng sản và vườn quốc gia được thể hiện bằng
kí hiệu.
- Câu hỏi :
+ Xác định vị trí địa lí, giới hạn lãnh thổ vùng Tây Nguyên. Vị trí này có ý nghĩa
như thế nào ?
+ Địa hình Tây Nguyên có các dạng nào ? Dạng địa hình nào chiếm diện tích chủ
yếu ?
+ Kể tên các dòng sông bắt nguồn từ Tây Nguyên. Những dòng sông này chảy về
đâu ?
+ Kể các loại tài nguyên của Tây Nguyên và nêu ý nghĩa của từng loại ?
Dựa vào lược đồ và kiến thức đã học, học sinh sẽ trả lời được các câu hỏi mà
giáo viên nêu trên.
Ví dụ 4 : Hướng dẫn học sinh khai thác lược đồ hình 32.2 ở bài 32 : Vùng Đông
Nam Bộ, Địa Lí 9.
6
- Tên lược đồ : Lược đồ kinh tế vùng Đông Nam Bộ. Thể hiện các ngành kinh tế
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, các trung tâm công nghiệp.
- Cách thể hiện trên lược đồ : Các trung tâm công nghiệp được phân ra 4 loại : rất
lớn, lớn, vừa và nhỏ biểu hiện bằng kí hiệu hình tròn. Mỗi một trung tâm công
nghiệp có các ngành công nghiệp được biểu hiện bằng các hình nan quạt với các
màu khác nhau. Các cơ sở kinh tế khác như điện khí, thủy điện, sân bay, cảng, cửa
khẩu, bãi tắm được biểu hiện bằng kí hiệu. Các vùng rừng giàu và trung bình, vùng
nông lâm kết hợp, vùng cây công nghiệp, vùng lúa, lợn, gia cầm được biểu hiện
nhau: tính toán số liệu ở bảng số liệu; phân tích bảng số liệu theo một chủ đề và rút
ra các nhận xét; hoặc chuyển bảng số liệu thành biểu đồ để các số liệu mang tính
trực quan dễ nhận xét; …
Ví dụ 1 : Khi dạy Địa Lí 9, bài 2, gia tăng dân số, tìm hiểu về tỉ lệ gia tăng tự
nhiên của dân số nước ta, giáo viên cung cấp bảng số liệu sau :
8
Tỉ suất sinh và tỉ suất tử của dân số nước ta thời kì 1979 – 2009
Đơn vị : 0/00
Năm
1979
1989
1999
2009
Tỉ suất sinh
32,5
31,3
19,9
17,6
100,3
Đồng bằng sông Hồng
96,7
332,4
Bắc Trung Bộ
30,0
93,9
Duyên hải Nam Trung Bộ
46,7
143,6
Tây Nguyên
17,4
66,6
Đông Nam Bộ
157,1
Gió rất nhẹ, một làn khói chỉ uốn mình một
chút.
Cấp 2
Khoảng 10km/giờ
Gió khá nhẹ, lá cây lay động.
Cấp 3
Khoảng 15km/giờ
Gió nhẹ, cành cây nhỏ đung đưa.
Cấp 4
Khoảng 20km/giờ
Gió hơi mạnh, bụi trên mặt đường bốc lên,
cành cây nhỏ uốn cong.
Cấp 5
Khoảng 25km/giờ
Gió mạnh, cây nhỏ bị uốn cong.
đến 30km/giờ
Cấp 6
ngói bị tung lên, nhà yếu bị đổ sập.
Cấp 10
Khoảng 90km/giờ
Gió bão, cây cối đổ, nhà sập.
Cấp 11
Khoảng 100km/giờ
Bão lớn.
đến 110km/giờ
Cấp 12
Khoảng 115km/giờ
Bão rất lớn, cuồng phong.
đến 125km/giờ
3. Giải pháp 3 : Phương pháp sử dụng biểu đồ
10
- Trong dạy học địa lí hiện nay sử dụng nhiều loại biểu đồ khác nhau, như : hình
cột, hình tròn, đường, miền, … Mỗi loại biểu đồ có chức năng riêng, như : biểu đồ
đường thể hiện rõ quá trình phát triển của sự vật, biểu đồ hình tròn có ưu thế về thể
hiện các đặc điểm cấu trúc, biểu đồ hình cột có ưu thế trong biểu hiện số lượng, …
kinh tế. Xu hướng này thể hiện rõ ở những khu vực nào ?
+ Tên biểu đồ : Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GDP từ năm 1990 đến năm 2002.
+ Các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là cơ cấu GDP của ngành nông-lâmngư nghiệp, ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ được trình bày theo
dạng biểu đồ miền.
+ Qua biểu đồ, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét, đặt câu hỏi gợi ý để học
sinh nhận biết được nguyên nhân của sự chuyển dịch.
Tỉ trọng của nông-lâm-ngư nghiệp trong cơ cấu GDP không ngừng giảm :
thấp hơn khu vực dịch vụ từ sau năm 1991, rồi thấp hơn khu vực công nghiệp - xây
dựng, đến năm 2002 chỉ còn 23% chứng tỏ nước ta đang chuyển từng bước từ
nước nông nghiệp sang nước công nghiệp.
Tỉ trọng của khu vực công nghiệp- xây dựng đã tăng lên nhanh nhất, chứng
tỏ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang tiến triển.
12
Khu vực dịch vụ có tỉ trọng tăng khá nhanh trong nửa đầu thập kỉ 90. Nhưng
sau đó tỉ trọng của khu vực này giảm rõ rệt, nhất là do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính vào cuối năm 1997 nên các hoạt động kinh tế đối ngoại tăng
trưởng chậm.
3. Giải pháp 4 : Phương pháp kể chuyện
Kể chuyện là phương pháp dùng lời nói để diễn tả một cách sinh động hấp
dẫn, có hình ảnh, tình tiết liên quan đến nội dung bài học, minh họa hay mở rộng
kiến thức cho học sinh. Học sinh càng nhỏ càng ham thích nghe thầy cô kể chuyện.
Nhưng giáo viên cần căn cứ vào nội dung bài học, thời gian lên lớp để câu chuyện
kể có hiệu quả.
Ví dụ 1 : Khi dạy Địa Lý 6, bài 24, phần 2b về thủy triều, giáo viên có thể sử dụng
câu chuyện sau để học sinh hiểu rõ hơn
về hiện tượng này.
CON CUA CỨU CON CÁ VOI [7]
Ngày xưa có con cá voi đi săn các
đang dâng nước lên. Chúng chắp miệng vì đói quá, và lén nhìn cua : đây chưa phải
lúc tấn công cá voi ư ?
Con cua ở đấy, rất bình tĩnh. Nó đưa càng gãi bên cạnh sườn.
Bỗng lũ sói cảm thấy mông của chúng ngập nước, liền chạy trốn trên một ngọn đồi
mà mắt vẫn nhìn theo cá voi.
Trăng lên đỉnh đầu. Cá voi cũng cảm thấy nước đến dưới mình nó. Nó
phồng phổi lên một phát và đập đuôi thật mạnh, làm tóe nước khắp nơi. Bầy sói
chạy toán loạn. Cá voi vung đuôi vẫy nước, đuổi những đợt sóng lớn về phía bầy
sói.
14
Cá voi vùi đầu xuống nước, quẫy đuôi rất mạnh, lao ra khơi. Nước đã khá
sâu, cá phồng phổi lên và … không còn thấy cá voi đâu cả. Chỉ cái đuôi cá còn nhô
lên, và không còn gì nữa. Con cua thì nhẹ nhàng theo gót cá mà đi … ngang.
Khi bầy sói tỉnh trí lại thì không còn thấy cá voi, cũng chẳng thấy cua.
Chúng im lặng ngồi trên bãi biển nhìn trăng lên cao và nhìn cả đại dương trước
mặt. Chúng không hiểu gì cả. Làm sao chúng biết được rằng biển có những đợt
thủy triều ? Và trăng càng lên cao thì thủy triều càng mạnh ?
Ví dụ 2 : Khi dạy Địa Lý 6, bài 11, về lục địa và đại dương trên bề mặt Trái Đất,
giáo viên có thể sử dụng câu chuyện sau để mở rộng kiến thức cho học sinh hiểu rõ
hơn về nhiều mặt, đại dương vượt xa lục địa.
ĐẠI DƯƠNG VÀ LỤC ĐỊA [7]
Trước hết, đại dương chiếm hơn 2/3 diện tích Trái Đất. Riêng Thái Bình
Dương đã có diện tích lớn hơn tất cả các châu lục trên Trái Đất cộng lại. Đỉnh của
Trái Đất là Everest có độ cao 8848m; nhưng đem ngọn núi đó đặt vào biển sâu
nhất, tại phía Tây Thái Bình Dương thì đỉnh của ngọn núi này còn thấp dưới mặt
nước biển hơn 2000m. Động vật lớn nhất trên mặt đất hiện nay là con voi, nặng tới
hơn 4 tấn nhưng trọng lượng của con voi có ý nghĩa gì, bên cạnh một con cá voi
200 tấn.
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
27
23.1
38
32.5
37
31.6
15
47
40.1
58
49.6
12
10.3
0
%
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Do đặc trưng của bộ môn nên việc vận dụng các phương pháp để tổ chức, hướng
dẫn các hoạt động học tập của học sinh trước hết là hướng dẫn học sinh khai thác
kiến thức từ bản đồ, số liệu thống kê, biểu đồ, … cũng chính là nguồn kiến thức
Địa Lí. Từ đó học sinh vừa có kiến thức, vừa được rèn luyện các kỹ năng Địa Lí,
phương pháp học tập Địa Lí, về lâu dài hình thành cho học sinh năng lực tự học.
- Đề tài đã được áp dụng có hiệu quả tại đơn vị tôi đang công tác. Đối với giáo
viên : đề tài này mang tính đặc trưng bộ môn, có thể áp dụng cho nhiều khối lớp,
dễ thực hiện, giáo viên có thể ứng dụng công nghệ thông tin để soạn giảng hoặc
chuẩn bị bằng bảng phụ, phiếu học tập. Tuy nhiên, đòi hỏi giáo viên phải có sự
chuẩn bị, đầu tư thời gian nhiều hơn; thường xuyên tìm tài liệu tham khảo để cập
nhật thông tin kiến thức kịp thời.
- Tuy kết quả học tập bộ môn Địa Lí đã được khả quan nhưng để đạt hiệu quả, chất
lượng dạy và học hơn, tôi có đề xuất nhà trường quan tâm đầu tư hơn về cơ sở vật