HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CHỦNG CORDYCEPS SPP. FNA5 VÀ KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP EXOPOLYSACCHARIDE
NHẰM TẠO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
HÀ NỘI, 09/2016
1
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CHỦNG CORDYCEPS SPP. FNA5 VÀ KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP EXOPOLYSACCHARIDE
NHẰM TẠO THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
Họ và tên : Đỗ Thu Hương
Ngành học : Công Nghệ Sinh Học
GVHD
: TS. Bùi Văn Ngọc
TS. Phạm Thanh Huyền
TS. Nguyễn Hữu Đức
Liên, Huyền, Hồng Anh và các bạn khác nữa làm việc trong phòng thí nghiệm, mọi
người đã dành thời gian quý giá của mình để giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực tập để đạt được kết quả tốt nhất.
Và cuối cùng em xin được cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động
viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, giúp em vượt qua
rất nhiều khó khăn cả trong công việc và cuộc sống và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp một cách thuận lợi nhất.
Hà Nội, ngày 29 tháng 09 năm 2016
Sinh viên
4
4
Đỗ Thu Hương
Mục lục
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng phân loại khoa học
Bảng 3.1 . Một số thiết bị thường sử dụng trong nghiên cứu
Bảng 3.2. Một số môi trường nuôi cấy
5
5
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.5. Chế phẩm dạng lỏng của Đông trùng hạ thảo
Hình 2.2. Mô tả hình thái nấm Cordyceps
Hình 2.3. Cấu trúc hóa học của Adenosin và Cordycepin
đến sự sinh tổng hợp hoạt chất exopolysaccharide của chủng nấm trên
môi trường tối ưu để đạt kết quả tốt nhất.
3. Kết quả nghiên cứu của đề tài
7
7
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngay từ thời xa xưa, người ta chú ý nhiều đến tác dụng dược lý dùng làm
thuốc để chữa bệnh của loài nấm Cordyceps spp. (Đông trùng hạ thảo hay
Trùng thảo), gồm hai loài chính là Cordyceps sinensis và Cordyceps militaris.
Cordyceps spp. là danh pháp khoa học của một chi trong ngành nấm túi
(Ascomycota), bao gồm khoảng 400 loài đã được miêu tả. Mọi loài trong chi
Cordyceps spp. đều là nấm ký sinh (loài nấm tên khoa học là: Ophiocordyceps
sinensis) trên các ấu trùng của các loài sâu thuộc chi Thiarodes, cũng như một
số dạng động vật chân khớp (Arthropoda) khác, vì thế chúng là nấm gây bệnh
cho côn trùng; một số ít loài cũng kí sinh trên các loại nấm khác. Loài nấm
Cordyceps spp. phân bố chủ yếu ở vùng núi cao thuộc dãy núi Hymalaya có độ
cao trên 4000m so với mực nước biển, như vùng cao nguyên Tây Tạng (Trung
Quốc), một số vùng thuộc Nepan và Butan. Loài Nấm Cordyceps spp. có hàm
lượng các hoạt chất hoạt tính sinh học trong quả thể như cordycepin,
adenosine, mannitol, exopolysaccharide, superoxide dismutise và nhiều thành
phần khác. Nhờ các hợp chất hóa học này giá trị dược liệu của loài nấm này
được đánh giá rất cao, tác dụng chính được các nhà khoa học thống kê như:
2.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm ra môi trường thích hợp cho sự sinh tổng hợp
Polysaccharide, ứng dụng cho sản xuất dược trong nước.
3.
Đối tượng và nội dung nghiên cứu
Chủng nấm FNA5 thuộc chi Cordyceps nhận được từ bộ sưu tập
chủng giống của phòng Công nghệ lên men, Viện Công nghệ sinh học, Viện
Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
4.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn bởi những kết quả thu được
cho thấy lỏng đối với loài Cordyceps. Đồng thời mở ra những hướng đi mới
có thể phát triển sản xuất nguyên liệu thôphục vụ công nghiệp dược được
sản xuất từ chủng nấm Cordyceps phù hợp với điều kiện ở Việt Nam.
PHẦN II
9
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Tổng quan nghiên cứu về loài Cordyceps spp. trên thế giới và ở Việt Nam
Berkeley miêu tả khoa học lần đầu tiên năm 1843 như là Sphaeria sinensis
(Berkeley MJ., 1843). Pier Andrea Saccardo chuyển loài này sang chi Cordyceps
vào năm 1878 (Saccardo PA., 1878). Loài này được biết đến như là Cordyceps
sinensis cho tới năm 2007, khi phân tích phát sinh chủng loài phân tử được sử
dụng để sửa đổi phân loại của 2 họ Cordycipitaceae và Clavicipitaceae, kết quả
là tạo ra tên gọi cho một họ mới Ophiocordycipitaceae và việc chuyển một số
loài Cordyceps sang chi Ophiocordyceps (Sung GH, Hywel-Jones NL, Sung JM,
Luangsa-Ard JJ, Shrestha B, Spatafora JW. (2007)).
Trong y học cổ truyền Trung Hoa, tên gọi của nó thường được viết tắt là chong
cao (蟲草 "trùng thảo"), một tên gọi cũng áp dụng cho các loài Cordyceps khác,
như C. militaris. Trong tiếng Nhật, nó được gọi là tōchūkasō (冬 虫夏草).
1.1.2. Giới thiệu về Cordyceps spp.
10
Chi nấm Cordyceps có khoảng 400 loài khác nhau, riêng tại Trung Quốc đã
tìm thấy 60 loài tuy nhiên cho đến nay hai loài được nghiên cứu nhiều nhất và
đưa vào nuôi trồng nhiều là Cordyceps sinensis (Berk) Sacc. và Cordyceps
militaris (L. ex Fr) Link.
Hình 2.1. Hình ảnh nấm Đông trùng hạ thảo
1.1.3. Nguồn gốc
Vị thuốc này thực chất là hiện tượng ấu trùng các loài bướm thuộc chi
Thitarodes bị nấm thuộc chi Ophiocordyceps hoặc Cordyceps ký sinh. Đó là một
dạng ký sinh giữa một loài nấm túi có tên khoa học là Ophiocordyceps
sinensis(Berk.) (G.H.Sung, J.M.Sung, Hywel-Jones & Spatafora (2007), 1878) với
sâu non (ấu trùng) của một loài côn trùng thuộc chi Thitarodes. Thường gặp
nhất là sâu non của loài Thitarodes baimaensis hoặc Thitarodes armoricanus.
Ngoài ra còn 46 loài khác thuộc chi Thitarodes cũng có thể bị Ophiocordyceps
hơi vàng; chất đệm nấm khá dai và bên trong ruột hơi rỗng, có màu trắng ngà.
Hình 2.2. Mô tả hình thái nấm Cordyceps
1.1.5. Một số hoạt tính có hoạt chất sinh học thu nhận từ nấm Cordyceps
Các thành phần hóa học chứa trong nấm Cordyceps, quan trọng nhất là
nhóm chất cordycepic acid, cordycepin và polysaccharide cso tác dụng rất tốt
trong điều trị bệnh ung thưvà các bệnh do virus. Ngoài ba thành phần trên khi
phân tích nấm người ta còn phát hiện nhiều hợp chất có giá trị Nacetylgalactosamine,
adenosine,
ergosterol
12
và
ergosterol
esters,
bioxanthracenes, hypoxanthine, exopolysaccharide, chitinase, cicadapeptins và
mỉiosin, các chất có hoạt tính sinh học là saccharide (trehalose và
polysaccharide) nucleosides (adenosine, inosine, cordycepin) manitol và sterols
(ergosterol).
1.1.5.1. Cordycepin
Cordycepin lần đầu tiên được tách ra từ C.militaris năm 1950 do
Cunningham và cộng sự thực hiện, sau đó chúng cũng được tìm thấy ở C.
sinensis và C.kyushuensis. Mặc dù Cordycepin có thể được tổng hợp hóa học
thu nhận nấm Cordyceps trong tự nhiên, nồng độ adenosine là 2,45 ± 0,03 mg/g
trong quả thể và ở nấm C.militaris cao hơn C.sinensis, ở C.sinensis hàm lượng
chỉ có 1,643±0,03 mg/g, trong khi đó, hàm lượng trong sợi nấm C.militaris lên
men là 1,592±0,03 mg/g gần tương tự C.sinensis trong tự nhiên. Adenosine được
cho là có trác dụng điều hòa miễn dịch, bảo vệ tim mạch.
1.1.5.3. Nucleotides
Nucleotides (gồm có adenosine, uridine và guanosine) là các thành phần
khá đa dạng trong nấm Cordyceps. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, guanosine có
hàm lượng cao nhất trong tất cả các mẫu tự nhiên, khi nuôi cấy trong điều kiện
nhân tạo hàm lượng nucleotide thường cao hơn Cordyceps spp. trong tựn nhiên.
Nucleotides trong Cordyceps tự nhiên bắt nguồn từ sự phân rã nucleoside trong
suốt quá trình bảo quản, tiếp đó các nhà nghiên cứu cũng đã tìm ra rằng độ ẩm
có thê làm tăng đáng kể hàm lượng nucleotide trong Cordyceps khi nuôi trong
môi trường rắn.
1.1.6. Các hợp chất có hoạt tính chống oxy-hoá của Cordyceps spp.
Hoạt tính chống oxy-hóa là hoạt tính sinh học quan trọng xuất hiện trong
các chủng thuộc ngành nấm Basidiomycetes. Mặc dù đã có nhiều nhà nghiên
cứu đã khảo sát đặc tính chống oxy-hóa phổ rộng của các quả thể nấm, nhưng
chỉ có số ít được chú ý và tiến hành thu nhận các chất chống oxy hóa này nhờ lên
men chìm. Một trong số các nghiên cứu được thực hiện bởi Badalyan khi lên
men trên môi trường lỏng để thu nhận dịch sau lên men, dịch chiết sinh khối
nấm và các sinh khối của 14 chủng nấm (Cordycep comatus, C.disseminatus,
C.micaceus, Hypholoma fasciculare, Lentinus edodes, Lepista personat,
Marasmius oreades, Pholiota alnicola, Pleuronata versicolor, Stropharia
14
coronilla, Suillusltuteus, Schizophyllum commune, Trimetes versicolor và
15
Nấm Cordyceps có hàm lượng protein thô trong khoảng 29,1-33%. Protein
này bao gồm 18 loại amino acid, gồm có aspartic, threonin, serine, glutamate,
proline, glycine, valine, methionine, isoleukin, leucin, tyrocine, phenylalanine,
lysine, histidine, cystine, cysteine và tryptophan. Hàm lượng amino acid sau khi
thủy phân hầu hết là 20-25%, lượng thấp nhất là 5,53%, cao nhất là 39,22%.
Hàm lượng cao nhất là glutamate, arginine và aspartic acid, các thành phần có
tác dụng dược lý chính là arginine, glutamate, tryptophan và tyrosine. Các
chủng Cordyceps cũng chứa các loại protein, peptides, polyamines và tất cả các
amino acid thiết yếu. Thêm nữa, Cordyceps cũng chứa các loại dipeptide vòng
hiếm gặp, có vòng gồm có cyclo-[Gly-Pro], cyclo-[Leu-Pro], cyclo-[Val-Pro], cyclo[Ala-Leu], cyclo-[Ala-Val], cyclo-[Thr-Leu].
1.1.6.3. Polysaccharide
Nấm Cordyceps spp. được đánh giá cao về giá trị dinh dưỡng trong sản
xuất thực phẩm chức năng và sản xuất thuốc trong phòng và chữa bệnh. Chúng
chứa rất nhiều loại đường, bao gồm mono-, di- và oligosaccharide, và nhiều
polysaccharides phức tạp (gồm có cyclofurans (đường có 5C, mạch vòng, chưa
rõ chức năng), beta-glucans, beta-mannans, và phức hợp polysaccharides có cả
đường 5 và 6C cùng tham gia vào các chuỗi nhánh, dùng cả cầu nối alpha-,
beta-).
Vách tế bào nấm là nguồn cung cấp chính của polysaccharide đã được
chứng minh kháng khối u, trong khi đó polysaccharide thu nhận từ thực vật lại
không có đặc điểm này, điều này chỉ giải thích được thông qua sự khác nhau
trong cấu trúc hóa học của các polysaccharide. Các polysaccharide có khả năng
chống lại hoạt động của tế bào ung thư bao gồm homopolyme có cấu tạo đơn
giản đến phức tạp bao gồm glucose, galactose, manose, xylose, arabinose,
fucose, ribose và glucuronic acid. Trong một số loài nấm, polysaccharide liên kết
với các protein hoặc peptide tạo thành các hệ polysaccharide-protein hoặc
Dịch chiết từ Đông trùng hạ thảo cho tác dụng chống oxy hóa tương tự như
quá trình peroxide chất béo, men xanthin oxidase.
d. Tác dụng chống ung thư
Thành phần polysaccharides có trong nấm đông trùng hạ thảo (cordyglucan
– β – glucan) cũng như vài loài nấm khác được cho là có tác dụng ức chế các
khối u, do hai cơ chế sau:
(1) trực tiếp gây độc cho tế bào ung thư, làm cho tế bào ung thư bị yếu đi;
(2) gián tiếp ức chế thông qua hệ miễn dịch tự miễn của cơ thể người.
e. Tác dụng chống viêm
Nấm Đông trùng hạ thảo tác dụng ức chế việc sản sinh các tác nhân gây
viêm như gốc tự do NO, các cytokine TNF α và IL 12, ức chế sự mất hạt nhỏ và
phát triển của bạch cầu trong cơ thể.
f. Tác dụng bảo vệ thận, phổi, gan
17
Nấm Đông trùng hạ thảo có công dụng nhanh trong việc phục hồi và làm
giảm các triệu chứng viêm thận mãn, suy thận, liệt dương, di tinh, mệt mỏi, đau
lưng, các vấn đề của đường hô hấp: ho, đờm, suyễn, viêm/ hen phế quản, lao
phổi…Tác dụng bảo vệ gan thông qua việc làm tăng hoạt tính của các loại men
AST, ALT, γ GTP, ALP, LDH.
1.1.8. Một số chế phẩm chứa Đông trùng hạ thảo
Hiện nay không thể thống kê hết được có bao nhiêu chế phẩm có chứa đông
trùng hạ thảo được bán trên thị trường. Đông trùng hạ thảo được đưa vào
trong các chế phẩm một thành phần hoặc kết hợp với một số dược liệu khác,
quý hiếm khác như nhân sâm, tam thất, tổ yến. Các dạng bào chế thường gặp là
dạng như: viên nang, viên hoàn, gói bột và dạng lỏng như: nước uống, cao lỏng.
Có thể kể tên một vài chế phẩm có chứa nấm đông trùng hạ thảo như sau:
- Dạng rắn: viên nang Pure cordyceps capsule, viên Đông trùng hạ thảo
Tenken, bột Cordyceps extract…
ophiolosoides và các loại khác. Phương pháp nuôi cấy loài Cordyceps
(Đông trùng hạ thảo) này là rất đa dạng. Khuẩn ty của nó được nuôi cấy
trên một tập hợp các môi trường, đáng chú ý nhất là ấu trùng côn trùng
(xác tằm) và vô số các hạt ngũ cốc. Loại nấm này, sau một số khó khăn ban
đầu, đã được ra quả thể từ cả hai ấu trùng tằm và hạt dựa vào các cơ chất.
Như tài liệu phân tích, khuẩn ty rất giống với cơ thể thực vật tự nhiên, vì
vậy việc ra quả thể là không cần thiết để đạt được một sản phẩm y học
chất lượng. Vì sự hiếm hoi và giá cả đắt đỏ của các loại đã thu thập được
từ tự nhiên, các nỗ lực cũng đã được thực hiện để nuôi cấy Cordyceps
(Đông trùng hạ thảo). Sau nhiều sự thất vọng ban đầu trong nỗ lực nuôi
cấy, các phương pháp đa dạng có tính chất thương mại cuối cùng đã đạt
được vào cuối những năm 70. Vào giữa những năm 80, đa số các chủng
Cordyceps (Đông trùng hạ thảo) có sẵn trên thị trường thế giới được nuôi
cấy nhân tạo. Bởi vì sự phát triển của các phương pháp nuôi cấy dựa trên
công nghệ sinh học hiện đại, nên các hoạt chất sinh học hiếm có trước đây
đã tăng đáng kể trong hai mươi năm qua. Ngày nay Đông trùng hạ thảo
bán rộng trên thị trường phần lớn là dạng nhân nuôi và là dạng lên men
sợi. Dạng lên men sợi nấm nếu theo một quy trình, thông số nghiêm ngặt
sẽ cho sản phẩm tương đương với dạng tự nhiên. Với phát triển của công
nghệ sinh học hiện đại người ta có thể nhân nuôi để tạo ra nhiều hoạt tính
sinh học quý hiếm trong Đông trùng hạ thảo như Cordycepin, acid
cordicepic, hydroxypethybadnosin, adenosin và polysaccharide. Hiện nay
Mỹ và Nhật phần lớn đi theo con đường nhân nuôi nhân tạo.
Nhân nuôi nhân tạo có 2 cách chính là dùng môi trường lỏng và môi
trường rắn. Mỗi một loại môi trường đểu cho kết quả khác nhau và ưu
điểm khác nhau. Nhân nuôi trên môi trường lỏng sử dụng nuôi trồng hoặc
công nghệ lên men, phương pháp này thường được sử dụng ở Trung Quốc,
nấm được cấy vào các thùng lên men có môi trường đã được tiệt trùng.
Môi trường có đầy đủ các chất dinh dưỡng để bảo đảm cho các sợi nấm
phương pháp này, gần như các chất sinh học có giá trị của Đông trùng hạ
thảo do ngoại bào tiết ra được thu nhận hết, chúng sinh ra qua quá trình
phát triển của nấm. Ở quá trình lên men môi trường chất lỏng chúng rò rỉ
ra môi trường và bị loại bỏ qua quá trình sàng lọc chỉ lấy sợi nấm. Môi
20
trường rắn có thể dùng tằm, với tằm đã cho thấy nấm phát triển nhanh và
chất lượng nấm rất tốt. Môi trường tằm thường được dùng ở Trung Quốc,
Nhật Bản. Ở Mỹ tằm chưa được sử dụng do Cơ quan Quản lý Thuốc và
Thực phẩm Mỹ (FDA) chưa coi tằm là thực phẩm thông thường vì tằm là
một loại côn trùng. Mỹ thường dùng môi trường gạo, lúa mạch, lúa mạch
đen. Đối với đậu tương đã có thử nghiệm để trồng nấm Đông trùng hạ
thảo nhưng không đạt kết quả. Việc trồng nấm Đông trùng hạ thảo có chất
lượng cao và biomas (sinh khối) lớn phụ thuộc vào chủng nấm, môi
trường nuôi cấy, thông số kỹ thuật (nhiệt độ, độ ẩm, oxy, €02 và ánh sáng
…) và kinh nghiệm. Hiện nay Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ đều có các bằng
sáng chế về nhân nuôi Đông trùng hạ thảo và đòi hỏi phải mua bản quyền.
Ở nước ta, đã có các nghiên cứu nuôi thử : Đông trùng hạ thảo Isaria
cerambycidea, kết quả bước đầu thấy sợi nấm phát triển, theo GS.TSKH
2.1.
Đái Duy Ban, TS.Lưu Tham Mưu, nhà xuất bản y học 2009.
Phương pháp nuôi cấy trên môi trường lỏng
Phương pháp này được sử dụng ở Trung Quốc, được biết đến như
môi trường chất lỏng (Liquid Culture) hay lên men (Fermentation), trong
đó một lượng nhỏ mô Cordyceps (Đông trùng hạ thảo) được cấy vào một
môi trường chất lỏng vô trùng. Nó tăng trưởng trong môi trường chất
lỏng này rất nhanh và thông thường sẵn sàng cho việc thu hoạch trong
khọảng 5 ngày. Khuẩn ty Cordyceps (Đông trùng hạ thảo) được thu hoạch
90% trong số các hợp chất có hoạt tính sinh học đáng quan tâm mà
Cordyceps (Đông trùng hạ thảo) sản sinh ra là các chất lỏng đã bị thải ra
sau khi thu hoạch khuẩn ty. Đối với Cordyceps (Đông trùng hạ thảo) thu
thập từ thiên nhiên, cơ thể bướm, được thu hoạch cùng với thân cây, được
ướp hoàn toàn với khuẩn ty Cordyceps (Đông trùng hạ thảo). Nhưng quan
trọng hơn, nó đóng vai trò như là bể chứa tự nhiên cho tất cả các hoạt
chất đã bị rò rỉ mà đã được sản sinh. Hợp chất mà bị rò rỉ bên ngoài khuẩn
ty vẫn còn lại trong cơ thế bướm. Có thể là lý do chính là tại sao Cordyceps
(Đông trùng hạ thảo) thu thập từ thiên nhiên được cho là có hiệu quả hơn
so với Cordyceps (Đông trùng hạ thảo) được nuôi cấy. Đó là sự có mặt của
những hoạt chất ngoại bào này mà bị mất trong quá trình thu hoạch của
2.2.
loại nuôi cấy trong chất lỏng.
Phương pháp nuôi cấy trên cơ chất rắn
22
Phương pháp thứ hai của việc thực hiện nuôi cấy Cordyceps(đông
trùng hạ thảo) được gọi là phương pháp cơ chất rắn (solid – substrate)
hay phương pháp sinh khối. Trong loại nuôi cấy này, Cordyceps (Đông
trùng hạ thảo) được cấy trên nguồn dinh dưỡng rắn vô trùng nào đó,
thường thường là một loại hạt ngũ cốc hay các hạt lẫn. Nó tăng trưởng
chậm hơn nhiều so với nuôi trong chất lỏng, nhưng cuối cùng mức tăng
trưởng của khuẩn ty tiêu thụ hầu hết tất cả cơ chất và sẵn sàng để thu
hoạch. Ở điểm này, toàn bộ bên trong của thùng nuôi được thu hoạch và
làm khô, khuẩn ty, cơ chất dư thừa và toàn bộ phối hợp của các hợp chất
ngoại bào mà đã được sản sinh trong quá trình tăng trưởng. Theo cách
này, nó có thể giữ lại được các hợp chất độc nhất vô nhị này mà tự nhiên bị
trường mới, mà trong đó có cái tốt và có cáí xấu. Cái tốt là môí trường sẽ
hỗ trợ cho mức tăng trưởng, nhưng cái xấu là trong đó sinh vật nhanh
chóng phát triển qua các thế hệ enzym đặc trưng đối với đặc tính của môi
trường đặc biệt đó, điều này sẽ dẫn đến việc môi trường nuôi cấy bị mất đi
sự tăng trưởng mạnh mẽ trong một thời gian khi chuyển sang môi trường
khác. Điều này cũng dẫn đến sự già yếu của môi trường nuôi cấy ban đầu.
Cách dễ nhất xung quanh vấn đề này là thách thức liên miên đối với môi
trường bằng cách chuyển nó sang một môi trường mới với mỗi thế hệ liên
tiếp. Theo cách này, môi trường bắt buộc phải gìn giữ một phổ enzym tiêu
hoá rộng hơn để giải quyết những nguồn thức ăn đa dạng xảy ra rất nhiều
trong thiên nhiên. Nó cũng cần được sự giúp đỡ trong việc đưa vào một số
cơ chất cuối cùng trên đó Cordyceps (Đông trùng hạ thảo) được nuôi cây
trong môi trường ổn định. Ví dụ, nếu Cordyceps (Đông trùng hạ thảo)
được nuôi cấy trên cơ chất gạo vàng, thì nó cần thêm một ít thạch trắng
mà môi trường đang dự trữ. Một số trong số các môi trường thạch trắng
dinh dưỡng được tìm thấy đã hỗ trợ cho mức tăng trưởng tốt của nấm là:
chất thạch trắng có chiết xuất từ mạch nha chuẩn, chất thạch trắng
dextrose từ khoai tây chuẩn, thạch trắng catfood (l0g catfood khô và
20gam thạch trắng trên lít nước). Thạch trắng dogfood (l0g dogfood khô
và 20g thạch trắng trên lít nưốc). Thạch trắng ovaltin (l0g ovaltin khô và
20gam thạch trắng trên lít nước).
Về cơ chất: cơ chất được sử dụng cho việc nuôi cấy bán Cordyceps
(Đông trùng hạ thảo) ban đầu là từ xác nhộng tằm (ở Trung Quốc, Hàn
Quốc và Nhật Bản), hay từ hạt ngũ cốc ở các nước châu Âu và châu Mỹ.
Trong khi cả hai cơ chất đều tốt để sản xuất ra Cordyceps (Đông trùng hạ
24
thảo) chất lượng cao. Những cơ chất có nguồn gốc từ côn trùng, thực ra
mà nói là không được cho phép ở Mỹ dưới sự hướng dẫn của FDA. Những