ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
DƢƠNG KHÁNH TOÀN
HèNH TƢỢNG NGƢỜI TRÍ THỨC TRONG
VĂN XUÔI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
****************
DƢƠNG KHÁNH TOÀN
HèNH TƢỢNG NGƢỜI TRÍ THỨC TRONG
VĂN XUÔI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyờn ngành: Lý thuyết và lịch sử văn học
Mó số:
5.04.01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN DÂN
8
9
5. Đóng góp mới của luận văn
10
6. Cấu trúc của luận văn
10
PHẦN II: NỘI DUNG
13
Chương một: Vị trí nhân vật trí thức trong văn xuôi
Việt Nam hiện đại
1.Hệ thống nhân vật của văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.1. Khái niệm nhân vật văn học
1.2. Hệ thống nhân vật trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
13
13
13
14
1.3. Tính giao thoa của nhân vật
15
3.3. Nhân vật trí thức trong văn xuôi thời kỳ chống Pháp
22
3.4. Nhân vật trí thức trong văn xuôi thời kỳ chống Mỹ
24
3.5. Nhân vật trí thức trong văn xuôi thời kỳ đổi mới
34
Chương hai: Hình tượng người trí thức trong văn xuôi
thời kỳ đổi mới
1. Bối cảnh lịch sử
2. Các xu hƣớng thể hiện hình tƣợng ngƣời trí thức trong
36
36
văn xuôi thời kỳ đổi mới
38
2.1. Xu hƣớng khai thác lịch sử
39
2.2. Xu hƣớng nhập cuộc hiện tại
110
113
116
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới
đến nay, nhân vật trí thức ngày càng có vị trí quan trọng, trở thành nhân vật trung
tâm trong cơ cấu thành phần nhân vật. Hàng loạt các tác phẩm thể hiện nhân vật trí
thức hoặc “pha trí thức” ra đời và gây đƣợc tiếng vang trong dƣ luận hoặc đoạt giải
thƣởng cao trong các cuộc thi tiểu thuyết và truyện ngắn đã phần nào chứng tỏ
đƣợc vị trí trung tâm trong văn học của nhân vật trí thức.
Không chỉ phong phú về số lƣợng nhân vật trí thức trong văn học thời kỳ đổi
mới còn đa dạng về hình thức nghệ thuật, đề tài, thành phần… so với nhân vật trí
thức trong văn học trƣớc 1975. Trƣớc đây nhân vật văn học nói chung, trong đó có
nhân vật trí thức thƣờng mang đậm màu sắc duy lý, thể hiện ở tính cách nhất quán,
thiếu đa dạng, thì hình tƣợng nhân vật trí thức trong văn học thời kỳ đổi mới đƣợc
thể hiện rất phong phú: đa dạng về thành phần, đa dạng về màu sắc thẩm mỹ, vừa
giàu chất tạo hình vừa có chiều sâu tƣ tƣởng, tâm lý… Nhân vật trí thức cũng đã
đặt ra và tìm tòi giải đáp hàng loạt những vấn đề xã hội mang tính thời sự nhƣ: Vai
trò của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, mâu thuẫn giữa lý
tƣởng khoa học với tƣ tƣởng làm giàu trong thời kinh tế thị trƣờng, thực trạng lãng
phí chất xám và những bài học về sử dụng trí thức trong thời kỳ quá độ xây dựng
chủ nghĩa xã hội hiện nay…
Vai trò của
nhân vật trí thức trong văn học còn thể hiện ở những đóng góp của nó trong việc
phát triển nghệ thuật văn xuôi. Với đặc thù lao động trí óc có trình độ văn hoá cao,
trí thức trong Đám cưới không có giấy giá thú (Báo Nhân dân, ngày 4/8/1990) đã
phân tích những nhân vật trí thức trong tác phẩm, từ đó chỉ ra những xung đột gay
gắt trong quan hệ gia đình, đồng nghiệp trƣớc sức tấn công của những hiện tƣợng
tiêu cực vốn là mặt trái của cơ chế thị trƣờng, sự lung lay niềm tin của một số trí
thức khi phải đối mặt với bất công, cảnh báo về sự tha hoá nhân cách của một bộ
phận trong độ ngũ những ngƣời trí thức. Tác giả Phong Thu trong bài Tâm sự với
tác giả Đám cưới không có giấy giá thú (Báo Hà Nội chủ nhật, ngày 6/5/1990) đã
đánh giá cao những nhân vật trí thức trong tác phẩm và chỉ ra lực cản ngăn trở
ngƣời trí thức cống hiến tài năng tâm huyết của mình cho xã hộ là bộ ba: Thành
phần xã hội + Bệnh quan liêu + Kẻ buông tuồng. Tác giả Đào Thanh Tùng trong
bài Đám cưới không có giấy giá thú – một cách nhìn nhận về người thầy (Báo Giáo
viên nhân dân, số 16, ngày 18/4/1990) lại bày tỏ sự lo ngại trƣớc cái nhìn méo mó
về ngƣời trí thức trong tác phẩm… Nhìn chung, phần lớn các bài viết về nhân vật
trí thức trong Đám cưới không có giấy giá thú đều có chung hạn chế là tính chất xã
hội học trong tiếp cận vấn đề. Nhân vật trí thức của Ma Văn Kháng ít khi đƣợc “tả
chân” mà giàu tính cách điệu, tính biểu tƣợng, tiêu biểu cho thân phận ngƣời trí
thức trƣớc những biến động của xã hội, vì vậy không thể chỉ dựa vào một vài chi
tiết cụ thể mà đƣa ra đánh giá về nhân vật, tác phẩm hay nhà văn.
Đáng chú ý là luận văn thạc sỹ văn học của Đào Tiến Thi (ĐHSP Hà Nội,
1999) Phong cách Ma Văn Kháng trong truyện ngắn sau 1975. Tác giả luận văn đã
khảo sát nhiều truyện ngắn của Ma Văn Kháng, từ đó chỉ ra những đặc điểm của
nhân vật trí thức trong các tác phẩm này: Có phong cách ứng xử trên thế thƣợng
phong trƣớc mọi sóng gió cuộc đời, có cốt cách ung dung tự tại kiểu nhà Nho trong
mọi hoàn cảnh, không đội trời chung với cái xấu, cái ác, sống “ngoài vòng cƣơng
toả” với cái tài hoa tài tử của mình. Nhân vật trí thức trong văn học thời kỳ đổi mới
cũng đƣợc đề cập tới trong luận văn thạc sỹ văn học của Nguyễn Thị Hằng (ĐHSP
Hà Nội, 1999): Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời đổi mới.
Trong luận văn này tác giả đã khẳng định: “Nhân vật trí thức đƣợc khắc họa trong
công nông trí thức hoá ngày càng đƣợc quan tâm và trở thành nhân vật trung tâm
trong nhiều tác phẩm gần đây.” [51, tr. 463]. Trong bài Mấy vấn đề về nhân vật của
văn xuôi Việt Nam sau 1975 tác giả Nguyễn Thị Bình đã có nhận định tƣơng tự
khi cho rằng nhân vật trí thức đang trở thành nhân vật trung tâm trong cơ cấu thành
phần nhân vật của văn xuôi Việt Nam giai đoạn hiện nay và bƣớc đầu lý giải những
nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan dẫn đến sự xuất hiện hàng loạt các tác
phẩm có xây dựng nhân vật trí thức: “Văn xuôi sau 1975 phát triển trong bối cảnh
đất nƣớc chuyển đổi cơ chế kinh tế, giao lƣu văn hoá nhiều chiều, ý thức cá nhân
đƣợc sự cổ vũ của cơ chế thị trƣờng trỗi dậy mạnh mẽ. Nhu cầu thức tỉnh gắn liền
với cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm hiện thực, nhu cầu công bố tƣ tƣởng riêng
trong thái độ “nhập cuộc” của nhà văn… có lẽ đây là những nguyên nhân xâu xa
của việc xuất hiện một cách phổ biến nhân vật trí thức.” [5, tr. 223]. Tác giả
Nguyễn Thị Bình cũng đã đƣa ra những nhận xét về hạn chế của nhân vật trí thức
trong văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung: “Cho đến thời điểm này, chƣa có nhân
vật trí thức nào đạt tới cái mốc mà nhân vật ngƣời lính và ngƣời nông dân trong văn
xuôi đã đạt tới.” [5, tr. 224]
Nhìn chung, cho đến nay tình hình nghiên cứu về nhân vật trí thức trong văn
xuôi hiện đại nói chung và trong văn xuôi thời kỳ đổi mới nói riêng vẫn chƣa đáp
ứng đƣợc yêu cầu mà loại nhân vật này đặt ra, chƣa khái quát đƣợc những đặc điểm
của hình tƣợng nhân vật trí thức, xu hƣớng thể hiện nó trong các tác phẩm cũng
nhƣ những đóng góp của nó cho sự phát triển nghệ thuật văn xuôi.
3. NHIỆM VỤ, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN
VĂN
3.1. Luận văn không thể đề cập đến tất cả sự phong phú đa dạng trong phong
cách thể hiện nhân vật trí thức trong văn xuôi thời kỳ đổi mới mà chỉ tập trung vào
các phƣơng diện cơ bản sau:
+ Qúa trình tiến hoá của nhân vật trí thức trong văn xuôi Việt Nam hiện đại.
+ Các xu hƣớng thể hiện nhân vật trí thức trong văn xuôi thời kỳ đổi mới
4.3. Chúng tôi dựa vào lý luận về nhân vật văn học, hình tƣợng văn học, cấu
trúc tác phẩm văn xuôi làm cơ sở để phân tích hình tƣợng ngƣời trí thức trong các
tác phẩm văn xuôi cụ thể.
Chúng tôi cũng tham khảo những kết quả nghiên cứu của các nhà lý luận phê
bình và các nhà văn trong các công trình nghiên cứu, các bài phê bình tiểu luận, các
bài báo về văn học Việt Nam đã đƣợc công bố trên sách báo.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn lần đầu tiên cố gắng đem lại một cái nhìn mang tính hệ thống về
những bƣớc tiến hoá của hình tƣợng nhân vật trí thức trong văn học Việt Nam hiện
đại từ đầu thế kỷ 20 đến thời kỳ đổi mới. Riêng giai đoạn văn học từ sau 1975 đến
nay, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới, hình tƣợng ngƣời trí thức không chỉ đƣợc mô tả,
hệ thống hoá mà còn đƣợc cắt nghĩa, đánh giá, chỉ ra những đặc điểm chính, những
xu hƣớng thể hiện và vai trò quan trọng của nó trong việc phát triển nghệ thuật văn
xuôi.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm bốn phần: Mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo
Phần nội dung gồm ba chƣơng:
Chương một: Vị trí nhân vật trí thức trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
1. Hệ thống nhân vật của văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.1. Khái niệm nhân vật văn học
1.2. Hệ thống nhân vật trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.3. Tính giao thoa của nhân vật
1.4. Nhân vật trí thức
2. Lý do ra đời của nhân vật trí thức
2.1. Lý do khách quan
2.2. Lý do chủ quan
3. Những bƣớc tiến hoá của nhân vật trí thức trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
1975” ( Sách: 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám) , NXB
ĐHQG, Hà Nội, tr 217-226 )
6. Nguyễn Minh Châu (2001), Nguyễn Minh Châu toàn tập, Tập I, NXB Văn học,
Hà Nội.
7. Nguyễn Minh Châu (2001), Nguyễn Minh Châu toàn tập, Tập II, NXB Văn học,
Hà Nội.
8. Đỗ Chu (1967), Phù sa, NXB Văn học, Hà Nội.
9. Đỗ Chu (1971), Gió qua thung lũng, NXB Văn học, Hà Nội.
10. Nguyễn Văn Dân (2002), Văn học phi lý, NXB Văn hoá- Thông tin, Hà Nội.
11. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phương Tây hiện đại.
NXB GD, Hà Nội.
12. Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB GD, Hà Nội 2000
13. Phan Cự Đệ (2001), “Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu đổi mới”. TC Văn
nghệ quân đội (số 3-2001).
14. Nguyễn Việt Hà (1999), Cơ hội của chúa, NXB Văn học, Hà Nội.
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà
Nội.
16. Hoàng Quốc Hải (2003), Bão táp cung đình, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
17. Hoàng Quốc Hải (2003), Thăng Long nổi giận, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
18. Hoàng Quốc Hải (2003), Huyền Trân công chúa, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
19. Hoàng Quốc Hải (2003), Vương triều sụp đổ, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
20. Nguyễn Thị Hằng (1999), Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải
thời đổi mới, Luận văn thạc sỹ khoa học ngữ văn, ĐHSP, Hà Nội.
21. Dƣơng Thu Hƣơng (1988), Bên kia bờ ảo vọng, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
22. Dƣơng Thu Hƣơng(1988), Những thiên đường mù, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
23. Dƣơng Thu Hƣơng (1989), Quãng đời đã mất, NXB Hải Phòng, Hải Phòng.
24. Phạm Thị Hoài (1989), Mê lộ, NXB Tổng hợp Phú Khánh, Phú Khánh.
25. Phạm Thị Hoài (1995), Man nương, NXB Hà nội, Hà Nội.
47. Nguyễn Văn Lƣu (1995), Luận chiến văn chương, NXB Văn học, Hà Nội.
48. Hữu Mai (1971), Vùng trời, Tập I, NXB QĐND, Hà Nội.
49. Hữu Mai (1974), Vùng trời, tập II, NXB QĐND, Hà Nội.
50. Hữu Mai (2000), Ông cố vấn, NXB QĐND, Hà Nội.
51. Nguyễn Đăng Mạnh (1985), “Về một xu hƣớng tiểu thuyết đang phát triển”,
Báo Nhân dân (ngày 26/10/1985).
52. Lê Minh (1976), Tiếng gió, NXB Lao động, Hà Nội.
53. Vƣơng Trí Nhàn (2001), Nghiệp văn, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội.
54. Bảo Ninh (2003), Thân phận tình yêu, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
55. Đỗ Hải Ninh (2002), “Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng”, TC
Sông Hương , (số 10-2002).
56. Đào Thuỷ Nguyên (1999), Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Luận
văn thạc sỹ khoa học ngữ văn, ĐHSP, Hà Nội.
57. Lê Thành Nghị (1990), “Về ngƣời trí thức trong Đám cƣới không có giấy giá
thú, Báo Nhân dân (ngày4/8/1990).
58. Huy Phƣơng (1986), Xi măng, NXB Văn học, Hà Nội.
59. Lê Phƣơng (1977), Thung lũng Cô Tan, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
60. Pospelov (1988), Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXB GD, Hà Nội.
(Trần
Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch)
61. Số phận của tiểu thuyết (1993), NXB Tác phẩm mới, Hà Nội.
nhóm biên dịch: Lại Nguyên Ân, Nguyễn Minh, Phong Vũ)
62. Võ Huy Tâm (1975), Vùng mỏ, NXB Văn học, Hà Nội.
(
63. Tạp chí Văn học và tuổi trẻ (2004), (số 10- 2004)
82. Nguyễn Mạnh Tuấn (1986), Cù lao tràm, Tập I, NXB Hải Phòng, Hải Phòng.
83. Nguyễn Mạnh Tuấn (1986), Cù lao tràm, Tập 2, NXB Hải Phòng, Hải Phòng.
84. Phan Tứ (1978), Mẫn và tôi, NXB Thanh niên, Hà Nội.
85. Nguyễn Huy Tƣởng (1996), Sống mãi với Thủ Đô, NXB Hà Nội, Hà Nội.
86. Lê Ngọc Trà (2002), “Văn học những năm đầu đổi mới”, TC Văn học, (số 22002)
87. Nguyễn Khắc Trƣờng (2002), Mảnh đất lắm người nhiều ma, NXB Hội nhà
văn, Hà Nội.
88. Chu Văn, Bão biển, Tập I (1975), Tập II (1978), , NXB Văn học, Hà Nội.
89. Đào Vũ (1959), Cái sân gạch, NXB Văn học, Hà Nội.
90. Đào Vũ (1961), Vụ lúa chiêm, NXB Văn học, Hà Nội.