TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ HƯƠNG
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC
“THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN” TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Quốc phòng và an ninh
HÀ NỘI - 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ HƯƠNG
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC
“THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN” TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học
Nếu có gì không trung thực em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Hương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG VIỆC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN
NINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ...................................... 7
1.1. Cơ sở lý luận của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn ..................................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................ 7
1.1.2. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo quan điểm của Chủ nghĩa
Mác - Lênin ..................................................................................................... 10
1.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ...... 11
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn ........................................................................................................... 12
1.3. Yêu cầu chung khi vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong dạy học giáo dục quốc phòng và an ninh ....................................... 17
1.4. Kết luận chương 1 .................................................................................... 21
Chương 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
......................................................................................................................... 21
2.1. Nội dung chương trình môn giáo dục quốc phòng và an ninh ở trường trung
học phổ thông .................................................................................................. 22
2.1.1. Mục tiêu ................................................................................................. 22
GDQP&AN
Giáo dục quốc phòng và an ninh
GD & ĐT
Giáo dục và đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PPDH
Phương pháp dạy học
THPT
Trung học phổ thông
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
học với thực tiễn cuộc sống, địa phương, đất nước hoặc những nội dung ứng
dụng thực tiễn, thông tin mới về kinh tế - xã hội vào môn học, qua đó giúp học
sinh hiểu biết thực tế cuộc sống, hiểu biết các hoạt động sản xuất của quê hương
đất nước, góp phần vào định hướng nghề nghiệp, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng
tham gia lao động sản xuất, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước.
Trong những năm qua, việc dạy học môn GDQP&AN ở trường trung học
phổ thông đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần không nhỏ trong việc phổ
biến, tuyên truyền, trang bị những kiến thức chính trị, quân sự cho lứa tuổi thanh
niên. Song cũng thẳng thắn thừa nhận việc dạy học GDQP&AN ở trường THPT
hiện còn nhiều tồn tại, hạn chế. Nhiều giáo viên chưa tích cực, sáng tạo trong
việc tìm tòi, vận dụng các phương pháp dạy học làm cho quá trình tiếp thu tri
thức của học sinh trở nên nặng nề, thụ động. Các kiến thức về chính trị, quân
sự chưa được học sinh hiểu và vận dụng một cách hiệu quả. Nội dung bài giảng
của GV còn nặng về lý thuyết, ít được lí giải, chứng minh với thực tiễn. Thực
trạng đó đã tác động không nhỏ đến thái độ học sinh trong việc tiếp cận môn
học. Những vấn đề này đòi hỏi trong quá trình dạy học, giáo viên khi giảng dạy
cần có sự gắn kết giữa nội dung chính trị, quân sự với thực tiễn sinh động.
Thông qua việc liên hệ giữa lý luận với thực tiễn cuộc sống, học sinh được rèn
luyện kỹ năng, giáo dục thái độ, hành vi ứng xử, trong thực tế cho phù hợp với
chuẩn mực đạo đức xã hội cũng như xác định trách nhiệm của bản thân trước
những biến đổi lớn lao của đất nước. Đã có những đề tài nghiên cứu về vấn đề
vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy môn
vật lý, môn hóa học trong quá trình giảng dạy ở trường THPT. Cũng có những
đề tài nghiên cứu “Vận dụng kỹ thuật dạy học tích cực trong việc đổi mới
phương pháp dạy học môn giáo dục quốc phòng và an ninh ở THPT”; “Ứng
dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học bài thường thức
phòng tránh một số loại bom đạn và thiên tai chương trình GDQP&AN lớp
2
3
Đề xuất phương hướng, biện pháp để vận dụng tốt nguyên tắc này trong
quá trình dạy học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn,
đi sâu vào phân tích làm rõ cách vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn trong dạy học môn GDQP&AN ở trường THPT.
- Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong dạy học môn GDQP&AN ở trường THPT.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài giúp chúng ta nhận thức, đánh giá một cách khoa học việc vận
dụng nguyên tắc “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” trong dạy học ở trường
THPT, đặc biệt trong giảng dạy bộ môn GDQP&AN hiện nay. Những yêu cầu
khách quan của việc vân dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong dạy học bộ môn này.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu, tìm ra cách vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong dạy học GDQP&AN. Làm cơ sở cho giáo viên vận dụng, thực
hiện trong giảng dạy môn GDQP&AN.
Đề tài được bảo vệ thành công có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh
viên các khóa sau tìm hiểu và nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
5
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vân dụng nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn trong việc dạy học môn GDQP&AN ở trường THPT
Chương 2: Thực trạng vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
vào môn học GDQP&AN ở trường THPT
Chương 3: Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy
học môn GDQP&AN ở trường THPT
NỘI DUNG
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG VIỆC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN
NINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lý luận của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn
Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi
hỏi cấp bách và là một phương thức để mang đến thành công cho hoạt động của
mỗi cá nhân và của tổ chức. Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mối quan hệ
biện chứng tác động qua lại của lý luận và thực tiễn, dùng lý luận làm kim chỉ
nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễn
phải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, luôn là chìa khóa
để giải quyết mọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã định. Ngược lại,
nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực
Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, được hình thành
trong mối quan hệ với thực tiễn
Về thực tiễn
Theo từ điển Tiếng Việt: “thực tiễn” là “những hoạt động của con người,
trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn
tại của xã hội”
Còn Từ điển học sinh thì định nghĩa: “thực tiễn” là toàn bộ những hoạt
động của con người để tạo ra những điều kiện cần thiết cho đời sống xã hội bao
gồm các hoạt động sản xuất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học: không
có thực tiễn thì không có lý luận khoa học”.
Kế thừa có chọn lọc và khắc phục những hạn chế trong quan điểm về
thực tiễn của các nhà triết học trước, Mác và Ăng ghen đã đưa ra quan điểm
đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng
như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Theo triết học Mác -
8
Lênin: “thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội
của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội”.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật
chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới
bên ngoài, thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có
tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để
làm chủ thế giới. Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng
công cụ, phương tiện vật chất để tác động vào tự nhiên, xã hội nhằm biến đổi
chúng cho phù hợp với nhu cầu của mình.
Quan điểm của triết học trước Mác: Điđơrô (nhà triết học Pháp): hiểu chưa
đầy đủ về thực tiễn, cho rằng thực tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học trong
phòng thí nghiệm. Phoiơbắc (nhà triết học duy vật siêu hình người Đức): thực
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn: giữa lý luận và thực
tiễn có mối quan hệ với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó thực tiễn giữ vai
trò quyết định.
1.1.2. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo quan điểm của Chủ nghĩa
Mác - Lênin
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản và
quan trọng nhất trong lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin.
Thực tiễn có vai trò là cơ sở, nguồn gốc, động lực của lý luận. Thông qua
hoạt động thực tiễn, con người buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, quy
luật để con người nhận thức chúng. Do vậy, thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận
thức lý luận, thúc đẩy cho hoạt động lý luận con người và thông qua nó con
người phát triển bản chất, năng lực trí tuệ của mình. Thực tiễn còn là mục đích
của nhận thức, của lý luận bởi mục đích cuối cùng của lý luận là gắn yêu cầu
thực tiễn, cải tạo tự nhiên, xã hội nhằm phục vụ cho nhu cầu con người. Thực
tiễn phải được chỉ đạo, hướng dẫn bởi lý luận, khoa học, cách mạng. Nếu thực
tiễn không có lý luận dẫn đường thì thực tiễn sẽ trở nên mù quáng. Còn nếu
10
thực tiễn được chỉ đạo bởi lý luận sai lầm và phản cách mạng thì hậu quả sẽ
khó lường.
Trong quá trình hoạt động cải biến thế giới, con người cũng biến đổi luôn
cả bản thân mình, thực tiễn rèn luyện các giác quan của con người làm cho
chúng tinh tế hơn, trên cơ sở đó phát triển tốt hơn. Nhờ đó con người ngày càng
đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của nó, làm phong phú
và sâu sắc tri thức của mình về thế giới. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Con người tác động vào
thế giới, nhận thức và khái quát những nhận thức đó thành lý luận. Lý luận lại
quay trở lại phục vụ thực tiễn và thực tiễn kiểm nghiệm tính đúng sai của lý
cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên
mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên”. Như vậy cũng có
nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy; có ý nghĩa đích thực khi được
vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ
đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải phù hợp
điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí
Minh phải được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn hòa quyện, thống
nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn
Theo chương trình môn học GDQP&AN cấp THPT ban hành theo Quyết
định 79/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phân phối chương
trình môn GDQP&AN khối 10, 11, 12 giúp giáo viên lồng ghép và thực hiện
nhiều nội dung thực tiễn sinh động với bài học vận dụng nhiều phương pháp
mới trong quá trình giảng dạy. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên dành thời
lượng để phân tích sâu các nội dung trọng tâm và tích hợp, liên hệ những vấn
đề thực tiễn cho phù hợp với chương trình. Để làm được điều đó yêu cầu mỗi
12
giáo viên phải biết vận dụng nhiều PPDH kết hợp với nhiều vấn đề thực tiễn để
làm phong phú bài dạy, gắn nội dung bài học với thực tiễn sinh động xung
quanh. Tuy nhiên, việc vận dụng cần phải linh hoạt để không làm lệch trọng
tâm và phù hợp với thời lượng tiết học. Trong đó, việc liên hệ thực tiễn sinh
động với lý luận trừu tượng là việc làm cần thiết và hữu hiệu trong việc thực
hiện chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo.
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDQP&AN là một trong những
môn học được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt. Chỉ thị 12/CT-TW ngày
03/5/2007 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
và ngày 17 tháng 11 năm 2006 khai mạc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 14 tại Hà Nội. Việt Nam đang bước vào một
kỉ nguyên mới - kỉ nguyên hội nhập quốc tế và hợp tác cạnh tranh toàn cầu.
Song bên cạnh đó với sự phức tạp của tình hình biển Đông hiện nay là một
thách thức lớn và cần đề cao tầm quan trọng vấn đề bảo vệ chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia.
Để theo kịp với những chuyển biến to lớn về tình hình kinh tế và chính
trị xã hội của đất nước ta cũng như trên thế giới trong giai đoạn này - một giai
đoạn mà cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh về con người. Nền giáo dục phải có
sứ mệnh làm sao đào tạo ra những thế hệ con người Việt Nam có đủ sức mạnh
trí tuệ và nhân cách để đưa đất nước ta hội nhập thành công và cạnh tranh thắng
lợi trong môi trường toàn cầu. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng, một trong những nhiệm vụ và giải pháp lớn về giáo dục được đề ra là:
“Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đổi mới cơ cấu, tổ chức, nội dung,
phương pháp dạy và học theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”.
Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học. Đề cao
trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội”
Trong trường THPT môn GDQP&AN có vị trí, vai trò và ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông. Đặc
14
biệt trong giai đoạn hiện nay nó càng có vai trò, ý nghĩa quan trọng hơn, là một
thành phần không thể thiếu của văn hóa phổ thông của con người mới.
Trong quá trình thực tập tại trường THPT, tôi nhận thấy yêu cầu thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình giảng dạy tại các trường THPT
nói chung và các bộ môn GDQP&AN nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt như
vậy, nhưng trong thực tế hiện nay vấn đề này dường như đang bị xem nhẹ, nếu
không nói là bị bỏ qua. Trong rất nhiều giờ giảng, giáo viên hầu như chỉ cắm
cúi vào giáo án, nhắc lại một cách mòn mỏi những điều đã có, đã được ghi chép
hoạt động thực tiễn trên địa bàn của HS như vậy thì những vấn đề từ phức tạp,
trừu tượng sẽ trở nên dễ hiểu dễ tiếp thu hơn.
Việc lựa chọn tư liệu minh hoạ cho bài giảng phải xuất phát từ mục đích
minh hoạ để làm sáng tỏ vấn đề lý luận đưa ra. Các số liệu, sự kiện, kinh nghiệm
của địa phương, các tạp chí, báo hàng ngày và có thể khảo sát thực tế ở địa
phương.
Vì vậy, để đảm đương được công tác giảng dạy trong quá trình hiện nay,
lực lượng giáo viên cần được bồi dưỡng, đào tạo nâng cao, đào tạo sau đại học
mới đáp ứng tình hình và nhiệm vụ đặt ra hiện nay đối với công tác đào tạo, bồi
dưỡng của trường THPT. Quá trình nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên
phải chú trọng đến cả hai mặt:
Nâng cao chất lượng lý luận: đây là một vấn đề có tính hai mặt đó là sự
thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học, tính Đảng của người giáo viên
chính là lập trường chính trị trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh trong công tác truyền đạt các chủ trương đường lối, chính
sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Còn tính khoa học chính là trình độ
chuyên môn của người giáo viên về chuyên ngành mà mình được đào tạo và
trang bị. Nếu lập trường chưa rõ ràng, chuyên môn chưa sâu sắc thì chưa thể
đứng trên bục giảng bài vì chưa đủ năng lực để truyền tải kiến thức đến cho
người học và cũng không thể đem lại lòng tin cho người học. Vì vậy, tính Đảng
16
là điều kiện cần còn tính khoa học là điều kiện đủ đối với mỗi giáo viên đứng
trên bục giảng. Trong thực tế sinh động, nhiều tình huống thực tiễn nảy sinh
nếu người giáo viên chưa hiểu thấu đáo chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước thì không thể lý giải được một cách sâu sắc những
vấn đề đó.
Nâng cao năng lực thực tiễn: năng lực thực tiễn của người giáo viên biểu
cần nắm chắc lý luận phải biết vận dụng vào thực tế cuộc sống hiện tại cũng
như sau này đi làm việc.
Giảng dạy trong nhà trường cần quán triệt sâu sắc nguyên lý giáo dục:
học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn
liền với xã hội.
Trong giảng dạy môn GDQP&AN, các vấn đề lý luận và thực tiễn phải
được giáo viên trình bày một cách thống nhất, làm sao để lý luận thường xuyên
liên hệ chặt chẽ với thực tiễn xã hội, thực tiễn giáo dục, phản ánh kịp thời sự
biến đổi của đời sống xã hội. Đất nước ta đang thời kỳ đổi mới với những thay
đổi rất nhanh chóng trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh
vực giáo dục cũng đang có những chuyển biến tích cực và mạnh mẽ. Những
thay đổi trong đời sống thực tiễn phải được giáo viên kịp thời nắm bắt và đưa
vào trong nội dung bài giảng của mình. Chúng ta không được coi lý luận như
một cái gì xong xuôi, cứng nhắc, mà nó đầy tính sáng tạo và luôn được bổ sung
bằng những kết luận mới được rút ra từ thực tiễn sinh động.
Trong quá trình giảng dạy, cần phân tích làm cho người học nắm được
cơ sở lý luận của các vấn đề cần truyền đạt, từ đó học sinh có thể lý giải được
những vấn đề thực tiễn.
Khi trình bày các nội dung của bài cần lấy những ví dụ minh họa mang
tính thực tiễn, thường xuyên liên hệ lý luận với thực tiễn. Tuy nhiên, không nên
trình bày theo kiểu minh họa, thuyết minh chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước, mà phân tích một cách có căn cứ lý luận để luận giải
18