Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến khả năng sinh trưởng của cây rau xà lách trồng bầu trong vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên. - Pdf 40

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN KIÊN CƢỜNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ GIÁ THỂ ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY RAU XÀ LÁCH TRỒNG BẦU
TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Trồng trọt

Khoa

: Nông học

Khoá học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


Khoá học

: 2011 - 2015

Giảng viên hƣớng dẫn : TS. Nguyễn Thúy Hà

Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thuý Hà, người đã
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
và hoàn chỉnh khóa luận của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Nông học,
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian thực. Để hoàn thành khóa luận, tôi còn nhận được
sự động viên, khích lệ của bạn bè và những người thân trong gia đình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày ... tháng ... năm 2015
Sinh viên

Trần Kiên Cƣờng


ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AVRDC


: Công thức 5

Cs

: Cộng sự

IPM

: Quản lý dịch hại tổng hợp


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 2.1. Giá trị dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc ................................ 9
Bảng 2.2.Thành phần chất dinh dưỡng trong 100g rau ở một số loại rau ...... 10
Bảng 2.3. Thành phần dinh dưỡng trong rau xà lách ở một số nước và Việt
Nam (trong 100g phần ăn được) ............................................................. 14
Bảng 4.1. Kết quả theo dõi ảnh hưởng của các giá thể đến động thái ra lá/ cây ..... 27
Bảng 4.2. Kết quả ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến tốc độ ra lá
xà lách ..................................................................................................... 30
Bảng 4.3. Kết quả ảnh hưởng của các giá thể khác nhau đến đường kính tán
của cây xà lách ........................................................................................ 32
Bảng 4.4. Kết quả ảnh hưởng của các giá thể khác nhau đến mật độ sâu hại
rau xà lách ............................................................................................... 35
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của một số loại giá thể khác nhau đến năng suất của cây
rau xà lách ............................................................................................... 36

2.3. Các nghiên cứu về giá thể trồng rau .................................................... 20
PHẦN 3 ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ........................................................................................................ 23
3.1. Đối tượng, vật liệu và phạm vi nghiên cứu.......................................... 23
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu ........................................ 24
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 24
3.4.1. Công thức, phương pháp bố trí thí nghiệm ....................................... 24
3.4.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi. .............................................. 25
3.4.3. Kỹ thuật trồng rau trên giá thể .......................................................... 26
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu................................................................. 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 27
4.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể khác nhau đến
động thái ra lá của rau xà lách. ........................................................... 27


vi

4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể khác nhau đến
động thái phát triển đường kính tán của cây rau xà lách .................... 32
4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể khác nhau đến
năng suất của cây rau xà lách.............................................................. 36
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................... 39
5.1. Kết luận ................................................................................................ 39
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 40
I. Tiếng Việt ................................................................................................ 40
II. Tiếng Anh ............................................................................................... 41




2

tính ngon miệng, nên được người tiêu dùng ưa chuộng, nhu cầu và khả năng tiêu
thụ quanh năm rất lớn (Trần Ngọc Hùng và cs, 2006) [4].
Xà lách là loại rau ăn lá có đặc điểm sinh trưởng như: cây thấp; rễ
ngắn, ăn nông; có thể trồng dày; có khả năng cho năng suất cao; thích ứng
rộng trên nhiều vùng sinh thái; ít sâu bệnh; thời gian sinh trưởng ngắn ngày,
quay vòng/6 - 7 lần/năm, nên mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nếu được đầu tư
thâm canh đúng mức, đẩy mạnh trồng xà lách là điều kiện sử dụng có hiệu
quả các loại đất, góp phần cải tạo đất trong chế độ luân canh thích hợp, tận
dụng được sức lao động ở địa phương, giải quyết công ăn việc làm cho người
lao động, tạo thêm nhiều sản phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu rau xanh tại
chỗ ngày càng cao của nhân dân (Hoàng Thị Bé và cs, 2009) [1].
Xà lách là một trong những loại rau quan trọng nhất ở các nước Ôn đới,
tuy nhiên nó cũng chiếm vị trí quan trọng ở các nước Nhiệt đới và Á nhiệt
đới. Ở những nước Ôn đới xà lách được trồng trong nhà có mái che bằng
kính, hoặc bằng nhựa, tùy theo thời tiết, xà lách cũng được trồng ở ngoài
đồng. Xà lách chiếm diện tích lớn trong các loại rau ăn sống. Tuy nhiên, hiện
nay lượng rau sạch cung cấp ra ngoài thị trường ngày càng ít hoặc có thì
không đảm bảo (Mai Văn Quyền và cs, 1995) [9].
Do đó, việc tự trồng rau để phục vụ cho nhu cầu của con người và cung
cấp lượng rau sạch cho gia đình ngày càng cao trong khi lượng đất phục vụ
cho nhu cầu này là không cao
Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến khả năng sinh trưởng
của cây rau xà lách trồng bầu trong vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên.”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn được giá thể phù hợp để trồng rau xà lách trồng bầu vụ Đông
Xuân tại Thái Nguyên.

thực phẩm an toàn, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng đang ngày càng tăng. Từ
năm 2005, việc triển khai thực hiện chương trình nông nghiệp công nghệ cao
đã thúc đẩy ngành sản xuất rau bước sang một thời kỳ phát triển mới. Các loại
rau được sản xuất theo hướng Nông nghiệp công nghệ cao như canh tác trong
nhà kính, nhà lưới, sử dụng hệ thống tưới tự động, màng phủ đất. Tuy nhiên
diện tích sản xuất và sản lượng còn hạn chế do đầu tư ban đầu cao và thiếu
quy trình sản xuất phù hợp (Cao Thị Làn và cs, 2011) [8].
- Giá thể trồng rau
Mối quan tâm an toàn thực phẩm tại Việt Nam hiện nay trên rau là về hàm
lượng nitrate, dư lượng thuốc trừ sâu và kim loại nặng trong rau. Trồng rau trên
giá thể sạch là một trong những giải pháp có thể ngăn chặn sâu, bệnh hại từ đất và
khống chế hiệu quả các chất gây ô nhiễm từ đất như kim loại nặng. Trên thế giới
các loại giá thể trồng sạch đã được nghiên cứu và sử dụng trong sản xuất đại trà
với nhiều loại cây trồng khác nhau. Việc sử dụng các loại giá thể trồng sạch thay
thế đất đã dần đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, giúp cho những nơi không có đất
cũng có thể sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp đáp ứng nhu cầu của cuộc
sống hàng ngày (Cao Thị Làn và cs, 2011) [8].
- Đặc tính vật lý của giá thể.
Đối với tính chất vật lý của giá thể, chất hữu cơ và mùn có tác dụng
làm tăng độ xốp, điều hoà chế độ nước tưới và chế độ nhiệt, giúp ổn định kết


5

cấu các thành phần trong giá thể. Những tính chất vật lý luôn có tác động tích
cực đến tính chất hoá học trong giá thể, ví dụ như các chất hữu cơ và mùn làm
tăng khả năng hấp phụ và trao đổi ion làm cho giá thể có khả năng chịu nước,
chịu phân cao, tăng tính đệm cho giá thể, đảm bảo các phản ứng hoá học và
ôxy hoá khử xảy ra bình thường, tạo điều kiện cho cây phát triển tốt (Cao Thị
Làn và cs, 2011) [8].

âm có thể hút những ion dương trong nước (cường độ trao đổi cation - CEC). CEC
càng lớn các ion dinh dưỡng được giữ lại càng nhiều. Đa số các chất dinh dưỡng
cung cấp cho cây trồng là cation như: NH+4, K+, Ca++, Mg++, Zn++, Cu++,
Mn++ và Fe++, và những ion mang điện âm gồm: H2PO4-, NO3-, SO4-, Cl-. Các
ion này thường được cung cấp với lượng hạn chế. Những thành phần giá thể có chỉ
số CEC cao thể các hạt giữ ẩm. Trong quá trình nghiên cứu John và Harold (1999)
đã thử nghiệm trên 3 loại gồm đất, đất đen, vermiculite và những thành phần có chỉ
số CEC thấp gồm perlite, cát , Styrofoam…
2.2. Tình hình nghiên cứu về cây xà lách trong nƣớc và trên thế giới
2.2.1. Tình hình nghiên cứu về cây xà lách trên thế giới
Trong lĩnh vực sản xuất rau, trên thế giới có nhiều công trình và nhiều
tác giả nghiên cứu về rau. Cùng với việc thay thế dần tập quán canh tác rau
nhiều nước đã chọn lựa được nhiều dòng giống rau phong phú, có chất lượng,
năng suất cao đáp ứng được các điều kiện canh tác và nhu cầu tiêu dung trên
thế giới. Một trong những trung tâm nghiên cứu về rau đó là Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển rau Châu Á (AVRDC) đã nghiên cứu và phân phối
nhiều nguồn gen rau có uy tín cho các nước và địa phương trên thế giới. Đến
năm 1993, có 67 quốc gia trên thế giới đã dùng mẫu và giống rau của
AVRDC, 17.618 mẫu rau được phân phối ra thị trường và 5.390 mẫu rau
được trung tâm AVRDC thu thập để sử dụng vào mục đích nghiên cứu.
AVRDC cũng đã có 40.000 giống biểu tượng cho sự độc nhất về giá trị
nguồn gốc giống rau trên thế giới và đã tiến hành khảo sát những đặc tính các


7

giống rau ở Malaysia, Indonesia, Philippin và Thái Lan. Ngoài ra AVRDC đã
có sự hợp tác quốc tế ở Nhật Bản về nguồn di truyền rau trong chu trình bảo
tồn và sử dụng nguồn rau, một mạng lưới canh tác ở miền nam Châu Á
- Về rau xà lách, E. D. Ward J. Ryder đã có nhiều nghiên cứu về giống

từ Nhật và Mỹ. Từ 1998, có nhiều giống xà lách mới được nhập nội và được
gieo trồng theo phương thức sản xuất rau chất lượng cao với nhiều màu sắc
khác nhau như: Lolbo Rossa, Romaine, Oakleaf Green...
- Một số giống được trồng ở một số vùng ở nước ta đã trở thành các
giống địa phương như: Xà lách Hải Phòng, xà lách Bắc Ninh.
Xà lách là thực vật bậc cao có đơn vị phân loại như sau:
+ Ngành hạt kín: Angiosprematophy
+ Lớp 2 lá mầm: Dicotyledoneae
+ Dưới lớp cúc: Asteridae
+ Bộ cúc: Asterales
+ Họ cúc: Compositae
Chi: Lactuca, có số lượng nhiễm sắc thể là 8, 9, 17 cặp (Hoàng Thị Bé
và cs, 2009) [1].
- Giá trị dinh dưỡng
Rau là một loại thực phẩm cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của con
người. Ngoài ra rau là một loại thực phẩm không thể thay thế được bởi lẽ rau
cung cấp nhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của con người
như: protein, vitamin, muối khoáng… trong các loại rau gia vị còn có chứa
chất kháng sinh, các chất thơm, các acid hữu cơ, trong đó rau chứa hàm lượng
vitamin và chất khoáng cao hơn hẳn một số cây trồng khác. So sánh thành
phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc A.M.Shidique, 1985 đã cho thấy
rau đặc biệt là rau ăn lá có hàm lượng vitamin và chất khoáng cao hơn lúa và
lúa mì nhiều lần (Đào Thanh Vân và cs, 2000) [13].


9

Bảng 2.1. Giá trị dinh dƣỡng của cây rau và cây ngũ cốc
(Tính trong 100g trọng lượng tươi)
Độ


12,8

71,2

11,8

346

0,064

0

41

4,9

Rau ăn lá

88,5

4,3

2,9

36

6,80

54


46

1,00

25

35

0,8

Rau ăn củ

80,7

16,2

1,5

89

1,34

11

24

0,7

Cây

được một phần năng lượng tuy không nhiều nhưng điều đáng chú ý là protit ở
rau chứa nhiều lizin (khoảng 5 - 7%) và mỗi loại rau có tỷ lệ acid amin khác
nhau nên khi ăn rau nhất là khi ăn một lúc nhiều loại rau sẽ có tác dụng lớn
trong việc nâng cao giá trị sử dụng protit của rau (Trần Ngọc Hùng, 2006) [4].
Các chất xơ trong rau giúp cho sự tiêu hóa được điều hòa, chống táo
bón và giữ được cảm giác no lâu.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học để đáp ứng cho sự bình thường
mỗi người cần 250 - 300g rau xanh trên ngày, khoảng 80 - 100kg/năm. Trong khi
đó, theo thống kê ở nước ta mới cung cấp được 60 g/người/ngày. Như vậy, mới
đáp ứng được 20 - 30% nhu cầu về rau (Trần Ngọc Hùng, 2006) [4].
Bảng 2.2.Thành phần chất dinh dƣỡng trong 100g rau ở một số loại rau
Loại
rau

Thành phần hóa học Calo
(%g)

Muối khoáng

100g

Pr H2O Glu Xlu

(mg%)
Ca

P

Vitamin (mg%)



4,2

0,8

20

12,0 26,0 1,4

2,0

0,06 0,04

10

Đậu
đũa

6,0 83,0

8,3

12,0

59

47,0 26,0 1,6

0,50



23

100 37,0 1,4

2,90

0,04 0,09

3

2,8 88,0

6,3

1,7

37

46,0 50,0 0,6

0,15

0,06 0,05

40

Súp lơ 2,5 90,9

4,9

Xu
hào

0,8 95,0

(Nguồn: Bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam năm 1972)


11

- Giá trị kinh tế
+ Rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao:
Giá trị sản xuất một ha rau gấp 2 - 3 lần so với một ha lúa. Hiệu quả lớn
hay nhỏ còn phụ thuộc vào trình độ người sản xuất, công nghệ sản xuất, kinh
nghiệm và chủng loại rau. Nhìn chung, cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, có
thể gieo trồng nhiều vụ trong năm do đó sản lượng trên đơn vị diện tích (Tạ Thu
Cúc, 2005) [2].
+ Rau là một loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao:
Rau là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, thu ngoại tệ mạnh của nhiều nước
trên thế giới. Sản phấm rau xuất khẩu có thể là tươi sống hoặc đã qua chế biến
như: Cà chua, dưa chuột, nấm, hành tây, cải bắp, ớt, tỏi… nhưng tình hình xuất
khẩu rau của nước ta còn hạn chế về chủng loại, chất lượng, mẫu mã, bao bì và
thị trường tiêu thụ. Vì vây, nguồn thu ngoại tệ từ ngành rau quả còn ít. Năm
2000 kim ngạch xuất khẩu rau của cả nước là 200 triệu USD, năm 2003 là 150
triệu USD và dự tính đến năm 2010 là 47 triệu USD (Vũ Thị Hiển) [5].
Qua một vài tài liệu trên cho thấy thành tựu của ngành rau quả Việt Nam
trong xuất khẩu còn rất khiêm tốn điều quan trọng mà chúng ta phải đặc biệt quan
tâm là mở rộng và tìm kiếm thị trường xuất khẩu rau quả. Thị trường xuất khẩu rau
quả chủ yếu của Việt Nam là: Trung Quốc, Đài Loan,CHLB Nga…
+ Rau là nguyên liệu chế biến thực phẩm phong phú và quan trọng:

+ Nhiệt độ:
Cây xà lách có nguồn gốc ở vùng ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, có thể
chịu rét. Xà lách có thể sinh trưởng phát triển bình thường trong phạm vi nhiệt độ
từ 8 - 250C. Sinh trưởng tốt nhất từ 10 - 160C. Hạt có thể nảy mầm ở 00C nhưng
chậm, hạt nảy mầm tốt ở10 - 150C, thời kì cây con yêu cầu nhiệt độ16 - 220C.
Nhiệt độ quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng không tốt đến xà lách (Lưu Thị
Ánh Tuyết, 2012) [12].
+ Nước:
Bộ rễ xà lách yếu, chủ yếu phân bố ở tầng đất mặt nên khả năng chịu
hạn không cao do đó cần thường xuyên giữ ẩm cho đất (70-80%) (Tạ Thu


13

Cúc, 2005) [2].
+ Đất và dinh dưỡng:
Xà lách không kén đất, có thể trồng trên nhiều vùng đất khác nhau, tuy
nhiên đất phải tơi xốp và thoát nước tốt và đất có pH trung tính 5,8-6,6 (Lưu
Thị Ánh Tuyết, 2012) [12].
- Hệ thống phân loại và nguồn gốc rau xà lách:
+Phân loại và nguồn gốc rau xà lách
- Nhiều tài liệu cho rằng xà lách có nguồn gốc ởvùng bờ biển Địa Trung
Hải. Sauer (1993) đã cho rằng xà lách được chọn tạo từ dạng hoang dại là một loại
cỏ dại (Lactuca serriola) mọc ở vùng bờ biển Địa Trung Hải và vùng Cận Đông.
Loài hoang dại của chi Lactucakhông hình thành bắp rõ rệt mà cây mọc đứng,
phân nhánh với lá có vị đắng và có nhựa mủ. Các tranh vẽ giống hình cây xà lách
được tìm thấy trong các lăng mộ Ai Cập cổ đại cách đây hơn 4500 năm trước
Công nguyên. Các bài viết minh chứng đầu tiên về dạng xà lách trồng trọt có
trong các tài liệu lịch sử Hi Lạp từ năm 450 trước Công nguyên. Trong thế kỷ đầu
tiên sau Công nguyên, những người La Mã đã trồng một số giống xà lách khác


15

T. P dinh dƣỡng
Calori (calo)
Dietary (fiber)

1,3

Protêin (g%)

-

-

1

2,1

1,5

Carbohydrate (g)

1,34

2,5

2,2

Chất béo (%)


66

2,0

Vitamin C (mg%)

13,44

10

15

B1 (mg)

-

-

0,14

B2 (mg)

-

-

0,12

PP (mg)


Fe (mg)

0,62

0,7

0,9

93,4

95,0

P (mg)

-

-

34,0

K (mg)

162,4

-

Thiamin (mg)

-

tạo thêm việc làm cho hàng trăm người lao động ở khu vực nông thôn. Xà lách
còn giúp đất được luân canh với giai đoạn ngắn để đất có thời gian tiêu huỷ chất
hữu cơ và phục hồi dinh dưỡng đất với loại cây trồng chính ở vụ tiếp theo. Xà
lách còn là cây ít có sâu bệnh. Do vậy luân canh xà lách sẽ giúp sự gián đoạn
vòng đời của sâu bệnh, giảm thiểu được sự tồn tại của sâu bệnh đối với vụ trồng
chính tiếp theo sau. Thêm vào đó với bộ lá phát triển nhanh và rộng, che phủ
toàn bộ diện tích đất canh tác đã góp phần hạn chế cỏ dại cho vụ sau. Xà lách
còn được trồng xen với ngô, đậu, cao lương để tận dụng tối đa diện tích, hạn chế
cỏ dại và góp phần tăng thu nhập cho nhà nông (Mai Văn Quyền và cs) [9].
- Đặc điểm thực vật học
+ Bộ rễ:
Xà lách có rễ cọc phát triển, làm nhiệm vụ chính là giữ cây, bám vào
đất được chắc ngoài ra còn làm nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng nuôi cây.
Trên rễ cọc có rất nhiều rễ phụ giúp cây bám đất, hút nước và chất khoáng.
Nhìn chung xà lách có bộ rễ phát triển mạnh và nhanh.
+ Thân:
Thân xà lách thuộc thân thảo, là nơi kết nối giữa bộ rễ và lá, vận chuyển
chất khoáng do bộ rễ hút lên và chất hữu cơ do bộ lá tổng hợp nuôi cây. Thân xà


16

lách giòn, trên thân có dịch trắng sữa.Thời gian đầu thân phát triển chậm nhưng
sau khi cây đạt cao nhất về sinh khối, thân vống rất nhanh và ra hoa.
+ Lá:
Xà lách có số lượng lá lớn, lá sắp sếp trên thân theo hình xoắn ốc, lúc
đầu mật độ lá, giai đoạn sau mật độ lá thưa dần. Lá ngoài có màu xanh đến
xanh đậm, lá trong xanh nhạt đến trắng ngà. Các lá phía trong mềm có chất
lượng cao. Bề mặt lá không phẳng mà lồi lõm, gấp khúc do đặc tính di truyền.
Lá làm nhiệm vụ chủ yếu là tổng hợp chất hữu cơ nuôi cây.

giống nhau và tác động của các yếu tố này đối với các loại rau cũng thay đổi.
Tuy lân có tỷ lệ hút thấp nhất trong các nguyên tố trên nhưng lân là yếu
tố dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ rễ và khả năng
hấp thu dinh dưỡng của cây rau. Lân là thành phần quan trọng của acid
nucleic, adenozin triphotphat là các chất có vai trò rất quan trọng trong qua
trình phân chia tế bào, hình thành chất béo và protein trong cây rau. Lân có
tác dụng tăng cường khả năng hút đạm làm giảm tác hại của việc thừa đạm,
tạo khả năng bón được nhiều đạm hơn để đạt năng suất cao. Lân còn là yếu tố
dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra tính đệm cho dịch tế bào
của cây rau, tạo điều kiện để rau sinh trưởng bình thường dung pH môi trường
sống thay đổi. Dinh dưỡng lân cân đối với đạm và kali còn là điều kiện rất
quan trọng để cây rau sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, rút ngắn thời gian
sinh trưởng của rau một cách hiệu quả. Lân là yếu tố dinh dưỡng đa lượng tuy
cây rau có nhu cầu không cao nhưng cũng có vai trò rất quan trọng đối với
sinh trưởng, phát triển năng suất và chất lượng rau.
Cây rau hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng, nhưng giai đoạn hút
lân có tác dụng quan trọng nhất khi cây rau còn nhỏ, nó kích thích hệ rễ phát
triển tạo khả năng hút và vân chuyển các chất dinh dưỡng vào trong cây. Vì
vậy lân là yếu tố dinh dưỡng rất cần thiết cho tất cả các loại rau ở giai đoạn
cây non. Cây rau được cung cấp đủ lân nhanh ra nụ, ra hoa, ra quả, làm hạt và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status