ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ OANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG
SINH TRƢỞNG PHÁT TRIỂN CỦA CÂY DONG RIỀNG ĐỎ
TRỒNG BẰNG HẠT TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa
: Nông học
Khóa học
: 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ OANH
Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông học, cùng các thầy
giáo, cô giáo trong trường, trong khoa đã truyền đạt lại cho em những kiến
thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại nhà trường. Dưới sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo GS.TS. NGUYỄN THẾ ĐẶNG người đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Đồng
thời em cũng xin cảm ơn sự động viên của gia đình và các bạn trong lớp đã
luôn cổ vũ, động viên và đồng hành cùng em trong suốt thời gian thực tập.
Do còn hạn chế về thời gian, về trình độ và kinh nghiệm thực tế của bản
thân nên không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự tham gia đóng góp ý
kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Vũ Thị Oanh
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Tỷ lệ nảy mầm và ảnh hưởng của mật độ đến thời gian sinh trưởng
cây dong riềng đỏ trồng bằng hạt.................................................... 29
Bảng 4.2. Độ đồng đều của các công thức thí nghiệm cây dong riềng đỏ trồng
bằng hạt ........................................................................................... 30
Bảng 4.3. Chiều cao cây, số thân/ khóm, đường kính thân của dong riềng
trồng bằng hạt ................................................................................. 32
Bảng 4.4. Số lá trên thân, chiều dài, chiều rộng lá của dong riềng trồng
bằng hạt .................................................................................. 34
Bảng 4.5. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của dong riềng đỏ ... 36
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng chống đổ và sâu bệnh
của cây dong riềng đỏ trồng bằng hạt ............................................. 38
NL
: Nhắc lại
NSLT
: Năng suất lý thuyết
NSTT
: Năng suất thực thu
P
: Xác xuất
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ......................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài .................................................................. 3
1.2.1. Mục đích của đề tài ................................................................................. 3
1.2.2. Yêu cầu của đề tài ................................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên ............................................... 28
4.1.1. Tỷ lệ nảy mầm và ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh
trưởng của cây dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên ...................... 28
4.1.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến độ đồng đều của cây dong riềng đỏ 30
4.1.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển cây dong riềng
trồng bằng hạt .................................................................................................. 31
4.1.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất dong riềng đỏ trồng
bằng hạt ................................................................................................. 36
4.1.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng chống đổ và sâu bệnh của
cây dong riềng đỏ trồng bằng hạt .................................................................... 37
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................... 40
5.1. Kết luận .................................................................................................... 40
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay các nước phát triển đã chuyển trọng tâm y tế từ chăm sóc trẻ
em sang theo hướng chăm sóc người có tuổi và người cao tuổi. Tại các nước
phát triển, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch chiếm 1/3 trong tổng số các ca tử
vong. Riêng ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này còn chiếm tới 35%, như vậy, cứ 100 ca tử
vọng ở Hoa Kỳ thì có tới 35 người chết do bệnh tim mạch.
Tim quyết định sự sống còn của cơ thể, mạch vành quyết định sự sống
còn của tim. Bởi vậy, những hẹp, tắc, co thắt mạch vành là hết sức nguy hiểm,
hơn nữa đây lại là loại bệnh phổ biến.
riềng đỏ được trồng hiện nay chủ yếu để làm nguyên liệu cho chế biến thực phẩm
hoặc để chăn nuôi. Vì vậy, việc chọn lọc và phát triển các loài dong riềng đỏ tại
địa phương để làm dược liệu là rất cần thiết hiện nay.
Cây dong riềng là cây có giá trị kinh tế cao, có thể trồng trên nhiều loại
đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng được đồng bào
nhiều cùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được xem như một loại
cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, năng
suất của dong riềng ở nước ta còn thấp, do thực hiện một số biện pháp kỹ
thuật thâm canh chưa cao và chưa đồng bộ như chưa trồng đúng thời vụ cũng
như mật độ khoảng cách không hợp lý.
Để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất dong riềng,
việc nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ mới như: Giống,
các biện pháp kỹ thuật canh tác (mật độ trồng, thời vụ) vào sản xuất dong
riềng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng dong riềng, tạo công ăn việc làm,
nâng cao thu nhập cho người dân là vấn đề cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng phát
triển của cây dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên”.
3
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích của đề tài
Xác định được mật độ trồng thích hợp cho cây dong riềng đỏ để cho
năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng,
phát triển của giống dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên.
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong
khoảng không gian và mặt đất nhằm thu được sản lượng cao nhất trên 1 đơn
vị diện tích.
Mỗi một loại cây trồng yêu cầu một mật độ trồng nhất định. Mật độ
trồng thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng tối đa các điều kiện của đồng ruộng
giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó tăng
năng suất và chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế. Khi trồng ở mật độ càng
cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết. Khi đất không cung cấp đủ nhu
cầu dinh dưỡng cây sẽ phát triển kém, củ sẽ nhỏ. Trong khoảng không gian
hẹp, để có thể lấy được ánh sáng cây phải phát triển chiều cao cây tối đa vì
vậy sẽ làm cho cây yếu, khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh
kém. Trồng ở mật độ thấp cây không phải cạnh tranh dinh dưỡng nên sinh
trưởng phát triển tốt, cho củ to nhưng năng suất quần thể giảm.
Vì vậy việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng phù hợp góp phần xây
dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế
cho người sản xuất.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái
Nguyên nói riêng, diện tích đất bỏ hoang còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở
5
những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng
một số loại cây có giá trị kinh tế thấp.
2.2. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây
dong riềng
2.2.1. Nguồn gốc
Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ. Được chế biến lấy bột để
làm lương thực, thực phẩn là chính (Mai Thạch Hoành và cs, 2011) [3]. Hiện
nay, người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam
2,5 m. Thân cây màu đỏ. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt;
Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên
ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có
những bó cương mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp
đến là những bó libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có
thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh
bột, thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc
mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần; Trên mỗi
đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể
phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu
trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ
thuộc vào giống và điều kiện chăm bón.
Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm
những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bó cương mô và những
bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít một số hạt tinh bột,
vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh
bột. So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn.
7
Năng suất cây dong riềng rất cao. Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm
dong riềng có thể thu được 15 - 20 kg củ. Trồng thâm canh trên diện tích lớn
dong riềng cho năng suất 50 - 60 tấn/ha.
Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá của
cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím,
mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 - 60 cm và có chiều rộng
22 - 25 cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng mầu tím
đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, có màu
nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá
trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ và dong riềng chịu lạnh khá nên
có khả năng trồng ở độ cao trên 2.500 m so với mặt nước biển.
Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể trồng
dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Ngày dài có ảnh
hưởng lớn đến việc hình thành củ. Điều kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng
mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển củ, trong khi ngày dài lại thúc đẩy sự
phát triển thân lá.
Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe
so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy
nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất
cao. Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là
nơi dễ thoát nước. Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến
thối củ.
Yêu cầu nước: Dong riềng có đặc điểm chịu hạn tốt, có thể bố trí trên
đất có độ dốc trên 15o, ít ẩm, nhưng dong riềng không chịu được ngập úng,
nếu bị ngập úng cây thường bị vàng lá, thối củ. Vùng trồng dong riềng ở vùng
có lượng mưa thích hợp 900 - 1200 mm.
Chất dinh dưỡng: Cũng như các cây có củ khác, dong riềng yêu cầu có
đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng NPK, trong đó K có ý nghĩa trong việc tăng
9
khối lượng củ. Cây dong riềng yêu cầu đất tốt giàu mùn để cho năng suất cao.
Những nơi đất quá cằn cỗi cần bón thêm phân hữu cơ. Phân bón rất có ý
nghĩa trong việc tăng năng suất củ của cây dong riềng.
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên Thế giới và Việt Nam
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên Thế giới
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
Hiện nay nhu cầu sử dụng miến ngày càng tăng, trong khi đó nguồn nguyên
liệu cho chế biến lại chưa đủ nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập hàng ngàn
tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Cây dong riềng hiện nay đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong
việc xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
miền núi. Là cây trồng tăng thu nhập cho nông dân tại một số vùng đặc thù
như nơi đất khô hạn, đất dốc, khí hậu lạnh như Bắc Kạn, Mộc Châu, Sơn La,
Hòa Bình.... Cụ thể như sau:
* Sản xuất dong riềng tại Bắc Kạn:
Bắc Kạn có diện tích trồng dong riềng năm 2012 là 1800 ha, năm 2013
là 2940 ha tập trung ở các huyện Na Rì, Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông, Pác
Nặm. Năm 2013, kế hoạch ban đầu của tỉnh là 2100 ha, nhưng diện tích trồng
thực tế đã lên tới 2943 ha, tăng 40% về diện tích so với chỉ tiêu giao ban đầu,
sản lượng đạt gần 175000 tấn đặt ra áp lực rất lớn trong công tác tiêu thụ dong
riềng. Đứng trước tình hình đó, tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo các cấp, các ngành
tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở
doanh nghiêp, hợp tác xã, thành lập, xây dựng cơ sở chế biến tinh bột, tổ chức
những chuyến tham quan học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật từ nhưng địa phương
có kinh nghiệm về sản xuất, chế biến dong riềng. Năm 2014, diện tích trồng
mà tỉnh xây dựng kế hoạch khoảng 1700 ha để phù hợp với công suất chế
biến của các cơ sở sản xuất, chế biến dong riềng (Phương Thảo, 2014) [10].
Năm 2014, diện tích trồng mà tỉnh xây dựng kế hoạch khoảng 1700 ha, nhưng
11
thực tế toàn tỉnh chỉ trồng được 800 ha, đạt 47% so với kế hoạch, bằng 1/2 so
với năm 2013 do vậy giá dong riềng và bột dong đều tăng.
Hiện nay, số cơ sở sản xuất dong riềng trên địa bàn tỉnh là khá lớn, trên
150 cơ sở và có thể tiêu thụ cho khoảng 1700 ha. Tuy nhiên, với 800 ha dong
Năm 2013, xã Tràng Phái đã xây dựng mô hình từ nguồn vốn hỗ trợ
sản xuất chương trình xây dựng nông thôn mới. Người dân hưởng ứng thực
hiện vụ đầu tiên trồng được 3,2 ha với 58 hộ dân tham gia dự án. Cây trồng
phù hợp đất, sinh trưởng, phát triển tốt nên tháng 12/2013, xã Tràng Phái đã
thu hoạch đạt sản lượng 100 tấn/ha. Giá trị kinh tế đạt gần 120 triệu đồng/ha.
Tính trên cùng diện tích, lợi nhuận từ cây dong riềng cao gấp 2 - 3 lần so với
trồng ngô, sắn. Sản phẩm đã được cơ sở chế biến dong riềng do Viện Nghiên
cứu phát triển nông thôn miền núi đầu tư máy móc, dây chuyền tại xã Tràng
Phái thu mua. Ngoài ra, thân cây còn tận dụng làm thức ăn chăn nuôi, phân
bón hữu cơ rất hiệu quả.
Từ hiệu quả vụ thu hoạch này, năm 2014, huyện đã tiếp tục tuyên
truyền, nhân rộng mô hình trồng cây dong riềng. Năm 2014, mô hình được
nhân rộng tại hai xã Tràng Phái và Xuân Mai. Tổng diện tích trồng cây dong
riềng đạt 17,5 ha, tăng 14,3 ha so với năm 2013. Trong đó, tại xã Tràng Phái
mở rộng diện tích 11,5 ha, xã Xuân Mai 6 ha (Lâm Như, 2014) [7].
* Sản xuất dong riềng tại xã Bình Lư, huyện Tam Đường, Lai Châu
Bình Lư là xã có diện tích trồng cây dong riềng lớn nhất huyện Tam
Đường. Vụ dong riềng năm 2014, toàn xã Bình Lư gieo trồng được 230ha, đạt
100% kế hoạch, tăng hơn 100 ha so cùng kỳ năm 2013, với giống dong riềng
chủ yếu DR1, tập trung nhiều nhất ở các bản: Hoa Lư, Vân Bình, Tòng
Pẳn…Năng suất ước đạt bình quân từ 58 - 60 tấn/ha, cao hơn năm 2013
khoảng 2 tấn/ha.
Theo thống kê, hiện nay trên địa bàn xã có 6 cơ sở chế biến tinh bột
dong riềng, ngay từ giữa tháng 10/2014, các xưởng này cũng đã bắt đầu đi
13
vào hoạt động, tiến hành thu mua củ dong cho người dân địa phương (Trọng
Toản - Yến Thanh, 2014) [12].
Những vùng có truyền thống trồng dong riềng chế biến thành bột thì bã
có thể dùng để nấu rượu, nấu rượu xong có thể dùng bã rượu (hèm) phục vụ
chăn nuôi. Bã thải của chế biến tinh bột cũng có thể ủ làm phân bón cho cây
trồng và làm giá thể trồng nấm ăn. Ngoài ra, hoa dong riềng có màu sắc sặc sỡ,
bộ lá đẹp nên cũng có thể sử dụng dong riềng làm cây cảnh trong vườn nhà.
Ở Ecuador, dong riềng được trồng trên đất cát pha, ở độ cao 2340 m
trên mực nước biển, trong điều kiện nhiệt độ bình quân 15-170 C. Trong 6
tháng đầu người ta trồng xen với khoai tây, sau 12 tháng thu hoạch cho năng
suất củ trung bình 56 tấn/ha, chỉ số thu hoạch 56+8%.
Nghiên cứu đánh giá 26 mẫu giống dong riềng từ ngân hàng gen dong
riềng quốc tế của CIP tại Ecuador, trong nhà lưới ở độ cao 2400 m, biên độ
nhiệt độ 12-27oC với mật độ 2cây/m2, trên nền đất cát pha, không bón phân,
Hermann và CS đã thu được kết quả rất thú vị. Năng suất củ tươi đạt từ 17-96
tấn/ha, hàm lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4-22% và đạt 12-31% qui về chất
khô, hàm lượng đường hòa tan trong củ tươi là 5-11 độ Brix.
Nghiên cứu hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế cho thấy có sự
tương quan thuận cao giữa hàm lượng chất khô của củ với hàm lượng đường
hòa tan và hàm lượng tinh bột trong củ tươi r =0,66, trong khi số chồi tương
quan nghịch với hàm lượng chất khô trong củ r = -0,57.
Phân tích các chất dinh dưỡng trong đất trồng và trong cây, các nhà
khoa học cho biết, để thu được 1tấn củ tươi, cho 120-130 kg tinh bột khô ở
mật độ 20.000 cây/ ha, cây dong riềng cần 0,54 kg N; 0,53 kg P; 3,11 kgK;
2,47 kg Mg và 0,37 kg Ca. Dong riềng là cây sử dụng rất hiệu quả nguồn N
và nước trong đất.
15
Nhóm tác giả trong công bố của mình đã kết luận, mặc dù hàm lượng
tinh bột trong củ dong riềng thấp nhưng do năng suất củ rất cao nên vẫn có
không được quan tâm, mặc dù diện tích dong riềng được trồng ở nước ta ước
tính vào giai đoạn 1990 là khoảng 30.000 ha. Những địa phương trồng dong
riềng với diện tích lớn là Hoà Bình, ngoại thành Hà Nội, Sơn La, Lai Châu,
Thanh Hoá, Hưng Yên, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Đồng Nai.
Theo một số tài liệu, vì trong thân lá dong riềng có một lượng dự trữ
chất dinh dưỡng khá cao (ép 7 cây khoai riềng cho 1,5 lít nước, trong đó dinh
dưỡng chiếm 86%) do đó dong riềng chịu hạn tốt hơn lúa, khoai lang và sắn.
Dong riềng có sức sống rất mạnh, có khả năng thích nghi cao với điều kiện
ngoại cảnh, có sức chống đỡ tốt với sâu bệnh. Cây không có nhu cầu nhiều về
ánh sáng nên có thể sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Cây dong riềng
có khả năng chống chịu tốt nhiệt độ thấp, có thể trồng ở những nơi mà khoai
lang, sắn không trồng được. Hơn nữa, dong riềng còn là cây trồng dễ tính, yêu
cầu đất không nghiêm khắc nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau
như: đồi, sườn núi dốc trên 150, vườn nhà và bãi cao ven sông vẫn cho năng
suất củ cao. Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm có thể thu được 15-20 kg.
Trồng trên diện tích lớn dong riềng có thể cho năng suất đạt tới 45-60 tấn
củ/ha nếu thâm canh. Với những đặc điểm này, dong riềng đã trở thành một
loại mặt hàng có nhiều triển vọng phát triển ở vùng miền núi nước ta, có thể
phát triển cây dong riềng trên một phạm vi rộng lớn ở nhiều vùng để tăng
nguồn vật liệu cho sản xuất ngành hàng miến, tinh bột và các sản phẩm khác
(Nguyễn Ngọc Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005) [4].
Dong riềng có nhiều đặc tính sinh học quý như kích thước hạt tinh bột
lớn nhất trong nhóm cây có củ, tới 150 micron (tinh bột sắn là 35 micron).
Điều này giúp cho việc tách chiết tinh bột dong riềng dễ dàng hơn so với một
số cây có củ khác. Hàm lượng amiloza trong tinh bột dong riềng cao đạt từ
17
38% - 41%, gần bằng hàm lượng amiloza trong tinh bột đậu đỗ (46% - 54%)
Nhóm dong xanh năng suất đạt 40-42 tấn/ha nếu thâm canh tốt, bột ướt chiếm
từ 25 - 27% củ tươi, thời gian sinh trưởng 9-12 tháng; Nhóm Việt-CIP năng
suất đạt trên diện tích nhỏ thâm canh có thể tới 60 tấn/ha, bột ướt chiếm 23%
củ tươi, thời gian sinh trưởng 7,5 tháng.
Những năm 1993-1994, Trung tâm Nghiên cứu khoai tây rau, nay là
Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây có củ với sự hợp tác tài trợ của Trung
tâm Nghiên cứu và phát triển quốc tế Canada (IDRC), đã bước đầu thu thập
nguồn gen dong riềng tại nhiều vùng sinh thái trong cả nước, đây là cuộc thu
thập có quy mô lớn nhất và rộng nhất từ trước đến nay. Hiện tại Ngân hàng
gen cây trồng quốc gia có 71 mẫu giống dong riềng gồm cả địa phương và
nhập nội từ CIP, tuy nhiên vẫn chưa khai thác hiệu quả tài nguyên này do điều
kiện kinh phí hạn hẹp chỉ đủ cho hoạt động bảo quản lưu giữ và đánh giá ban
đầu (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và Cs, 2006) [5].
Hiện nay tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia có 71 mẫu giống dong
riềng gồm cả địa phương và nhập nội từ CIP, tuy nhiên vẫn chưa khai thác hiệu
quả tài nguyên này do điều kiện kinh phí hạn hẹp chỉ đủ cho hoạt động bảo
quản lưu giữ và đánh giá ban đầu (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và Cs, 2006) [5].
Về kỹ thuật trồng dong riềng đạt năng suất cao, Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn khuyến cáo: thời vụ trồng dong riềng từ
tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, tốt nhất là tháng 2. Mật độ từ 1,6 - 2,5 vạn
cây, hàng cách hàng 0,8 - 1 m, cây cách cây 0,5 - 0,6 m. Phân bón: 15 - 25 tấn
phân hữu cơ + 200 - 400 kg đạm + 500 - 650 kg lân + 200 kg kali. Phân hữu
cơ và lân bón 1 lần trước khi trồng, phân đạm bón 3 lần (trước trồng, sau
trồng 1 và 4 - 5 tháng), kali bón 2 lần (sau trồng 1 và 4 - 5 tháng). Làm cỏ và
vun gốc 3 lần (sau mọc 1, 2 và 4 - 5 tháng). Thu hoạch sau trồng 10-11 tháng,
nếu thu sớm củ non giảm năng suất và hàm lượng tinh bột, nếu thu muộn cây
có thể ra mầm mới làm giảm hàm lượng tinh bột.