Nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng việt (liên hệ với tiếng anh) - Pdf 40

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
--*--

NGUYỄN THỊ THU HÀ

NHÓM ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG
NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT
(LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HUẾ - 2016


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
--*--

NGUYỄN THỊ THU HÀ

NHÓM ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG
NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT
(LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số

: 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC


chuyển nghĩa

=>

suy ra



nghĩa tương đương, xấp xỉ



nghĩa khác nhau, không tương đương

>


khả năng chuyển nghĩa nhiều hơn


>

mức độ xác tín cao hơn


Đg:

động từ

GBBT:

Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh

HPNT:

Hoàng Phủ Ngọc Tường

HTBDGT:

Hồn Trương Ba da hàng thịt, Lưu Quang Vũ

ML:

Mê lộ, Phạm Thị Hoài

NBCT:

Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh

P:

mệnh đề

PS:

trả lời

TS&SN:

Mục Thời sự và Suy nghĩ, Báo Tuổi trẻ

TV:

tiếng Việt

TVH:

Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp

TXV:

Thời xa vắng, Lê Lựu

TTTN NHT: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Vd:

ví dụ


MỤC LỤC
Trang phụ bìa

Trang

Lời cam đoan

2.2.4. Chức năng cú pháp .............................................................................................. 45
2.3. Cách tiếp cận của ngữ pháp chức năng .................................................................. 49
2.3.1. Cấu trúc tham tố của động từ nhận thức .............................................................. 49
2.3.2. Phân loại động từ nhận thức theo tham số ngữ nghĩa [+/- động] và [+/chủ ý] .................................................................................................................. 53
2.4. Tiểu kết ................................................................................................................... 58
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT
ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT ................................................................ 60
(LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) ............................................................................................ 60
3.1. Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt ...... 60
3.1.1. Dựa vào tiêu chí [+/- nét nghĩa đánh giá hoạt động] trong cấu trúc nghĩa của
động từ ................................................................................................................ 60
3.1.2. Dựa vào tiêu chí [+/- TGĐ] trong cấu trúc nghĩa của động từ chỉ hoạt động
nhận thức ............................................................................................................ 63
3.2. Quan hệ ngữ nghĩa của một số động từ chỉ hoạt động nhận thức tiêu biểu
trong tiếng Việt ..................................................................................................... 65
3.2.1. Hiện tượng đa nghĩa của động từ nghĩ ................................................................ 65
3.2.2. Hiện tượng đồng nghĩa, gần nghĩa, bao nghĩa của nhóm biết - hiểu ................... 74
3.3. Một số đặc điểm ngữ nghĩa đặc thù của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận
thức ....................................................................................................................... 82
3.3.1. Hiện tượng trung gian giữa động từ chỉ hoạt động nhận thức và động từ chỉ
tâm lí - tình cảm .................................................................................................. 82
3.3.2 Sự chuyển nghĩa của động từ tri giác vào động từ nhận thức và trường hợp
của động từ thấy.................................................................................................. 92
3.3.3. Khả năng biểu thị nghĩa tình thái của động từ chỉ hoạt động nhận thức và
trường hợp Tôi nghĩ .......................................................................................... 108
3.4. Tiểu kết ................................................................................................................. 114
CHƯƠNG 4. ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG CỦA MỘT SỐ BIỂU THỨC NGÔN NGỮ
CÓ CHỨA ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC........................................116
TRONG TIẾNG VIỆT (LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) ...............................................116
4.1. Dẫn nhập ............................................................................................................... 116


Bổ ngữ của động từ tri giác và động từ nhận thức

2.4.

Diễn tố điển hình đảm nhận vai tác thể, nghiệm thể, phát ngôn thể

2.5.

Phân loại động từ nhận thức theo tham số ngữ nghĩa [+/-động] và [+/chủ ý]

Chương 3
3.1.

Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nhận thức theo tiêu chí [+/- nét nghĩa
đánh giá hoạt động]

3.2.

Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nhận thức theo tiêu chí [+/- tiền giả
định]

3.3.

Sự tổ chức ý niệm NGHĨ của người Việt, người Anh và sự thể hiện qua
ngôn ngữ

3.4.

Các phạm vi nghĩa của động từ biết trong tiếng Việt và hình thức tương

Chương 4
4.1.

Tần số xuất hiện của các cấu trúc đánh giá ở bài phỏng vấn trong tiếng
Việt

4.2.

Tần số xuất hiện của các cấu trúc đánh giá trong tiếng Anh


DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH (10 mô hình)
Chương 1
1.1.

Mô hình phạm trù đường rọi

1.2.

Mô hình tính hữu chứng

1.3.

Mô hình ngữ pháp hóa và ngữ dụng hóa

Chương 2
2.1.

Sự giao nhau giữa động từ chỉ hành động nhận thức và động từ chỉ trạng
thái nhận thức


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hoạt động nhận thức là hoạt động bản chất và đặc thù của con người. Thời nào,
ở đâu cũng thế, con người không thể tồn tại và phát triển nếu không có nhận thức.
Hoạt động này vì vậy là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều khoa học: triết học,
logic học, tâm lí học, nhân học, sinh học, thần kinh học, v.v. Tuy nhiên, nó có tính tinh
thần, hoàn toàn trừu tượng, nhờ phương tiện ngôn ngữ mà được di chuyển ra bên
ngoài. Ở đây, trong quá trình sáng tạo ngôn ngữ, con người đã gọi tên hoạt động nhận
thức một cách đầy đủ, phong phú và tinh tế bằng một số các từ gọi chung là từ chỉ hoạt
động nhận thức như: biết, nghĩ, hiểu, tưởng, nhớ, quên, v.v. Điều này sẽ được khẳng
định khi chúng ta đi vào tìm hiểu những đặc điểm ngôn ngữ của nhóm động từ nhận thức
trong tiếng Việt.
Từ bình diện ngữ nghĩa, gần đây, ngữ nghĩa học đã có được năng lực giải thích
lớn cho các đơn vị từ vựng khi kết hợp ngữ nghĩa học hướng hệ thống với ngữ nghĩa
học hướng lời nói, cũng như cách tiếp cận với nhiều kiến giải thú vị của ngữ nghĩa học
tri nhận. Nhiều trường phái xuất hiện với lí thuyết trường nghĩa, phương pháp phân
tích nghĩa vị, những thử nghiệm phân tích logic ngôn ngữ tự nhiên, nghĩa của lời, của
văn bản, v.v. đã mang lại tiến bộ đáng kể cho khoa học ngôn ngữ thì việc lựa chọn ngữ
nghĩa học từ vựng cùng việc vận dụng những thành tựu của ngữ nghĩa học tri nhận để
nghiên cứu nhóm từ này là một công việc hợp lí.
Thêm vào đó, trong mấy chục năm qua, hướng nghiên cứu đối chiếu các ngôn
ngữ đã đem lại nhiều thành tựu về lí thuyết cũng như ứng dụng, vậy nên trong quá
trình triển khai vấn đề, việc liên hệ đối chiếu với tiếng Anh ở những điểm cần thiết là
điều có ý nghĩa, nhằm làm nổi bật những đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng
của nhóm từ này trong tiếng Việt, đồng thời góp phần phục vụ cho những nhu cầu thiết
thực của xã hội như: học tiếng, dịch thuật, biên soạn từ điển, v.v.
Ngoài ra, khó có một hình dung đầy đủ, một hiểu biết trọn vẹn về các trường
nghĩa cơ bản trong tiếng Việt nếu như bỏ qua trường nghĩa chỉ hoạt động nhận thức,
hoạt động phức tạp nhưng là hoạt động mang tính loài, góp phần định tính con người

- Đặc điểm và chức năng ngữ dụng của một số biểu thức ngôn ngữ có chứa
động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt;
- Việc liên hệ tiếng Anh được xác định không phải là nhiệm vụ xuyên suốt mà
chỉ được thực hiện ở những điểm cơ bản và cần thiết nhằm làm nổi bật đặc thù về ngữ
pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt.
4. Ngữ liệu nghiên cứu
- Việc thống kê động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt dựa vào Từ
điển tiếng Việt (2011, Hoàng Phê chủ biên), trong tiếng Anh dựa vào từ điển dành cho
người học Oxford Advanced Learner's Dictionary of Current English (2005, Hornby)
và từ điển trực tuyến dành cho người bản ngữ, đó là: Từ điển Merriam Webster của Mĩ
và Từ điển Oxford của Anh (xem địa chỉ trang web ở phần Từ điển tra cứu).
- Ngữ liệu được lấy từ các nguồn sau: từ điển, từ các tác phẩm văn học, ấn
phẩm báo chí với nhiểu thể loại và thuộc nhiều lĩnh vực, lấy từ khẩu ngữ, từ các
2


phương tiện thông tin đại chúng, ví dụ dẫn lại của các nhà nghiên cứu đi trước. Ngoài
ra, việc nghiên cứu ngôn ngữ đặc biệt cần tới ngữ cảm của người nghiên cứu, do đó có
một số ít các ví dụ là những câu thông dụng, được chúng tôi đặt ra.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận án sử dụng những phương
pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp miêu tả: là phương pháp chủ đạo với các thủ pháp:
+ Thủ pháp trường nghĩa được chúng tôi vận dụng để tập hợp 211 động từ nhận
thức vào một trường từ vựng - ngữ nghĩa;
+ Thủ pháp thống kê được sử dụng để tìm hiểu số lượng, tần số xuất hiện, tỉ lệ
phần trăm của các động từ theo nhiều tiêu chí khác nhau;
+ Thủ pháp phân tích vị từ - tham tố được vận dụng để xem xét các tham tố bắt
buộc và không bắt buộc của một động từ nhận thức;
+ Thủ pháp phân tích văn cảnh được chúng tôi sử dụng để xem xét tư cách đa

giao tiếp và tư duy.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được triển khai trong 4 chương:
- Chương 1. Tổng quan và cơ sở lí thuyết
- Chương 2. Đặc điểm ngữ pháp của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức
trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)
- Chương 3. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức
trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)
- Chương 4. Đặc điểm ngữ dụng của một số biểu thức ngôn ngữ có chứa động
từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)
Trong đó:
- Chương 1 có tác dụng tổng quan lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước, tạo
cơ sở cho chúng tôi đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế của các công
trình đi trước, từ đó có sự kế thừa và đặt nhiệm vụ nghiên cứu một cách hệ thống
những vấn đề còn bỏ ngỏ; đây cũng là chương đặt nền tảng lí thuyết cho việc triển khai
các nội dung cụ thể ở những chương tiếp theo;
- Ở chương 2, chúng tôi đặt tiêu điểm ở việc chỉ ra những cấu trúc ngữ pháp đặc
thù của nhóm động từ nhận thức, phân biệt đặc điểm ngữ pháp của nó với những nhóm
động từ khác, tập trung hơn cả là sự phân biệt với nhóm động từ tri giác;
- Ở chương 3, bên cạnh những nghiên cứu trên diện rộng về đặc điểm ngữ nghĩa
của cả nhóm, chúng tôi còn có những nghiên cứu khá sâu về nghĩa, quan hệ ngữ nghĩa
của những động từ đại diện;
- Chương 4 không đi vào miêu tả đặc điểm ngữ dụng của từng động từ nhận
thức vì điều này đòi hỏi một ngữ liệu quá rộng, thay vào đó, chúng tôi chỉ ra đặc điểm
và chức năng ngữ dụng tiêu biểu của những động từ điển hình.

4


CHƯƠNG 1 . TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

một cấu trúc chêm xen, hoạt động và thực hiện chức năng như là những trạng từ tình
thái (modal abverbs): probably, possibly, maybe, v.v.
5


Trong công trình I think - an English modal particle, Aijmer (1997) tiến thêm
một bước khi nghiên cứu cấu trúc này. Theo ông, I think “đã đi một bước khá xa”
được ngữ pháp hóa để trở thành một tiểu từ tình thái (modal particles). Tiểu từ tình
thái là một phương tiện thể hiện nghĩa tình thái, “là yếu tố có nghĩa, thường rất ngắn,
xuất hiện đâu đó trong phát ngôn, biểu thị những ý nghĩa bổ trợ cho phát ngôn”. (Platt
1987, dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp 2008)
Vẫn thừa nhận tư cách động từ của think nhưng là những động từ yếu (weak
verbs) đó là Mindt (2003) và Blanche & Willems (2007, 2008) (dẫn theo Van 2011).
Tóm lại, dù cách gọi tên có khác nhau nhưng về cơ bản các tác giả đều thống
nhất quan điểm: Động từ nhận thức khi đi vào những cấu trúc như thế thường không
phản ánh nghĩa miêu tả mà thể hiện nghĩa tình thái, phản ánh thái độ, mức độ cam kết
của người nói đối với tính chân thực của nội dung mệnh đề đi theo sau. Cần lưu ý, đây
không phải là nghĩa ban đầu của động từ nhận thức mà là quá trình phát triển nghĩa về
sau. Điều này thực ra cũng dễ hiểu bởi việc sử dụng ngôn ngữ có tác động đến cấu trúc
ngôn ngữ, cho nên, tất yếu trong ngôn ngữ có những nhân tố ngữ dụng được mã hóa.
Một hình thức ngôn ngữ như: I think/believe/guess, v.v. tỏ ra “rất nhạy” với nhu cầu
giao tiếp của con người, càng được sử dụng nhiều chúng càng có xu hướng ổn định về
cấu trúc và mã hóa thái độ của người nói.
- Động từ nhận thức được nghiên cứu với tư cách là động từ hàm thực (factive
verbs) hoặc động từ vô hàm (non - factive verbs)
Dựa vào sự khác biệt về ngữ pháp và ngữ nghĩa, một số tác giả đã có sự phân
biệt động từ hàm thực và động từ vô hàm. Trong danh sách động từ hàm thực và vô
hàm của Kiparsky (1971), của Leech (1974), chúng ta nhận thấy sự góp mặt của một
số động từ chỉ hoạt động nhận thức tiêu biểu như: know, realize, forget (được xếp vào
động từ hàm thực) và think, believe, suppose (được xếp vào động từ vô hàm). Đặc

Vd: 1) He is thinking about Jones. (Anh ta đang nghĩ đến Jones.)
+ Think chỉ một trạng thái nhận thức không được xác định về thời gian.
Vd: 2) He thinks that Jones is a rascal. (Anh ta nghĩ Jones là một kẻ bất lương.)
Thoạt nhìn qua, việc lấy tiêu chí thể thời gian để phân biệt nghĩa cho think của
Vendler có vẻ thuyết phục, tuy nhiên, theo Wierbiczka (1998), đó chỉ là một sự nhầm
tưởng. Một ý kiến đánh giá (như vd 2) thường không được xác định về thời gian,
không bị ảnh hưởng bởi yếu tố thời gian, tuy nhiên vẫn có những đánh giá được xác
định vị rõ về mặt thời gian (thời gian nhất thời) như ở vd: 3) I think that someone is
knocking at the door (Tôi nghĩ ai đó đang gõ cửa). Bà đặt ra câu hỏi liệu có nên tách
think (trong ngữ liệu trên) thành hai nghĩa hay thực chất chỉ là một. Trên thực tế cũng
có nhiều tác giả chủ trương phân biệt think như Vendler (chẳng hạn Persson 1993,
Aijmer 1997). Chúng ta sẽ trở lại quan niệm của hai tác giả này ở phần sau, họ đi theo
hai hướng tiếp cận khác nhau về hiện tượng đa nghĩa của think (Aijmer đi theo hướng
của ngữ nghĩa học tri nhận, còn Persson đi theo hướng nghiên cứu phiếm thời luận
(panchronic perspective)).

7


- Động từ nhận thức được nghiên cứu với tư cách là những nguyên tố ngữ
nghĩa: Năm 1972, 1992, 1996, 1998 khi nghiên cứu về siêu ngôn ngữ, Wierzbicka đã
công bố một danh sách các semantic primitives (nguyên tố ngữ nghĩa, Hoàng Dũng,
Cao Xuân Hạo 2005), trong đó có các động từ chỉ hoạt động nhận thức bao gồm: think
và know. Đặc điểm của các nguyên tố ngữ nghĩa là tính phổ quát trong vốn từ vựng
của mọi ngôn ngữ tự nhiên.
- Động từ chỉ hoạt động nhận thức được nghiên cứu ở quan hệ ngữ nghĩa
như đa nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa, chuyển nghĩa
+ Với hiện tượng đồng nghĩa, gần nghĩa, Apresjan có hai bài nghiên cứu về
một số vị từ nhận thức trong tiếng Nga, bao gồm schitat' (to consider- cân nhắc, xem,
xem xét) và znat' (to know- biết).

bên cạnh tính phổ quát như đã nói, trong quá trình phái sinh ngữ nghĩa, các nguyên tố
ngữ nghĩa có thể mở rộng ý nghĩa để trở thành một từ đa nghĩa, sự mở rộng này có thể
không giống nhau ở các ngôn ngữ và các nguyên tố ngữ nghĩa chỉ hoạt động nhận thức
cũng không phải là ngoại lệ. Đây là cơ sở để Goddard (2003), theo cách tiếp cận của
ngôn ngữ học tri nhận, bước đầu xem xét sự mở rộng ngữ nghĩa của think (nghĩ) trong
tiếng Anh, tiếng Quan thoại, tiếng Yupik Eskimo, tiếng Samoan, tiếng Nhật. Một phát
hiện khá thú vị là: động từ think có xu hướng mở rộng ngữ nghĩa vào lĩnh vực tâm lí tình cảm.
Ngoài ra, các tác giả còn chú ý đến hiện tượng chuyển nghĩa của những từ
thuộc trường ngữ nghĩa khác vào trường nghĩa chỉ hoạt động nhận thức. Tiêu
biểu cho quá trình này là sự phát triển ngữ nghĩa của những động từ biểu thị tri giác
(perception verbs) sang biểu thị hoạt động nhận thức (cognition verbs). Có thể kể đến
công trình nghiên cứu sự chuyển nghĩa của các động từ tri giác trong tiếng Anh, Tây
Ban Nha và tiếng Basque vào địa hạt nhận thức của Iraide (1999) hay nghiên cứu sự
mở rộng ngữ nghĩa của động từ tri giác sang phạm vi nhận thức trong một số ngôn ngữ
ở Australia của Evans và Wilkins (2000). Đây là gợi ý tốt để chúng tôi nghiên cứu một
số động từ tri giác tiếng Việt chuyển nghĩa vào lĩnh vực nhận thức mà điển hình là
động từ thấy.
iii) Nghiên cứu động từ chỉ hoạt động nhận thức từ bình diện ngữ dụng
- Phần lớn nghiên cứu tập trung xem xét chức năng tổ chức và tương tác hội
thoại của các tác tử ngữ dụng (pragmatic markers) có chứa động từ chỉ hoạt động
nhận thức xuất hiện với tần số cao trong hội thoại, đó là:
+ I don’t know (Tôi không biết): Cấu trúc này có mặt trong nghiên cứu của
Tsui (1991), Scheiman (1999), Diana, Potter (2004), Woffitt (2005), Aijmer (2009),
Grant (2010);
+ You know (Anh biết đấy) lại thu hút sự quan tâm của Schiffrin (1987, 1996),
Macaulay (2002), Fox Tree & Schrock (2002), Aijmer (2009);
+ I know (Tôi biết) tuy không được nghiên cứu phong phú như You know nhưng
vẫn là sự quan tâm của Irwin (2006).

9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status