ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------
NÔNG VĂN MINH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SINH TRƢỞG, PHÁT TRIỂN MỘT SỐ
TỔ HỢP NGÔ LAI MỚI VỤ XUÂN 2015 TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa
: Nông học
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------
rèn luyện nghiên cứu của mỗi sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng qua đó
sinh viên có điều kiện làm quen với thực tiễn sản xuất, học hỏi kinh nghiệm, áp
dụng những kiến thức đã học trên ghế trường vào thực tiễn nhằm trao dồi kiến thức
làm hành trang cho công việc, để trở thành cán bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp trình
độ cao có phẩm chất, đạo đức, có kiến thức và năng lực thực hành, có sức khỏe, đáp
ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông
học tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển một số
tổ hợp ngô lai mới vụ xuân 2015 tại Thái Nguyên”.Trong một khoảng thời gian
với tinh thần trách nhiệm của bản thân, cùng với sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình,
bạn bè…tôi đã hoàn thành xong đề tài của mình.
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Trần Minh Quân đã tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm thí nghiệm ngoài đồng ruộng, cũng như
trong quá trình hoàn thiện bản báo cáo này.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa, các thầy cô giáo khoa Nông học đã tạo điều kiện cho tôi được chủ động làm
thí nghiệm, cũng như học hỏi bên ngoài thực tế.
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn chính quyền, bà con nơi tôi đến thực tập, cũng
như gia đình và bạn bè đã hỗ trợ tôi, giúp tôi có những điều kiện thuận lợi nhất để
hoàn thành quá trình thực tập của bản thân.
Do trình độ và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế, cũng như lần đầu tiên
được làm việc với cương vị như là một nhà khoa học. Do đó, đề tài của tôi không
tránh khỏi thiếu xót rất mong được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Nông Văn Minh
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CIMMYT:
Trung tâm Cải tiến Ngô và Lúa mỳ Quốc tế
CV(%):
Hệ số biến động
Đ/c:
Đối chứng
FAO:
Tổ chức nông nghiệp và lương thực liên hợp quốc
G - CSL:
Gieo – Chín sinh lí
G - PR:
Gieo – Phun râu
G - TC:
Gieo- Trỗ cờ
Bộ nông nghiệp Hoa Kì
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH ................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................... iii
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài ...................................................................... 2
1.2.1. Mục đích.................................................................................................. 2
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa trong học tập .............................................................................. 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 4
2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới .................... 4
2.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới ....................................................... 4
2.2.2. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới ........................................................ 7
2.2.3. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới................................................... 8
2.3. Tình hình sản xuất, nghiên cứu và tiêu thụ ngô tại Việt Nam ................... 9
2.3.1. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam ...................................................... 9
2.3.2. Tình hình tiêu thụ ngô trong nước ........................................................ 12
2.3.3. Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam ............................................... 13
2.3.3.1. Một số tồn tại, hạn chế, và biện pháp khắc trong công tác nghiên cứu,
chọn tạo giống ngô ở Việt Nam ............................................................ 14
4.5.2. Khả năng chống chịu sâu bệnh ............................................................. 38
4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các THL tham gia thí nghiệm.. 40
4.6.1. Số bắp trên cây ...................................................................................... 41
4.6.2. Chiều dài bắp......................................................................................... 42
4.6.3. Đường kính bắp .................................................................................... 42
4.6.4. Số hàng hạt trên bắp .............................................................................. 42
4.6.5. Số hạt trên hàng ..................................................................................... 42
4.6.6. Khối lượng 1000 hạt ............................................................................. 43
4.6.7. Năng suất lý thuyết (Tạ/ha) ................................................................... 43
4.6.8. Năng suất thực thu (tạ/ha) ..................................................................... 44
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 47
PHỤ LỤC
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngô (Zea mays L.) thuộc chi Maydeae, họ hòa thảo Gramineae, có
nguồn gốc từ Trung Mỹ. Ngô là cây lương thực quan trọng trên toàn thế giới,
đã nuôi sống gần 1/3 dân số trên toàn cầu. Chính vì tầm quan trọng của nó
nên cây ngô đã được toàn thế giới gieo trồng và hình thành 4 vùng sinh thái
cây ngô chính là vùng ôn đới, vùng nhiệt đới, vùng nhiệt đới cao và vùng
nhiệt đới thấp (Ngô Hữu Tình, 1997) [8].
Ngô là nguồn lương thực cho nhiều dân tộc trên thế giới. Ở một số
nước như: Mexico, Ấn Độ, Philippin và một số nước Châu Phi người ta dùng
ngô làm lương thực chính. Có tới 90% sản lượng ngô ở Ấn Độ, 66% ở
Philippin… được dùng làm lương thực cho con người. Ngô là nguồn dinh
người Việt dưới nhiều dạng: Cơm ngô xay, ngô bung với đậu đỗ, bột bánh
ngô, xôi ngô, ngô luộc, bỏng ngô (Nguyễn Đức Lương, 2000 ) [7].
Tuy nhiên ngành sản xuất ngô của thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng đang đứng trước những thách thức mới như sự biến đổi phức tạp khí hậu
toàn cầu, hạn hán, lũ lụt ngày càng tăng, xuất hiện nhiều sâu dịch bệnh mới,
sức ép của dân số. Theo dự tính đến năm 2020 diện tích đất nông nghiệp của
cả nước là 26,732 nghìn ha (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010) [3]. Thực
tiễn đòi hỏi là phải tăng nhanh năng suất cây trồng, góp phần giữ vững an
ninh lương thực quốc gia, đảm bảo phát triển cân đối bền vững công - nông
nghiệp Việt Nam. Để giải quyết vấn đề đó ngoài việc áp dụng đồng bộ các
biện pháp kỹ thuật tiên tiến phù hợp thì công tác chọn tạo giống phải được
đẩy mạnh hơn nữa. Chọn tạo ra các giống ngô lai năng suất cao, chất lượng
tốt, ổn định, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng chống chịu tốt và phù
hợp với các vùng sinh thái, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất.
Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc
Việt Nam, có điều kiện đất đai, khí hậu tiêu biểu đại diện cho vùng. Đây cũng
là nơi có hoạt động sản xuất nông nghiệp phát triển trong đó ngô được xem là
một trong những cây trồng chính góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn
định và nâng cao đời sống cho người dân.
Xuất phát từ những yêu cầu và cơ sớ thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển một số tổ hợp
ngô lai mới vụ Xuân 2015 tại Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Chọn ra được 1 đến 2 tổ hợp ngô lai có khả năng sinh trưởng và phát
triển tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác vụ Xuân của
tỉnh Thái Nguyên.
1.2.2. Yêu cầu
- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai
trong điều kiện vụ Xuân năm 2015 tại Thái Nguyên.
Nhu cầu về ngô hiện đang tăng nhanh trên quy mô toàn cầu. Ngô không
chỉ được dùng làm thức ăn chăn nuôi và lương thực cho người mà ngô còn là
nguyên liệu để chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) đang ngày một tăng nhanh.
Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp do dân số tăng
nhanh, sự phát triển của các khu công nghiệp, đường giao thông… Bên cạnh đó
biến đổi khí hậu đang diễn biến một cách phức tạp, hạn hán lũ lụt ngày càng
nặng nề hơn, sâu bệnh mới xuất hiện, biện pháp canh tác không phù hợp nên một
số nơi đã gây ra tình trạng xói mòn đất. Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo tăng năng
suất và sản lượng dù diện tích giảm. Vì thế, cho nên các nhà khoa học chọn, tạo
giống đã đẩy mạnh việc lựa chọn, tạo ra các giống ngô mới theo hướng năng
suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái.
Các giống ngô mới trước khi đưa vào sản xuất đại trà đều phải trải qua
giai đoạn khảo nghiệm để đánh giá năng suất, phẩm chất và các đặc tính
như: Chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, chịu rét… để quyết định các khu vực
trồng trọt và các biện pháp kỹ thuật.
Khảo nghiệm thực hiện dựa trên cơ sở tính khác biệt, độ đồng nhất, độ
ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu của giống. Khảo nghiệm
đánh giá và công nhận giống mới phải đảm bảo, phải đánh giá chính xác để
công nhận giống mới đưa vào danh mục giống Nhà nước cho phép sản xuất
và lưu thông trong các vùng, các địa phương và mùa vụ thích hợp.
2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới
2.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây trồng có lịch sử gieo trồng từ lâu đời, các nghiên cứu của
Vavilov (1926) đã cho rằng Mexico và Peru là những trung tâm phát sinh và
đa dạng di truyền của cây ngô. Năm 1492, Columbus tìm ra châu Mĩ và từ đó
theo thời gian ngô đã được đem gieo trồng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới.
Hiện nay ngô được trồng rộng rãi nhất thế giới, trải rộng hơn 90 vĩ tuyến: từ
40 vĩ độ nam (lục địa châu Úc, nam châu Phi, Chile, Niudilan …) lên gần 55
2012
2013
Châu Á
56,5
57,6
59,4
48,1
50,2
51,2
271,8 288,8
304,3
Châu Âu
16,60 18,32
19
66,6
34,7
33,7
35
19,2
20,7
20,5
66,7
51,7
71,6
Châu Đại
Dương
0,86
0,94
1,02
68,1
giữa các châu lục trên thế giới do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, tập
quán canh tác, cũng như trình độ kĩ thuật. Châu Mĩ –quê hương của cây ngô
là châu lục có diện tích trồng ngô lớn nhất với diện tích 70,7 triệu ha chiếm
38,4% tổng diện tích trồng ngô của thế giới (năm 2013). Đây cũng là châu lục
có năng suất ngô tương đối lớn đạt 68,4 tạ /ha (năm 2011) và 73,9 /ha (năm
2013). Trong khi đó Châu Phi là châu lục có năng suất ngô rất thấp và có tốc
độ tăng năng suất chậm, năng suất chỉ đạt 20,5 tạ/ha (năm 2013) nên mặc dù
châu Phi có diện tích trồng ngô lớn thứ 3 sau Châu Mĩ và Châu Á nhưng sản
lượng thu được còn ít chỉ đạt 71,6 triệu tấn vào năm 20
6
Sở dĩ Châu Phi có năng suất ngô thấp nhất thế giới là do điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt, trình độ thâm canh thấp, chưa có điều kiện để áp dụng các
tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất. Châu Á có diện tích và sản lượng tương đối lớn,
đứng thứ 2 sau Châu Mĩ với diện tích 59,4 triệu ha đạt sản lượng 304,3 triệu
tấn (năm 2013). Châu Âu và Châu Đại Dương có diện tích trồng ngô nhỏ
nhưng đây là nơi tập trung nhiều nước có trình độ phát triển cao nên có năng
suất ngô tương đối cao, mặc dù đây là những khu vực có điều kiện tự nhiên
không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô, năm 2013 năng
suất ngô của Châu Âu đạt 73,9 tạ/ha cao nhất thế giới.
Không những có sự chênh lệch lớn về diện tích, năng suất và sản
lượng giữa các châu lục mà giữa các quốc gia khác nhau cũng có sự chênh
lệch rất lớn (Bảng 2.2).
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất ngô của một số nƣớc tiêu biểu
trên thế giới năm 2013
Nƣớc
Diện tích (triệu ha)
0,04
225,6
0,11
Đức
0,49
88,3
4,4
(Nguồn: FAOSTAT, năm 2014) [15]
Mĩ là nước có diện tích và sản lượng ngô lớn nhất thế giới với diện tích
35,5 triệu ha, sản lượng đạt 353,7 triệu tấn chiếm 34,8% sản lượng ngô thế
giới. Trung Quốc là nước có diện tích trồng và sản lượng ngô lớn thứ 2 trên
thế giới với 35,3 triệu ha đạt sản lượng 217,7 triệu tấn chiếm 21,4% tổng sản
lượng ngô của thế giới. Mặc dù có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, diện tích
trồng ngô nhỏ (0,04 triệu ha) nhưng với trình độ khoa học cao, đầu tư lớn nên
Isarel có năng suất ngô cao nhất thế giới đạt 255,6 tạ /ha cao hơn gấp 4,6 lần
so với bình quân năng suất ngô thế giới (năm 2013).
7
Bảng 2.3. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020
Năm 1997
Năm 2020
14
19
36
Cận Sahara – Châu Phi
29
52
79
Mỹ Latinh
75
118
57
Tây và Bắc Phi
18
28
56
– 2006 dùng 40,6 triệu tấn và dự kiến năm 2012 dùng 190,5 triệu tấn ngô (Viện
Nghiên cứu ngô, 2008) [12]. Ngoài ra trước sức ép của sự gia tăng dân số để
đảm bảo cung cấp đủ thực phẩm cho con người nhiều nước đã tích cực phát triển
ngành chăn nuôi kéo theo đó là nhu cầu sử dụng ngô để chế biến thức ăn gia súc
- gia cầm ngày một tăng. Tất cả những dẫn chứng trên cho ta thấy triển vọng của
thị trường tiêu thụ ngô trên thế giới ở hiện tại cũng như trong tương lai đồng thời
cũng cho ta thấy được nhu cầu cần thiết phải phát triển sản xuất ngô một cách
bền vững, trong đó cần đến vai trò quan trọng của các nhà khoa học, các nhà
chọn tạo giống cần chọn lọc, lai tạo ra các giống ngô mới có năng suất và chất
lượng phù hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện nay.
2.2.3. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới
Năm 1492, Columbus tìm ra châu Mĩ, khi phát hiện ra châu Mĩ thì ngô đã
được trồng rộng rãi tại đây. Năm 1494, trong chuyến thám hiểm thứ hai ở châu
Mĩ của Columbus, cây ngô lần đầu tiên được đưa về trồng ở Tây Ban Nha, và đã
góp phần mang lại nền văn minh cho châu Âu (Ngô Hữu Tình, 1997) [8]. Tuy
nhiên, phải rất lâu sau các nhà khoa học mới có sự nghiên cứu sâu về loại cây
trồng này.
Năm 1716, Cottin Matther là người đầu tiên thực hiện thí nghiệm về
giới tính của ngô. Ông đã quan sát thấy sự thụ phấn chéo ở cây ngô tại
Massachusettes.
Tám năm sau Matther, Paul Dudly đã đưa ra nhận xét về giới tính của
ngô và cho rằng gió đã giúp ngô thực hiện quá trình thụ phấn. Năm 1876,
Charles Darwin tiến hành thí nghiệm với hàng loạt cá thể giao phối và tự thụ
phấn ở nhiều loài khác nhau như đậu đỗ, ngô, ông đã quan sát thấy sự hơn
hẳn của các cây giao phấn với các cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nảy
mầm của hạt, số bắp trên cây và cả sức chống chịu với điều kiện bất thuận
và năng suất hạt.
Trong quá trình nghiên cứu về ngô, hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô
được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm. Nhà nghiên cứu người Mỹ Bill
tiến hành nghiên cứu từ năm 1876, ông đã thu được con lai có năng suất
quan trọng thứ 2 sau lúa nước bởi vậy ông cha ta mới có câu “được mùa chớ
phụ ngô khoai’’. Sau khi du nhập vào nước ta cây ngô có tốc độ phát triển
chậm. Chỉ đến đầu thế kỉ 20 khi thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác
thuộc địa thì ngô mới được xuất khẩu sang Pháp làm thức ăn cho gia súc. Số
lượng ngô hạt xuất khẩu tăng từ 16000 tấn (năm 1905) lên 84000 tấn (năm
1910) và 140000 tấn năm 1929 (kể cả của Lào và Campuchia) (Ngô Hữu
Tình, 1997) [8]. Trong khi trên thế giới cây ngô có sự phát triển đi lên thì ở
nước ta cây ngô phát triển chậm và kém bền vững. Suốt một giai đoạn dài
phải đến những năm 80 trở đi ngô ở nước ta mới có sự phát triển mạnh về
diện tích, năng suất và sản lượng. Từ sau những năm 90 với việc sử dụng
các giống ngô lai vào sản xuất đồng thời áp dụng các tiến bộ của khoa học kĩ
thuật nên sản xuất ngô ở nước ta đã có nhiều khởi sắc. Năm 1980, diện tích
trồng ngô của nước ta khoảng 389,600 ha với năng suất 11 tạ/ha đạt tổng sản
lượng 428,800 tấn, đến năm 1995 diện tích trồng ngô tăng lên 556,800 ha
với năng suất 21,1 tạ/ha sản lượng đạt gần 1,2 triệu tấn. Năm 2013, diện tích
10
trồng ngô của nước ta là 1,17 triệu ha, sản lượng khoảng 5,2 triệu tấn, năng
suất tăng đáng kể đạt 44,35 tạ /ha bằng 80,3 % so với năng suất trung bình
của thế giới (Bảng 2.3).
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 – 2013
Diện tích
Năng suất
Sản lƣợng
(1000 ha)
556,8
21,1
1177,2
2000
730,2
25,1
2005,9
2005
1052,6
36,0
3787,1
2006
1033,0
37,0
3819,4
4606,8
2012
1118,2
42,9
4803,2
2013
1170,3
44,35
5190,9
Năm
(Nguồn: FAOSTAT, 2014) [15]
Như vậy hiện nay sản xuất ngô ở nước ta đã có sự phát triển nhưng
vẫn còn thấp hơn so với sự phát triển chung của thế giới. Trong nước sự
phát triển sản xuất ngô cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền
(Bảng 2.4).
11
Bảng 2.5.Tình hình xuất ngô của các vùng miền và cả nƣớc năm 2013
Diện tích
205,6
43,2
888,9
Tây Nguyên
252,4
51,7
1306,1
Đông Nam Bộ
80,1
57,6
461,5
Đồng bằng sông Cửu Long
40,3
56,1
226,1
(nghìn ha)
(tạ/ha)
(nghìn tấn)
Hà Nội
20,7
48,0
99,4
Sơn La
162,8
40,2
654,6
Đăk Lăk
123,4
53,7
663,2
% năng suất trung bình của cả nước nên sản lượng đứng thứ 2 sau tỉnh Đăk
Lăk (663,2 nghìn tấn). Mặc dù có diện tích trồng ngô nhỏ khoảng 11,5 nghìn
ha nhưng An Giang lại là tỉnh có năng suất ngô cao nhất nước đạt 70,3 tạ/ha
bằng 158,69 % năng suất ngô trung bình cả nước. Như vậy sản xuất ngô ở
nước ta có sự phát triển không đều giữa các vùng miền và các địa phương do
ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, chế độ canh tác, tập quán canh tác và khả
năng áp dụng tiến bộ kĩ thuật vào đồng ruộng.
2.3.2. Tình hình tiêu thụ ngô trong nước
Sản lượng thức ăn chăn nuôi ở Viê ̣t Nam đã và đang không ngừng gia
tăng trong khoảng mư ời năm trở la ̣i đây
. Với mức đô ̣ khoảng 14 triê ̣u
tấ n/năm (số liê ̣u ước tính ) và sẽ còn tiếp tục tăng lên nữa , thì các nguyên liệu
cung năng lươ ̣ng như thóc , các loại cám , tấ m, ngô, sắn, lúa mì và dầu mỡ
phải đảm bảo được ít ra là 9 triê ̣u tấ n mỗi năm (tính trung bình các n guyên
liê ̣u cung năng lươ ̣ng chi ếm 60 – 70% trong công thức thức ăn ) (Bộ công
thương, 2013) [1].
13
Như vậy để đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho việc chế biến thức ăn
chăn nuôi đòi hỏi chúng ta phải chủ động nguồn nguyên liệu, trong đó có ngô,
trung bình mỗi năm nước ta phải nhập khẩu gần 9000 tấn ngô mới đủ cung
cấp cho tiêu dùng trong nước. Là một nước nông nghiệp, có nhiều tiềm năng
để phát triển sản xuất thì đây là điều khó chấp nhận được. Giải pháp là cần
thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, trong bối cảnh diện tích đất thu hẹp
thì cần tính đến việc tăng năng suất cây trồng mà sử dụng các giống mới, các
giống ngô lai cho năng suất cao là điều tất yếu hiện nay.
2.3.3. Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu về ngô chậm hơn nhiều nước trên thế
bao phấn ở Viện Nghiên cứu ngô đã ngày càng hoàn thiện và đã chọn ra hơn
10 dòng đơn bội kép, bước đầu đánh giá là rất có triển vọng, đã sử dụng kỹ
thuật tạo dòng đơn bội kép. Đặc biệt từ năm 2002, Việt Nam đã tham gia vào
mạng lưới công nghệ sinh học vùng ngô Châu Á nhằm đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ sinh học vào tạo giống với 3 nội dung chính là: (1) phân tích đa
dạng di truyền tập đoàn nguyên liệu, phân nhóm ưu thế lai, (2) chuyển gen Opaque 2 quy định tính trạng ngô chất lượng cao vào ngô thường, (3) xây dựng
bản đồ gen chịu hạn. Bước đầu chương trình này hoạt động có kết quả khả
quan và được AMBIONET đánh giá cao, đã tiến hành phân tích đa dạng tập
đoàn dòng của Viện ngô bằng kỹ thuật SSR.
Giống ngô lai Việt Nam không thua kém giống ngô lai nhập nội từ các
công ty nước ngoài như: Bioseed, Gencitics, Pacific, Uniseed và Cargill….
Đến năm 2020, nước ta phấn đấu đưa diện tích trồng ngô lên 1,3 - 1,4 triệu
ha, đạt năng suất bình quân 60 - 65 tạ/ha để đáp ứng nhu cầu 7 - 8 triệu tấn
ngô vào năm 2020 (Viện nghiên cứu ngô, 2007) [12].
Để sản xuất ngô Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến và đạt năng suất
trung bình của thế giới, việc quan trọng nhất là tăng cường thu thập các nguồn
nguyên vật liệu phù hợp, kết hợp chọn tạo giống bằng các phương pháp hiện
đại với truyền thống, đẩy mạnh nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác để
phát huy tối đa tiềm năng của giống, chọn tạo giống chống chịu phục vụ cho
các vùng khó khăn.
Hiện nay, nhờ việc tạo ra nhiều giống ngô lai mới nên đã có sự thay
đổi rất lớn trong cơ cấu giống trong sản xuất hiện nay ở nước ta. Năm
1991, diện tích trồng giống lai chưa đến 1% trên 430 nghìn ha trồng ngô;
năm 2006, giống lai đã chiếm khoảng 90% diện tích trong hơn 1 triệu ha
ngô cả nước, trong đó giống do các cơ quan nghiên cứu trong nước chọn
tạo và sản xuất chiếm từ 58-60% thị phần trong nước, số còn lại là của các
công ty liên doanh với nước ngoài. Trong đó, giống ngô lai do Viện nghiên
cứu ngô tạo ra chiếm tới 90% lượng giống lai của Việt Nam (Viện Khoa
học Nông nghiệp Việt Nam) [11].
2.3.3.1. Một số tồn tại, hạn chế, và biện pháp khắc trong công tác nghiên cứu,
là phía Nam.
- Chọn tạo các giống ngô năng suất cao cho các vùng chuyên canh ngô
lớn và chọn tạo các giống ngô thực phẩm có năng suất và chất lượng cao.
- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm tăng hiệu quả sản
xuất và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Đồng thời tranh thủ nguồn đầu tư của nhà nước cho công tác đào tạo
16
nguồn nhân lực, đầu tư trang thiết bị, phát triển các điểm chọn tạo giống mới.
đa dạng hoá hình thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt chú ý việc kết
hợp với các địa phương nhằm phát triển nhanh các kết quả nghiên cứu ra sản
xuất một cách hiệu quả.
- Tăng cường công tác khuyến nông, thúc đẩy việc mở rộng quy mô áp
dụng giống mới, đào tạo cán bộ.
- Cần có kế hoạch bảo tồn tính đa dạng nguồn gen sinh học và tuyển
chọn những cán bộ có chuyên môn và nhiệt huyết với nghề.
- Cung cấp thông tin thường xuyên các cơ quan quản lý cơ sở nghiên
cứu và sản xuất kinh doanh giống ngô từ trung ương đến địa phương. Để người
dân hoặc các cơ quan nghiên cứu có thể nắm bắt thông tin kịp đối với những
giống mới, mùa vụ…
- Có chính sách hỗ trợ vốn của Nhà nước.
2.4. Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh Trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên
3.562.82km2, dân số hiện nay khoảng 1.046.000 người chiếm 1,13% diện tích
và 1,41% dân số so với cả nước [9].
Khí hậu thời tiết khá phức tạp: Mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng
10 còn mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau nên vào mùa khô
vẫn thường xảy ra tình trạng thiếu nước. Nhìn chung điều kiện tự nhiên còn
nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.
11,6
32,8
38,0
2003
13,4
32,6
43,7
2004
15,9
34,3
54,6
2005
15,9
34,7
55,1
67,2
2010
17,9
42,1
75,4
2011
18,6
43,3
80,6
2012
17,9
42,2
75,5
2013
19,0
- Ngô lai (Maize Hybrid).
2.5.1. Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety)
Giống ngô TPTD là một danh từ chung để chỉ các loại giống mà trong
quá trình sản xuất hạt giống con người không cần can thiệp vào quá trình
thụ phấn, chúng được tự do thụ phấn (thụ phấn mở) (Nguyễn Đức Lương,
2000) [7].
Giống ngô thụ phấn tự do có những đặc điểm:
-
Sử dụng hiệu ứng gen cộng
Có nền di truyền rộng (rất rộng)
Thích ứng rộng
Năng suất cao
Độ đồng đều chấp nhận
Giống sử dụng được nhiều thế hệ
Dễ sản xuất hạt giống, hạt giống rẻ
Ngô thụ phấn tự do có 4 loại:
Giống ngô địa phương (Local variety)
Giống ngô tổng hợp (Synthetic variety)
Giống ngô hỗn hợp (Composite)
Giống ngô thụ phấn tự do cải thiện
2.5.2. Giống ngô lai (Maize Hybrid)
Ngô lai là thành tựu khoa học nông nghiệp nổi bật nhất của thế kỷ
XX, đó là kết quả của ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống (Ngô Hữu
Tình, 1997) [8]. Giống ngô lai có những đặc điểm sau: