VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TUẤN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC,
VIÊN CHỨC TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN MINH PHƢƠNG
Đà Nẵng, năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Ngọc Tuấn, học viên Lớp Thạc sỹ Chính sách công
khóa V, Niên khóa 2014-2016 tại Học viện khoa học xã hội, cơ sở tại Đà
Nẵng.
Qua 2 năm học tập và nghiên cứu tại Học viện và được PGS.TS Nguyễn
Minh Phương hướng dẫn khoa học, Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu do tôi thực hiện, các số liệu, kết quả thể hiện trong luận văn là
trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác.
Học viên
Nguyễn Ngọc Tuấn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM ................ 8
1.1. Lý luận về chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức ................ 8
1.2. Chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức ở nƣớc ta hiện nay . 32
Kết luận Chƣơng 1 .......................................................................................... 42
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM .................................................................................... 43
2.1. Chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức tại thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam .............................................................................................. 43
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức tại
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ................................................................... 53
Kết luận Chƣơng 2 .......................................................................................... 65
CHƢƠNG 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở NƢỚC
TA ................................................................................................................... 66
3.1. Nhu cầu, mục tiêu, định hƣớng hoàn thiện chính sách phát triển cán bộ,
công chức, viên chức ở nƣớc ta....................................................................... 66
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên
chức ở nƣớc ta ................................................................................................. 72
3.3. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển cán bộ, công chức,
viên chức của Thị xã Điện Bàn ....................................................................... 75
Kết luận Chƣơng 3 .......................................................................................... 81
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
CB,CC,VC
:
Cán bộ, công chức, viên chức
CC,VC
:
Công chức, viên chức
CCHC
:
Cải cách hành chính
CNH
:
Công nghiệp hoá
CT-XH
:
Chính trị xã hội.
PGS
:
Phó Giáo Sƣ
SL
:
Số lƣợng
THPT
:
Trung học phổ thông
ThS
:
Thạc Sỹ
TS
:
Tiến sỹ
Đối với Thị xã Điện Bàn, trong những năm qua các cấp chính quyền đã
tích cực thực hiện các khâu trong chính sách phát triển CB,CC,VC, từ nhận
xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dƣỡng, bố trí sử dụng đến thực hiện
chính sách cán bộ đều đƣợc thực hiện nghiêm túc, đúng nguyên tắc, quy chế,
1
quy trình về công tác cán bộ. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ đã có những chuyển
biến về chất, đảm bảo về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, lý luận
chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức tổ chức kỷ luật và có năng lực thực tiễn;
góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của thị xã. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt đƣợc, quá trình thực hiện chính sách phát triển CB,CC,VC
vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khuyết điểm nhƣ: Một số đơn vị thực hiện quy
trình đề bạt, bầu cử cán bộ không gắn với công tác quy hoạch cán bộ và đánh
giá cán bộ. Công tác tuyển dụng cán bộ những ngành chuyên môn mà Thị xã
đang cần còn gặp khó khăn. Công tác đào tạo, bồi dƣỡng CB,CC,VC còn chạy
theo số lƣợng, chƣa chú trọng về chất lƣợng. Công tác quy hoạch cán bộ còn có
biểu hiện hình thức, khép kín trong các cơ quan, đơn vị.
Trƣớc yêu cầu về phát triển đội ngũ CB, CC, VC trong tình hình mới,
việc đánh giá đúng thực trạng thực hiện chính sách phát triển CB, CC, VC ở
thị xã làm cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới chính sách phát triển
CB,CC,VC của nƣớc ta nói chung và thị xã Điện Bàn nói riêng trong thời
gian đến; Nhận thấy đây là vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao
nên tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài “Chính sách phát triển CB,CC,VC từ
thực tiễn th
iện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn cao học
chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
chính sách cán bộ.
Tác động của chính sách cán bộ đối với đội ngũ cán bộ công chức. Bài
viết của Lê Văn Dũng (Trƣờng Chính trị Phạm Hùng, 2014). Tác giả nêu các
quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với đội ngũ CB,CC,VC.
Khẳng định chính sách cán bộ là một trong những chính sách lớn của Đảng
và Nhà nƣớc, có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của đất nƣớc.
Đổi mới công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới của PGS.TS
Trần Khắc Việt, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – tháng 7/2013. Tác giả xác
3
định công tác cán bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định
thành bại của sự nghiệp cách mạng. Đổi mới công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của thời kỳ mới là chủ trƣơng lớn, nhất quán của Đảng. Qua đó, tác
giả đƣa ra 4 nhóm giải pháp đổi mới công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ cán
bộ các loại, các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập quốc tế đến năm 2020.
Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức ở
nước ta hiện nay của ThS.Thạch Thọ Mộc đăng trên Website của Viện Khoa
học tổ chức nhà nƣớc. Tác giả xác định đội ngũ CB,CC có vị trí rƣờng cột
trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan hành chính, có vai trò quyết định
đến sự phát triển của đất nƣớc; Do đó, tiếp tục đổi mới công tác quản lý đội
ngũ công chức trong nền công vụ là một yêu cầu có tính tất yếu khách quan,
vừa mang tính cấp thiết và vừa mang tính kế thừa, thƣờng xuyên, liên tục và
lâu dài trong các giai đoạn phát triển của đất nƣớc.
Đổi mới công tác cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện
mới của TS. Trần Văn Minh đăng trên website của Nhà xuất bản chính trị
quốc gia tháng 01/2015. Tác giả cho rằng chính sách CB,CC,VC phải trở
thành nguồn động lực để cán bộ phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
phát triển CB,CC,VC. Vận dụng lý thuyết về chính sách công để nghiên cứu
thực trạng thực hiện chính sách phát triển CB,CC,VC ở thị xã Điện Bàn. Đề
xuất các giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách phát triển CB,CC,VC ở
nƣớc ta nói chung và thị xã Điện Bàn nói riêng trong thời gian đến.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn thực hiện
chính sách phát triển CB,CC,VC dƣới góc độ khoa học chính sách công.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: chính sách phát triển CB,CC,VC cấp thị xã Điện
5
Bàn, không nghiên cứu CB,CC cấp xã, phƣờng và CB,CC,VC các ngành dọc
đóng trên địa bàn do cấp tỉnh quản lý (Công An, Quân sự, Chi Cục Thuế,
Viện Kiểm sát, Toà án, Thi hành án, Kho Bạc nhà nƣớc).
Về thời gian: Tập trung đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát
triển CB,CC,VC từ năm 2011 đến năm 2015 và đề xuất quan điểm, giải pháp
hoàn thiện chính sách phát triển CB,CC,VC giai đoạn 2016-2021.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nƣớc về phát triển đội ngũ CB, CC,VC. Luận văn sử
dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và thực hiện một số
phƣơng pháp nghiên cứu chính sách công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, luận văn vận dụng
các phƣơng pháp: Phƣơng pháp thống kê, thu thập thông tin, phƣơng pháp
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM
1.1. Lý luận về chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức
1.1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1.1. Khái niệm cán bộ
Theo khoản 1, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức (Luật số: 22/2008/QH12)
thì: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước.” [20]
1.1.1.2. Khái niệm công chức
Theo khoản 1, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức (Luật số: 22/2008/QH12)
thì: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công
chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương
được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
8
9
đến cuộc sống của mọi công dân” (B. Guy Peter, 1990). “Chính sách công là
một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các
quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nƣớc hay các quan chức nhà
nƣớc đề ra” (William N. Dunn, 1992). “Chính sách công bao gồm các quyết
định chính trị để thực hiện các chƣơng trình nhằm đạt đƣợc những mục tiêu xã
hội” (Charle L. Cochran and Eloise F. Malone, 1995).
Ở nƣớc ta, PGS.TS. Lê Chi Mai cho rằng “Cho đến nay trên thế giới, cuộc
tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt
đƣợc sự nhất trí rộng rãi” tuy vậy theo bà chính sách công có những đặc trƣng
cơ bản nhất nhƣ: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nƣớc; chính sách
công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành
động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải
quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu
xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn
nhau. "Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn
đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức
khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”. [18] Hoặc“Chính sách công là
tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các
mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã
hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” [33]
Chính sách công là chính sách của Nhà nƣớc, là kết quả của việc cụ thể
hóa chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, với mục
tiêu, giải pháp, công cụ thực hiện cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc, duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc,
phát triển kinh tế xã hội và phục vụ ngƣời dân.
1.1.1.5. Khái niệm chính sách phát triển CB,CC,VC
Theo quan điểm về chính sách công nói chung nhƣ trên và nhiệm vụ phát
loại văn bản của Đảng, nhà nƣớc, các cơ quan chuyên môn, các tổ chức chính
11
trị xã hội dƣới các hình thức nhƣ: nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quyết
định, nghị định, thông tƣ, các chiến lƣợc
Chủ thể của chính sách phát triển CB,CC,VC là Đảng, Nhà nƣớc, các tổ
chức trong hệ thống chính trị, trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện
nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và ngƣời đứng đầu các tổ
chức trong hệ thống chính trị, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ và quyết
định tập thể về công tác cán bộ. Mọi nội dung, phƣơng pháp lãnh đạo của
Đảng trong công tác cán bộ đƣợc bảo đảm bằng tổ chức, quy chế nên đã góp
phần đổi mới cách nghĩ, cách làm trong công tác cán bộ nói chung và chính
sách phát triển CB,CC,VC nói riêng. Đội ngũ CB,CC,VC là đối tƣợng của
chính sách phát triển CB,CC,VC, vừa là ngƣời tham gia xây dựng và thực hiện
chính sách phát triển CB,CC,VC.
1.1.2. Vấn đề chính sách phát triển cán bộ, công chức, viên chức
1.1.2.1. Vấn đề chính sách
Xác định vấn đề chính sách công là giai đoạn khởi đầu nằm trong chu
trình chính sách bao gồm từ bƣớc khởi đầu phát hiện ra những mâu thuẫn nảy
sinh trong đời sống xã hội cần đƣợc giải quyết bằng chính sách cho đến khi
hoàn thành những mục tiêu của chính sách công. Những vấn đề chính sách
thƣờng là những mẫu thuẫn xã hội nẩy sinh phải đƣợc Nhà nƣớc giải quyết
bằng chính sách công; Mâu thuẫn đƣợc giải quyết thì khoảng cách đƣợc lấp
đầy, theo cách giải thích này thì những mẫu thuẫn xã hội nẩy sinh, những vấn
đề kinh tế - xã hội hôm nay không đƣợc giải quyết s sớm trở thành vấn đề
chính trị. Các trở ngại, khó khăn, vƣớng mắc trong xã hội cần đƣợc giải quyết
bằng chính sách hoặc các bất hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn
nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản
lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ
13
nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa
địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. [2]
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó là:
Nhiều CB,CC,VC của nƣớc ta đã trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nƣớc, đa số tham gia, trƣởng thành sau ngày miền Nam hoàn toàn giải
phóng. Vì vậy, nhiều trƣờng hợp chƣa đƣợc đào tạo một cách hệ thống, bài
bản.
Việc triển khai Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc
về chính sách phát triển CB,CC,VC của các cơ quan, đơn vị còn thiếu quyết
liệt nên hiệu quả chƣa cao. Một số nơi ngƣời đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa
phƣơng chƣa thật sự gƣơng mẫu trong vấn đề đạo đức lối sống và trách nhiệm
trong công việc nên đã tác động tiêu cực đến tƣ tƣởng của cấp dƣới trong thực
thi nhiệm vụ.
Cùng với quá trình hội nhập của đất nƣớc, sự chuyển đổi của nền kinh tế
thị trƣờng, đội ngũ CB,CC,VC của nƣớc ta mới chỉ bƣớc đầu đƣợc làm quen
nên chƣa nắm vững đƣợc cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trƣờng, trừ một
số mới đƣợc đào tạo về quản lý kinh tế thị trƣờng. Nguyên nhân này đã tác
động rất lớn đến chất lƣợng đội ngũ CB,CC,VC của thị xã, nhiều công chức
tỏ ra lúng túng và hẫng hụt kiến thức trƣớc những thay đổi công việc và vị trí
công tác.
Thiếu những quy định cụ thể trong các đơn vị về trách nhiệm của
CB,CC,VC; cơ chế quản lý, kiểm tra giám sát của tổ chức và thủ trƣởng trực
tiếp cũng nhƣ của nhân dân đối với hoạt động của CB,CC,VC còn hạn chế,
quan nhà nƣớc từ trung ƣơng đến cấp huyện đƣợc thực hiện theo quy định của
Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật kiểm toán nhà nƣớc, Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nhân sự đƣợc bầu hoặc
15
phê chuẩn cơ bản đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo
đức, năng lực, trình độ, có kinh nghiệm, năng lực thực tiễn, số lƣợng, cơ cấu
hợp lý.
Trong công tác bầu cử cán bộ, việc lấy phiếu tín nhiệm giúp phòng ngừa,
ngăn chặn những biểu hiện độc đoán mất dân chủ của ngƣời đứng đầu cơ
quan, nhƣng có mặt hạn chế là đôi khi chúng ta không chọn đƣợc những
ngƣời tốt nhất, có triển vọng nhất mà chỉ chọn đƣợc những ngƣời đƣợc lòng
đa số của cấp dƣới, đối với những nơi mất đoàn kết nghiêm trọng, bè phái thì
đa số không phải bao giờ cũng tốt. Bên cạnh đó, do quy định bằng cấp chuyên
môn đƣợc chú trọng nhiều hơn nên tình trạng chạy đua bằng cấp, sử dụng
bằng giả xảy ra ở nhiều nơi, nhiều cấp.
Về tuyển dụng công chức, viên chức là khâu đầu tiên có tính quyết định
đến chất lƣợng nguồn nhân lực của cơ quan, là quá trình bổ sung những ngƣời
đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ CC,VC. Đây là quá trình thƣơng xuyên
và cần thiết để xây dựng và phát triển đội ngũ CC,VC. Luật cán bộ, công chức
hiện hành nêu rõ: việc tuyển dụng phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí
việc làm, chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai,
minh bạch, khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh. Luật Viên
chức hiện hành cũng nêu rõ: việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu
cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền
lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập. Việc tuyển dụng viên chức đƣợc thực
24/2010/NĐ-CP có thể s tạo ra “cục bộ” trong công tác tuyển dụng CC,VC.
Bên cạnh đó, chế độ tuyển dụng CB,CC,VC hiện nay rất ít cơ quan, địa
phƣơng thực hiện nghiêm túc, vẫn còn minh bạch hình thức, thƣờng đặt ra các
„„quy định nội bộ‟‟ để định hƣớng, „„ƣu tiên‟‟ tuyển dụng con em trong
ngành, những ngƣời đã có hợp đồng lao động với đơn vị chủ quản, những
ngƣời có mối quan hệ thân thích. Trong nhiều cơ quan, tổ chức, việc tuyển
dụng CC,VC còn nặng về văn bằng, chứng chỉ, chƣa chú trọng nhiều đến
17
năng lực thực thi công vụ của CC,VC, nội dung thi tuyển chƣa phù hợp, chƣa
thực sự quan tâm đến năng lực và kỹ năng xử lý vấn đề của ngƣời đƣợc tuyển
dụng. Chất lƣợng công tác chuyên môn của một số viên chức sau khi đƣợc
tuyển dụng còn hạn chế. Việc tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề
nghiệp theo quy định của Luật viên chức chƣa đƣợc thực hiện. Thực trạng này
dẫn đến nhiều hạn chế trong việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ viên chức, làm
suy giảm hiệu quả hoạt động công vụ và chƣa thu hút đƣợc nguồn nhân lực có
chất lƣợng cao trong nền công vụ.
Việc tổ chức thi nâng ngạch cạnh tranh là một vấn đề mới, đƣợc tổ chức
thực hiện trong vài năm qua, trong điều kiện chƣa xây dựng đƣợc vị trí việc
làm và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị nên quá
trình thực hiện còn lúng túng.
1.1.2.4. Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
Đào tạo, bồi dƣỡng CB,CC,VC là quá trình trang bị và bổ sung tri thức,
kỹ năng cũng nhƣ phẩm chất đạo đức cho cán bộ nhằm nâng cao chất lƣợng
và hiệu quả công tác, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc. Đào tạo,
bồi dƣỡng CB,CC,VC là nhiệm vụ thƣờng xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp
phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác,
chất lƣợng và hiệu quả làm việc của CB,CC,VC; hƣớng tới mục tiêu là tạo
tính đặc thù riêng biệt của từng vị trí việc làm của CB,CC,VC. Phƣơng pháp
đào tạo, bồi dƣỡng chậm đổi mới; các trang thiết bị dạy học một số nơi còn
lạc hậu, chƣa đƣợc tăng cƣờng cho phù hợp với yêu cầu hiện đại hoá. Đội ngũ
giảng viên còn yếu và thiếu, chƣa đƣợc chú trọng bồi dƣỡng phát triển toàn
diện. Chế độ chính sách cho CB,CC,VC đƣợc cử đi đào tạo, bồi dƣỡng tuy đã
đƣợc điều chỉnh, bổ sung, nâng cao hơn so với trƣớc, song còn thấp và chƣa
phù hợp. Công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng chƣa
đƣợc chú trọng, kế hoạch có lúc có nơi còn hình thức, chƣa xuất phát từ nhu
cầu của đơn vị.
19
Từ các vấn đề nêu trên đặt ra yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lƣợng, hiệu
quả công tác đào tạo, bồi dƣỡng CB,CC,VC nói chung, đổi mới nội dung
chƣơng trình, giáo trình, phƣơng pháp và tài liệu giảng dạy cho phù hợp theo
yêu cầu của vị trí việc làm, trong đó chú trọng kỹ năng thực tiễn, kỹ năng làm
việc nhóm áp dụng cho từng đối tƣợng ngƣời học; cần có sự liên thông trong
nội dung chƣơng trình, giảm bớt nội dung trùng lắp.
1.1.2.5. Về quy hoạch cán bộ, công chức, viên chức
Quy hoạch cán bộ là việc bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
các ngành, các cấp, các lĩnh vực theo một kế hoạch dài hạn sao cho mỗi cán
bộ đƣợc đào tạo phát huy năng lực, phẩm chất của mình, nhằm hoàn thành có
hiệu quả những nhiệm vụ đảm nhận và chuẩn bị những điều kiện tốt cho thời
kỳ, giai đoạn tiếp theo. Quy hoạch cán bộ là việc tạo nguồn cán bộ cho cả
hiện tại và tƣơng lai, cho nên quy hoạch cán bộ là công việc thƣờng xuyên
trong đời sống chính trị của Đảng cầm quyền. Quy hoạch để có kế hoạch đào
tạo, bồi dƣỡng cán bộ, tạo cơ hội cho cán bộ có hƣớng rèn luyện, phấn đấu,
không ngừng vƣơn lên đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nƣớc.
Mục đích của chính sách quy hoạch cán bộ là tạo sự chủ động, có tầm