MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT
Ký hiệu
Giải thích ký hiệu
1
BCTC
Báo cáo tài chính
2
KTV
Kiểm toán viên
3
ISA
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
4
SAS
Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ
WTO
Tổ chức thương mại toàn cầu
Ngân sách nhà nước
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang
1
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển, các công ty và tổ chức
kinh tế cũng ngày càng tăng lên về quy mô và số lượng.Tuy nhiên, bên cạnh
sự ra đời của những doanh nghiệp mới thì cũng có hàng loạt các công ty, tập
đoàn kinh tế lớn không chỉ trong quy mô quốc gia, mà với quy mô toàn cầu
đã bị phá sản. Nguyên nhân dẫn tới sự diệt vong của những công ty nói trên
chủ yếu do có sự gian lận trong các hoạt động tài chính. Trước tình hình đó,
kiểm toán trở thành nhu cầu bức thiết hơn bao giờ hết, để củng cố lòng tin của
những người quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp.Mục đích của
kiểm toán tài chính là xem xét các thông tin trên Báo cáo tài chính có được
trình bày trung thực và hợp lý hay không, có chứa đựng những sai phạm trọng
yếu hay không. Việc phát hiện ra các hành vi gian lận hay sai sót có ý nghĩa
rất quan trọng không chỉ riêng đối với doanh nghiệp mà còn đối với cả nền
kinh tế quốc gia. Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy rằng có nhiều công ty
vẫn bị phá sản hay lâm vào tình trạng khủng hoảng do ảnh hưởng của các
hoạt động gian lận ngay cả khi công ty đã được tiến hành kiểm toán báo cáo
nhau.
Sai sót là những lỗi không cố ý,thường được hiểu là sự nhầm lẫn, bỏ sót
hoặc do yếu kém về năng lực nên gây ra sai phạm. Chẳng hạn trong lĩnh vực
kế toán tài chính, sai sót có thể là lỗi cộng số học, bỏ sót hoặc hiểu sai sự việc
một cách cố tình; áp dụng sai nguyên tắc, chế độ kế toán tài chính do thiếu
năng lực…
3
Theo chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ SAS 99 thì sai sót là những sai phạm
không cố ý có thể gây nên những thiếu sót về số lượng cũng như thông tin
trên các báo cáo tài chính
Sai sót có thể phát sinh từ việc ghi nhận, xác định giá trị, trình bày hoặc
thuyết minh các khoản mục trên báo cáo tài chính. Sai sót bao gồm: Sai sót
do tính toán, áp dụng sai chính sách kế toán, bỏ quên, hiểu hoặc diễn giải sai
các sự việc và gian lận. Sai sót do tính toán là sai sót do tính nhầm dẫn đến
việc ghi nhận sai, như tính nhầm giá trị tài sản, khoản phải thu, nợ phải trả,
khoản chi phí, ...
Áp dụng sai chính sách kế toán là sai sót do hiểu sai chuẩn mực kế toán
nên vận dụng sai chính sách kế toán, hoặc chuẩn mực kế toán mới đã có hiệu
lực nhưng doanh nghiệp vẫn áp dụng chuẩn mực cũ;
Bỏ quên không ghi nhận một hoặc một vài giao dịch kinh tế nào đó như
mua TSCĐ nhưng bỏ quên chưa ghi sổ TSCĐ; bán hàng nhưng chưa ghi nhận
doanh thu và khoản phải thu,....
Hiểu hoặc diễn giải sai các sự việc là sai sót do hiểu sai các sự việc, như:
Theo quy định thì TSCĐ đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn tiếp tục được sử
dụng vào sản xuất, kinh doanh thì không được trích khấu hao nhưng doanh
nghiệp hiểu sai lại đánh giá lại và tiếp tục trích khấu hao.
Gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp
nhằm lừa gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Ba biểu hiện thường
lận có thể mang lại lợi ích cho một cá nhân, hoặc vì lợi
ích được của một đơn vị tổ chức hoặc chương trình. Khi một cá nhân gian lận,
những lợi ích có thể trực tiếp (nhận tiền hoặc tài sản), hoặc gián tiếp (phần
thưởng của chương trình khuyến mãi, tiền thưởng, quyền lực và ảnh
hưởng). Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động trên tư cách tổ chức)
thực hiện gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu
nhập của công ty tăng lên.
Qua các khái niệm trên, có thể thấy gian lận và sai sót đều là hành vi sai
phạm. Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận và sai sót đều làm lệch lạc
5
thông tin, phản ánh sai thực tế, hơn nữa cho dù là bất kỳ ai thực hiện hành vi
gian lận và sai sót thì trách nhiệm luôn liên đới tới những nhà quản lý tài
chính , kế toán nói riêng và nhà quản lý nói chung . Tuy nhiên giữa gian lận
và sai sót lại có những điểm khác nhau về nhiều mặt
1.1.1.2. So sánh giữa gian lận và sai sót
Qua các khái niệm trên, gian lận và sai sót đều là hành vi sai phạm.
Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận và sai sót đều làm lệch lạc thông
tin, phản ánh sai thực tế, hơn nữa cho dù là bất kỳ ai thực hiện hành vi gian
lận và sai sót thì trách nhiệm luôn liên đới tới những nhà quản lý tài chính , kế
toán nói riêng và nhà quản lý nói chung .
Tuy nhiên giữa gian lận và sai sót lại có những điểm khác nhau về nhiều
mặt như về mặt hình thức, về mức độ tinh vi hay về tính trọng yếu của sai
phạm được trình bày ở bảng dưới đây:
Các mặt so sánh
Về mặt hình thức
Về mức độ tinh vi
6
Sự xúi giục: xúi giục được xem là một loại áp lực có thể từ phía cá nhân
người thực hiện hành vi gian lận hoặc bởi một người nào đó. Chẳng hạn, do
có nhu cầu về tiền bạc để trang trải một số khoản nợ , hoặc muốn trở nên giàu
có nhanh, muốn nổi tiếng … sẽ khiến con người nảy sinh ý muốn gian lận,
hay khi chịu sức ép từ cấp trên buộc phải thực hiện các hành vi gian lận nhằm
phục vụ lợi ích bất hợp pháp của doanh nghiệp hay của cấp trên cũng gây nên
gian lận.
Cơ hội: cơ hội chính là thời cơ để thực hiện hành vi gian lận. Khi chức
vụ càng cao trong một tổ chức thì càng có nhiều cơ hội để thực hiện hành vi
gian lận .Cơ hội tồn tại khi một nhân viên phát hiện ra một điểm yếu trong hệ
thống kiểm soát chống gian lận của doanh nghiệp. Sau đây là một số ví dụ về
cơ hội:
• Khi một điểm yếu có thể tồn tại, một nhân viên có thể thiết lập một nhà
cung cấp giả mạo vàlừa đảo có hóa đơn thanh toán và gửi đến một địa
chỉ mà người đóđiều khiển.
• Không ai kiểm kê hàng tồn kho, do vậy hàng tồn kho có thiếu cũng
không ai biết.
• Két tiền mặt thường xuyên quên không khóa mà không ai để ý tới tạo
cơ hội cho gian lận.
• Phó giám đốc tài chính có thẩm quyền trong các quyết định đầu tư mà
không có bất kỳ sự giám sát, kiểm tra nào từ phía người khác…
Thiếu liêm khiết: thiếu liêm khiết sẽ làm cho sự kết hợp giữa sự xúi giuc
và cơ hội biến thành hành động gian lận.Theo đó người có hành gian lận,
hoặc thuyết
phục họ rằng hành
động không
yếu ảnh hưởng đến các hành vi gian lận- sai sót:
Những vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của Ban
Giám đốc:
• Công tác quản lý bị một người (hay một nhóm người) độc quyền nắm
giữ, thiếu sự giám sát có hiệu lực của Ban Giám đốc hoặc Hội đồng quản trị;
• Cơ cấu tổ chức của đơn vị được kiểm toán phức tạp một cách cố ý;
• Sự bất lực trong việc sửa chữa những yếu kém của hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ trong khi những yếu kém này hoàn toàn có thể khắc
phục được;
• Thay đổi thường xuyên kế toán trưởng hoặc người có trách nhiệm của
8
bộ phận kế toán và tài chính;
• Thiếu nhiều nhân viên kế toán trong một thời gian dài;
• Bố trí người làm kế toán không đúng chuyên môn hoặc người bị pháp
luật nghiêm cấm;
• Thay đổi thường xuyên chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán
viên.
Các sức ép bất thường trong đơn vị hoặc từ bên ngoài vào đơn vị
• Ngành nghề kinh doanh gặp khó khăn và số đơn vị phá sản ngày càng
tăng;
• Thiếu vốn kinh doanh do lỗ, hoặc do mở rộng quy mô doanh nghiệp
quá nhanh;
• Mức thu nhập giảm sút;
• Doanh nghiệp cố ý hạch toán tăng lợi nhuận nhằm khuyếch trương hoạt động;
• Đầu tư quá nhanh vào ngành nghề mới hoặc loại sản phẩm mới làm
mất cân đối tài chính;
• Doanh nghiệp bị lệ thuộc quá nhiều vào một số sản phẩm hoặc một số
khách hàng;
được phê duyệt và không được kiểm tra;
• Thông tin, tài liệu in từ máy vi tính không phù hợp với báo cáo tài
chính;
• Các thông tin in ra từ máy vi tính mỗi lần lại khác nhau.
1.1.1.4.Một số vụ gian lận trên báo cáo tài chính nổi tiếng trên thế giới .
Trong quá trình phát triển, kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều vụ gian
lận nổi tiếng gây ra hậu quả với mức độ nghiêm trọng. Có thể kể đến 3 vụ
gian lận nổi tiếng sau: tập đoàn Enron năm 2001, tập đoàn Worldcom năm
2002, ngân hàng đầu tư Lehman Brothers năm 2008
Tập đoàn năng lượng Enron: Enron xếp thứ 7 trong danh sách 500
công ty có doanh thu cao nhất năm 2000 của tạp chí Fortune, vượt qua cả
AT&T và IBM. Trong vòng 5 năm doanh thu của Enron tăng lên 10 lần từ 9,2
tỷ USD năm 1995 lên 100,8 tỷ USD năm 2000. Mặc dù năm 2000 doanh thu
của Enron rất lớn nhưng lợi nhuận của Enron chỉ nhỏ hơn 1 tỷ USD ( 1%
10
doanh thu) , tốc độ tăng doanh thu là 150% nhưng lợi nhuận tăng ít hơn 10% .
Quý III năm 2001 lợi nhuận Enron giảm 586 triệu USD , giá cổ phiếu giảm
mạnh từ 80USD/1 cổ phiếu năm 2000 xuống còn 0,25USD/1 cổ phiếu tháng
12/2001.Lãnh đạo Enron đã không chịu đứng ở lĩnh vực sản xuất và buôn bán
năng lượng mà lại nhảy sang những lĩnh vực dịch vụ tài chính trong ngành
năng lượng. Đây là lĩnh vực kinh doanh đầy mạo hiểm và cần rất nhiều
vốn.Để che giấu việc công ty đã vay quá khả năng chi trả, lãnh đạo Enron đã
lợi dụng kẽ hở luật pháp để lập ra các công ty con mà không khai báo tài
chính.Bằng cách này, Enron vừa không phải công khai các khoản nợ, vừa che
giấu được những khoản lỗ. Kết quả là Enron đã thổi phồng lợi nhuận của
mình và giá cổ phiếu của công ty cũng theo đó tăng lên vun vút. Khi mà
Enron phải thông báo chính thức rằng từ năm 1997 công ty đã thua lỗ trên
500 triệu USD, những người "trong cuộc" đã kịp thời thu những món lợi
số này nếu có tính khoản chi phí trên sẽ không đúng. Worldcom đã có những
gian lận trong việc ghi nhận doanh thu khống đồng thời đẩy chi phí hiện tại về
kì sau, giấu chi phí và các khoản lỗ…
Ngân hàng Lehman Brothers: Vụ phá sản lớn nhất của nền kinh tế Mỹ
diễn ra năm 2008 khi chịutác động của cuộc khủng hoảng kinh tế. Theo báo
cáo chi tiết về nguyên nhân sụp đổ của ngân hàng ngày đã được ban hành,
ngày 11/03/2010, các giao dịch Repo 105 được sử dụng rất nhiều trong giai
đoạn cuối năm tài chính 2007 và 2008 nhằm cố tình tạo ra sự sai lệch trọng
yếu trong bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của Lehman. Trong giai
đoạn này, Lehman, với sự “trợ giúp” của Repo 105, đã “hô biến” tạm thời gần
50 tỷ đô la giá trị tài sản tại thời điểm cuối quý I và quý II năm 2008, thời
12
điểm mà thị trường tài chính đang lo lắng trước tình trạng sử dụng đòn bẩy tài
chính quá cao của các ngân hàng.Repo 105 thực chất là nghiệp vụ thoả thuận
bán tái mua tài sản (Repurchase Agreement) của Lehman. Trong một thoả
thuận bán tái mua, một bên chuyển giao tài sản hoặc chứng khoán cho bên
còn lại trong thoả thuận như một khoản ký quỹ để vay tiền ngắn hạn, đồng
thời cam kết trả lại tiền và nhận lại tài sản hoặc chứng khoán ký quỹ tại một
thời điểm cụ thể trong tương lai.Cho dù trong báo cáo tài chính phát hành ra
công chúng của Lehman nêu rằng giao dịch bán tái mua được ghi nhận như
một nghiệp vụ tài trợ, nhưng thực tế Lehman đã ghi nhận giao dịch Repo 105
là một khoản doanh thu của ngân hàng. Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy
các giao dịch Repo 105 lên đến gần 50 tỷ đô la Mỹ đã không thoả mãn các
điều kiện của chuẩn mực kế toán -SFAS 140 để được ghi nhận như một khoản
doanh thu.Ngoài ra, theo báo cáo điều tra, một trong những nguyên nhân
chính Lehman sử dụng Repo 105 để giảm hệ số nợ là nhắm tới phương pháp
đánh giá của Hãng đánh giá định mức tín nhiệm S&P nhằm duy trì hệ số tín
nhiệm. Lehman cho rằng phương pháp của S&P tập trung vào đánh giá ảnh
những nhà phân phối hoàn trả lại hàng khi sắp hết hạn sử dụng.Mặc dù
thường xuyên có một tỉ lệ hàng trả lại nhất định nhưng vào cuối năm, công ty
vẫn “quên” lập dự phòng cho số hàng này.
Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các
nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán… hoặc ghi nhận doanh thu khi
các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, chưa chuyển quyền sở hữu và chuyển
rủi ro đối với hàng hoá – dịch vụ được bán.Thường gặp nhất là việc các công
ty ghi nhận các khoản thu nhập khác vào doanh thu như thu nhập từ hoạt động
tài chính và thu nhập bất thường, nhằm tăng tỉ lệ tăng trưởng doanh thu, tạo
ảo tưởng về tiềm năng phát triển của công ty. Các khoản thu nhập như chiết
14
khấu thanh toán, thanh lý tài sản cố định là ví dụ.
1.1.2.2. Ghi nhận sai niên độ:
Doanh thu hay chi phí được ghi nhận không đúng với thời kỳ mà nó phát
sinh. Doanh thu hoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay
ngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập theo mong muốn. Các phương
pháp chính thực hiện gian lận này:
Đối với chi phí:
• Doanh nghiệp tính khấu hao tài sản quá nhanh hay quá chậm: việc thay
đổi thời gian khấu hao của tài sản được kéo dài hay rút ngắn đi nhằm giảm
hay tăng chi phí khấu hao
• Đánh giá tài sản với giá trị không hợp lý
• Ghi nhận sai các khoản phải thu khó đòi và định giá thấp các khoản đầu tư
Đối với doanh thu:
• Tạo các khoản dự phòng không đúng để đẩy vào doanh thu kỳ sau
• Ghi nhận doanh thu kỳ hiện tại cho kỳ sau
• Kế toán các công cụ phái sinh để làm tăng doanh thu
• Tạo ra các khoản dự phòng khi mua bán doanh nghiệp và cho vào
phương pháp chính thực hiện giấu gian lận và chi phí:
• Không ghi một chi phí từ một giao dịch hiện tại: Việc không ghi nhận
chi phí từ một giao dịch hiện tại như việc doanh nghiệp chỉ ghi nhận một phần
chi phí phải bỏ ra, các chi phí gần đến ngày kết thúc niên độ có thể không
được ghi nhận để giảm chi phí (và các khoản công nợ có liên quan ).
• Không ghi nhận công nợ và chi phí, đặc biệt không lập đầy đủ các
khoản dự phòng: doanh nghiệp đôi khi không ghi trích trước chi phí cần thiết
cho các chi phí dự kiến.Những trích trước nói chung là do công ty dự toán
trách nhiệm thường xuyên phát sinh trong hoạt động kinh doanh bình thường,
chẳng hạn như bảo hành của nhà sản xuất,thông thường các chi phí này ước
tính và ghi ở cuối mỗi kỳ kế toán.
16
• Cắt giảm chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D),
chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị cũng là cũng là một cách
có thể làm tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ
quan trọng đối với sự phát triển của công ty về lâu dài, nên sử dụng giải pháp
này cũng đồng nghĩa với việc hy sinh các khoản lợi nhuận tiềm năng trong
tương lai
• Vốn hóa chi phí : Khi doanh nghiệp sử dụng thủ thuật “vốn hóa chi phí’
: Để cải thiện chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế, ngoài vài thủ thuật trong ghi nhận
doanh thu như vừa đề cập, doanh nghiệp còn có thể sử dụng những thủ thuật
làm giảm chi phí kinh doanh trong kỳ bằng cách “vốn hóa” (capitalization).
Với thủ thuật này, chi phí kinh doanh được ghi nhận trên Bảng cân đối kế
toán thay vì được đưa vào Kết quả hoạt động kinh doanh một cách hợp lý.
Ví dụ: Chi phí lãi vay trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản được đưa vào
vận hành trong kỳ.Thông thường các chi phí lãi vay ngân hàng của giai đoạn
trước khi công trình đi vào hoạt động sẽ được vốn hóa vào giá trị công trình.
Chi phí lãi vay sau thời điểm này phải được ghi nhận vào chi phí kinh doanh
thể bị hạch toán thẳng vào giá vốn hàng bán hay chi phí khác để làm giảm giá
trị thành phẩm tồn kho và giá vốn hàng bán trong năm tới.
Chính sách lập dự phòng: Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì tỉ lệ nợ
xấu và hàng hỏng cần lập dự phòng được giảm đi để cải thiện tình hình lợi
nhuận trong năm, đối với ngân hàng thì việc không lập hoặc lập không đủ cho
các khoản đầu tư chứng khoán , đặc biệt là chứng khoán trên thị trường tự do
và những khoản đầu tư dài hạn của các công ty đồng thời ngân hàng có thể
phân loại sai các khoản vay theo mức độ rủi ro nhằm giảm chi phí dự phòng
và tăng thu nhập từ tiền lãi , đối với doanh nghiệp bán lẻ thì thường không lập
đủ dự phòng cho hàng chậm luân chuyển và .
18
Phương pháp khấu hao :Thời gian khấu hao của tài sản được doanh
nghiệp kéo dài để giảm chi phí khấu hao từ đó dẫn đến lợi nhuân tăng. Theo
quy định thì TSCĐ đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn tiếp tục được sử dụng
vào sản xuất, kinh doanh thì không được trích khấu hao nhưng doanh nghiệp
hiểu sai lại đánh giá lại và tiếp tục trích khấu hao
1.1.2.5 Không hợp nhất công ty con khi kết quả bất lợi:
Gần đây, nhiều doanh nghiệp cấu trúc lại hoạt động kinh doanh theo mô
hình công ty mẹ-con để trở thành tập đoàn đa ngành nghề. Với mô hình này,
hoạt động mua bán nội bộ lòng vòng của công ty mẹ và các công ty con là
không tránh khỏi.
Khi hợp nhất báo cáo tài chính, các giao dịch nội bộ này phải được loại
trừ khỏi doanh thu hợp nhất và giá vốn hàng bán phải được đều chỉnh tương
ứng.
Thế nhưng, vì nhiều lý do khác nhau doanh nghiệp (tập đoàn) lại không
tiến hành hợp nhất (consolidation) kết quả kinh doanh của công ty con vào
công ty mẹ và như thế doanh thu của tập đoàn có thể bị ‘thổi phồng’.
Ví dụ: Tập đoàn ABC chuyên sản xuất bếp gas và đang sở hữu 90% công ty
thế giới:
A.Donald R. Cressey (1919-1987):
Donald R. Cressey là nhà nghiên cứu về tội phạm tại trường Đại học
Indiana (Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20. Cressy đã chọn việc nghiên
cứu về vấn đề tham ô, biển thủ làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình.
Cressey tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ thông qua
khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm kinh tế nhằm tìm ra nguyên nhân
dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trên. Ông đã đưa ra mô hình: Tam giác
gian lận (Fraud Triangle) để trình bày về các nhân tố dẫn đến các hành vi gian
lận mà ngày nay đã trở thành một trong những mô hình chính thống dùng
trong nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc nghiên cứu gian lận, trong đó
có nghề nghiệp kiểm toán.
Theo ông, gian lận chỉ phát sinh khi hội đủ 3 nhân tố sau:
- Áp lực: Gian lận thường phát sinh khi nhân viên, người quản lý hay tổ
chức chịu áp lực. Áp lực có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như
do khó khăn về tài chính, do sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa ngưởi chủ và
người làm thuê.
- Cơ hội: Khi đã bị áp lực, nếu có cơ hội, họ sẵn sàng thực hiện hành vi
gian lận. Có hai yếu tố liên quan đến cơ hội là: nắm bắt thông tin và có kỹ
năng thực hiện.
- Thái độ, cá tính: Không phải mọi người khi gặp khó khăn và có cơ hội
cũng đều thực hiện gian lận mà phụ thuộc rất nhiều vào thái độ cá tính của
từng cá nhân. Có những người dù chịu áp lực và có cơ hội thực hiện nhưng
vẫn không thực hiện gian lận và ngược lại.
Tâm lý thông thường của con người là: lần đầu tiên khi thực hiện gian
21
lận, người phạm tội thường tự an ủi rằng, họ sẽ không để chuyện này lặp lại.
Nhưng nếu tiếp tục, người thực hiện sẽ không còn băn khoăn và mọi việc diễn
- Có mối liên hệ thân thiết với khách hàng.
- Cho rằng thù lao nhận được không tương xứng sự đóng góp.
- Có mối quan hệ không tốt với người chủ.
- Có mong muốn chứng tỏ là có thể vượt qua sự kiểm soát của công ty.
- Có thói quen cờ bạc.
- Chịu áp lực từ quá mức.
- Không được công ty ghi nhận về thành tích.
· Dấu hiệu liên quan đến tổ chức
Mười dấu hiệu về tổ chức cho thấy khả năng gian lận xuất hiện cao nhất:
- Đặt quá nhiều lòng tin vào nhân viên chủ chốt.
- Thiếu thủ tục phê chuẩn thích hợp.
- Không công bố đầy đủ các khoản đầu tư và thu nhập cá nhân.
- Không tách bạch chức năng bảo quản và chức năng phê chuẩn.
- Thiếu kiểm tra soát xét độc lập với việc thực hiện.
- Không theo dõi chi tiết các hoạt động.
- Không tách bạch chức năng bảo quản với kế toán.
- Không tách bạch một số chức năng liên quan kế toán.
- Thiếu chỉ dẫn rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn.
- Thiếu sự giám sát của kiểm toán viên nội bộ.
Dựa vào kết quả nêu trên, ông đã xây dựng một mô hình nổi tiếng: mô
hình về bàn cân gian lận. Mô hình này gồm có ba nhân tố: Hoàn cảnh tạo ra
áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung thực của cá nhân.
Theo Albercht, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao
23
cùng với tính liêm chính của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất
cao và ngược lại, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp
cùng với tính liêm chính cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp.
Hoàn cảnh tạo áp lực có thể là liên quan tới những khó khăn về tài chính.