1
Lời cảm ơn
Để có được bản luận văn hoàn chỉnh này, em xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành và sâu sắc đối với sự hướng dẫn tận tâm, chỉ bảo chu đáo của thầy
giáo hướng dẫn - PGS. TS Đoàn Đức Phương.
Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo, cán bộ của phòng Sau
Đại học - Đại học sư phạm Hà nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy, công tâm tạo
điều kiện giúp đỡ về thủ tục hành chính cũng như các giấy tờ cần thiết để em
có thể hoàn thành đúng hạn luận văn của mình. Đồng thời xin tri ân đối với sự
động viên, khích lệ của người thân, bạn bè trong suốt thời gian tôi thực hiện
nhiệm vụ học tập và làm luận văn.
Hà Nội, ngày…..tháng….năm 2013.
Tác giả luận văn
Phan Thị Yến
2
MỤC LỤC
Mở đầu............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................. 4
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 7
5. Cấu trúc luận văn......................................................................................... 7
Chương 1: Đặc trưng thể loại truyện ngắn và quá trình sáng tác của Đỗ
Bích Thúy ....................................................................................................... 9
1.1.Đặc trưng thể loại truyện ngắn .................................................................. 9
1.2.Quá trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy ..................................................... 21
3.1.1.2.4. Điểm nhìn trần thuật phức hợp ..................................................... 78
3.2. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy ................... 84
3.2.1.Lời văn trần thuật ................................................................................. 85
3.2.1.1. Lời trần thuật gián tiếp của người kể chuyện................................... 85
3.2.1.2. Lời trần thuật nửa trực tiếp............................................................... 88
3.2.2. Lời văn miêu tả.................................................................................... 93
3.2.2.1. Lời văn miêu tả thiên nhiên.............................................................. 94
3.2.2.2. Lời văn miêu tả về cuộc sống của con người miền núi ................. 102
Kết luận ...................................................................................................... 108
Tài liệu tham khảo..................................................................................... 110
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Truyện ngắn được hiểu là “ tác phẩm tự sự cỡ nhỏ” (theo Từ điển văn
học) và nếu chỉ dừng lại ở cách định nghĩa này thì truyện ngắn đặt trong sự so
sánh, đối chiếu với tiểu thuyết chỉ khác nhau về dung lượng phản ánh. Tuy
nhiên trên thực tế xét về bản chất thì truyện ngắn được coi là một thể loại tự
sự độc lập. Điều đó có nghĩa là truyện ngắn có những đặc điểm khác biệt với
các thể loại tự sự khác, đặc biệt là tiểu thuyết.
Vì đặc trưng của thể loại truyện ngắn là nhỏ gọn nên ngay từ khi ra đời
đã trở thành một thể loại gần gũi gắn với đời sống hàng ngày và được mệnh
danh là “ một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi không ngừng. Nó là một
vật biến hóa như quả chanh của Lọ Lem” (D.Grônôpxki). Và truyện ngắn đã
len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội đồng thời bắt kịp với những
chuyển biến muôn màu của cuộc sống từ sinh hoạt hàng ngày đến các vấn đề
thời sự.
Ở Việt Nam, kể từ giai đọan xuất hiện đầu tiên là vào những thập niên
Văn nghệ Quân đội) là một cây bút trẻ trên văn đàn hiện nay. Chị đến với văn
chương bằng một truyện ngắn đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám đăng trên
báo Tiền Phong và vụt tỏa sáng với giải nhất trong cuộc thi sáng tác truyện
ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội 1998 – 1999 với chùm ba tác phẩm nộp
vào giờ chót: Sau những mùa trăng, Ngải đắng ở trên núi và Đêm cá nổi.
Từ đó đến nay chị tiếp tục khẳng định mình bằng một loạt các tác phẩm mới
và tính đến nay Đỗ Bích Thúy đã xuất bản được năm tập truyện ngắn: Sau
những mùa trăng(2000), Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (2002), Kí
ức đôi guốc đỏ (2003), Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2005), Mèo đen
(2011); một tập truyện vừa Người đàn bà miền núi (2007) ; một tiểu thuyết
Bóng của cây sồi (2005) và một tập tản văn Trên căn gác áp mái (2011).
Ngoài ra chị còn viết kịch bản cho sân khấu kịch nói như Cô gái xinh dẹp,
6
Quá khứ đòi nợ. Đặc biệt truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của chị
đã được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành kịch bản phim Chuyện
của Pao. Bộ phim đã gây được tiếng vang lớn, đoạt giải Cánh diều vàng năm
2005 của Hội điện ảnh Việt Nam.
Mặc dù những sáng tác của chị khá phong phú về mặt thể loại nhưng có
lẽ tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc lại chính là những truyện
ngắn, bằng giọng văn tinh tế, câu văn dung dị, Đỗ Bích Thúy đã đưa bạn đọc
đến với không gian của núi rừng Tây Bắc để có thể cảm nhận được cái đẹp,
cảm nhận được chất thơ trong cảnh sắc thiên nhiên và quan trọng hơn là cùng
chị trăn trở về những điều được và mất, cái hay và cái dở do sự biến động của
nền kinh tế thị trường ngày nay đem lại; những day dứt với cuộc đời, thân
phận con người mà đặc biệt là người phụ nữ cùng những tập tục phong kiến
đã ăn sâu trong tâm thức của người dân nơi ấy.
Ở khía cạnh phương pháp sáng tác dù không phải là người tìm ra
của mình trước những gì chị đã viết và họ cũng thể hiện sự đồng cảm với
những suy nghĩ, trăn trở của chị nhưng điều quan trọng là họ muốn tìm cho ra
nguyên nhân của những cuốn hút kia.
Đỗ Bích Thúy đến với văn chương từ khá sớm, truyện ngắn đầu tay của
chị in trên mục Tác phẩm tuổi xanh của báo Tiền Phong chưa tạo được tiếng
vang thì sau khi đoạt giải nhất cuộc thi viết truyện ngắn của báo Văn nghệ
Quân đội thì tài năng của chị bắt đầu được mọi người chú ý.
Đã có rất nhiều bài viết với những ý kiến đánh giá khác nhau về tác
phẩm của chị trên báo viết hoặc báo mạng. Trên báo Văn nghệ Trẻ, số ra ngày
11 tháng 3 năm 2001, tác giả Điệp Anh đã nhận ra nguyên nhân khiến truyện
ngắn của Đỗ Bích Thúy tạo ấn tượng trong lòng độc giả đó chính là nét văn
hóa rất riêng của núi rừng Tây Bắc thấm đẫm trong từng trang viết: “ Thế
mạnh của Đỗ Bích Thúy là đời sống người dân Tây Bắc với những không
8
gian vừa quen vừa lạ, những phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn
cảm thấy tò mò và bị cuốn hút…Trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, không
gian Tây Bắc hiện lên đậm nét, để lại dư vị khó quên trong lòng độc giả” [1].
Không gian văn hóa Tây Bắc còn thu hút sự chú ý của nhiều nhà văn, nhà phê
bình văn học bởi họ không chỉ cảm thấy thú vị trước “ những cái rất riêng
đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng…” [15] mà còn đánh giá cao “
khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một
cách tài tình” [10] của Đỗ Bích Thúy. Họ đánh giá cao truyện ngắn của chị
trên phương diện văn hóa để từ đó khẳng định dấu ấn vùng miền là điều đặc
biệt để làm nên phong cách nghệ thuật của cây bút nữ trẻ này. Tuy nhiên đây
mới là sự cảm thụ tác phẩm đơn thuần, tính khái quát được đánh giá trong văn
phong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy được thể hiện trong bài viết Từ truyện ngắn
của một người viết trẻ của tác giả Lê Thành Nghị in trên báo Văn nghệ Trẻ số
nhiều những đánh giá sâu sắc khác đối với tài năng văn phong Đỗ Bích Thúy.
Bên cạnh đó là một số công trình nghiên cứu bước đầu so sánh đối
chiếu với một số nhà văn trẻ khác như: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh
Trường với đề tài Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc qua tác
phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Huy Thiệp (2009). Luận
văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Hồng về đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ
thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 – 2006 (
Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy (2009). Luận văn
thạc sĩ của Ngô Thị Yên với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
của Đỗ Bích Thúy (2011). Luận văn thạc sĩ của Dương Thị Kim Thoa về
Tiếp cận sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy từ phương diện
giá trị văn học – văn hóa (2008). Và gần đây nhất là luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Xuân Thủy với đề tài Đặc điểm truyện ngắn Đỗ Bích Thúy (2012).
Đỗ Bích Thúy đã và đang giành được sự quan tâm của báo chí cũng
như công chúng đối với tác phẩm và khả năng sáng tạo của mình và để có cái
10
nhìn sâu sắc, toàn diện về những sáng tác của nhà văn trẻ triển vọng này
chúng tôi mạnh dạn áp dụng lý thuyết và thực tiễn để tìm hiểu truyện ngắn
của chị ở góc độ thể loại.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích là nhằm chỉ ra những đặc điểm nổi bật làm nên phong
cách nghệ thuật của Đỗ Bích Thúy đồng thời thấy được những đóng góp của
nhà văn trẻ này trong sự vận động của văn học Việt Nam đương đại, chúng tôi
lựa chọn các phương diện nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Đỗ Bích
Thúy làm đối tượng nghiên cứư và khảo sát.
Ngoài những truyện ngắn không viết về đề tài miền núi như Ở phố,
Trong đám đông có một ánh mắt và những truyện ngắn đã được in lại nhiều
SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY
1.1. Đặc trưng thể loại truyện ngắn
Theo các sách giáo khoa chính thống hiện nay, truyện ngắn được định
nghĩa là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm
hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc
đáo của nó là ngắn gọn. Bởi truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch.
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện
ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác (các loại truyện kể dân gian cũng có độ
dài tương đương với truyện ngắn). Hình hài của truyện ngắn hiện đại như ta
thấy hiện nay là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm
bắt cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại. Truyện ngắn xuất hiện tương
đối muộn trong lịch sử văn học. Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh
đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường chỉ
hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong
quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Vì thế, trong truyện
ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nếu mỗi nhân vật của tiểu
thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của
thế giới ấy. Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa
những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn
cảnh.
Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ
xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người.
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không
gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về
cuộc đời và tình người.
13
Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà
báo. Độc giả cần truyện ngắn và nhà văn bỗng nhiên phát hiện ra mình có
thêm một thể loại văn học mới để chuyển tải ý đồ nghệ thuật. Không hề lững
chững lúc mới ra đời và cũng không cần phải mất hàng thế kỷ để hoàn thiện
và phát triển. Như ta đã thấy, chỉ trong khoảng thời gian từ đầu đến giữa thế
kỷ 19, Hawthorne, Poe và Turgenev đã có thể viết nên những truyện ngắn
kinh điển có sức sống đến tận hôm nay. Giữa thế kỷ 19, truyện ngắn đã hiện
rõ hình hài và cuối thế kỷ này truyện ngắn phát triển đến đỉnh cao hoàn mỹ
với những truyện ngắn vào loại bậc thầy của Anton Chekhov.
Ai là người có công khai sơn phá thạch của thể loại truyện ngắn? Có ý
kiến cho rằng công đầu là tác phẩm Chuyện mười ngày của Boccaccio
. Nhưng người ta còn băn khoăn khi muốn nói: “Đây là một truyện ngắn hiện
đại”. Nhiều người cho rằng đó là truyện ngắn The Two Drovers của Walter
Scott đăng trên một tờ báo của Canongate (Edinburgh, Scotland) năm 1827.
Đó là một điểm khởi đầu hợp lý, vì sau truyện ngắn này, tên tuổi
của Walter Scott vang dội khắp nơi, ảnh hưởng của ông không chỉ dừng lại ở
những nhà văn trong nước như GeorgeEliot và Thomas Hardy mà còn
tới Balzac (Pháp),
Pushkin và Turgenev (Nga), FenimoreCooper và Hawthorne (Mỹ).
Những nhà văn này tiếp tục để lại ảnh hưởng đến các cây bút về sau
như Flaubert, Maupassant, Chekhov, Poe và Melville… Như vậy, chúng ta đã
có thể lần tìm được dòng phát triển của truyện ngắn từ khởi nguồn của nó.
Tuy nhiên, là sau sự khởi động của Scott, giữa thế kỷ 19, truyện ngắn Anh
dường như biến mất trước sự thống trị của tiểu thuyết. Các nhà văn Pháp, Nga
và Mỹ dường như tận dụng thể loại này một cách nhanh chóng hơn. Chỉ đến
những năm 1880, với sự xuất hiện của Robert Louis Stevenson, người ta mới
thấy truyện ngắn hồi sinh lại ở Anh, kéo theo một dòng các nhà văn khác như
Wells, Bennett, James và Kipling .
15
Ở Trung Quốc và Nhật Bản, trước đây người ta vẫn coi truyện ngắn
thuộc thể loại tiểu thuyết, được gọi là “tiểu thuyết đoản thiên” để phân biệt
với loại tiểu thuyết chương hồi dài tập hay “tiểu thuyết trường thiên”.
Ở Việt Nam, truyện ngắn đầu tiên xuất hiện trên văn đàn là Sống chết
mặc bay của Phạm Duy Tốn(1881-1924), nhà văn xã hội tiên phong của nền
văn học mới Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20. Trước khi trở thành một nhà văn,
nhà báo, ông từng là thông ngôn ở tòa Thống sứ Bắc Kỳ. Truyện ngắn
Sống chết mặc bay của ông được coi là truyện ngắn đầu tiên theo lối tây
phương của văn học Việt Nam. Ngoài tên thật Phạm Duy Tốn, ông còn viết
với các bút danh Ưu Thời Mẫn, Đông Phương Sóc, Thọ An. Sống chết mặc
bay được in trên báo Nam Phong tháng 12 năm 1918. Tác phẩm được giới
thiệu một cách ấn tượng với người đọc: Dưới tiêu đề chữ to MỘT LỐI VĂN
MỚI và lời giới thiệu đặc biệt của chủ báo Phạm Quỳnh, câu chuyện trải dài
suốt ba cột báo. Sống chết mặc bay được lấy cảm hứng từ chính những trải
nghiệm của Phạm Duy Tốn với trận lũ lịch sử ở Bắc Kì mà ông từng mô tả
trong bài báo nổi tiếng Hoạn nạn tương cứu, chứ không chỉ là sự sao chép
từ Le partie de billard của Alphonse Daudet. Sau truyện ngắn này, Phạm Duy
Tốn không viết truyện ngắn nữa nhưng trên văn đàn văn học Việt Nam hiện
đại đã xuất hiện nhiều nhà văn có tài và “có duyên” với thể loại văn học mới
mẻ này như: Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,
v.v…
Khi nghiên cứu sự phát triển của những thể loại trong những thời kỳ lịch
sử khác nhau, M.B.Khrapchenco đã phát triển luận điểm của V.Bielinxki
“…nếu như có những tư tưởng của thời đại thì cũng có những hình thức của
thời đại”, ông lưu ý rằng, khi quan sát sự bộc lộ mối liên hệ với thời đại, với
hiện thực lịch sử của sự phát triển của những thể loại, chúng ta phải thấy rằng
sự phát triển các thể loại trong những thời kỳ lịch sử nhất định nằm trong mối
18
“Đối với truyện ngắn hay, có một vấn đề đặc biệt quan trọng, đó là bảo vệ
cho được tính xác định về mặt thể loại. Truyện ngắn cần phải cô đọng đến
mức cao nhất. Vấn đề số một đối với nó là vấn đề dung lượng - “tất cả trong
một”. Nhà văn có tài, có phẩm chất sáng tạo chính là người chấp nhận tự
nguyện và thoải mái những nguyên tắc sắt đá của thể loại. Trong quá trình
chấp nhận lề luật đó, chính là anh ta đã làm cho những nguyên tắc sắt đá đó
trở nên hoàn mỹ. Thể loại càng đẹp, càng tinh xảo, tư tưởng càng sâu sắc,
càng lớn lao.
Trong lịch sử phát triển lâu dài của nghệ thuật văn chương nhân loại, có
rất nhiều ví dụ về những nhà cách tân lớn mà bằng tài năng độc đáo của mình
đã đưa thể loại truyện ngắn đến những đỉnh cao rực rỡ của sự hoàn mỹ. Tính
cách tân của các thiên tài là làm phong phú, đa dạng thể loại đồng thời tiến tới
khẳng định những nguyên tắc cơ bản, những quy định ngặt nghèo và khắt khe
của sáng tạo nghệ thuật ở thể loại truyện ngắn.
Những cách tân, sáng tạo của các nhà văn bậc thầy về truyện ngắn đã
khẳng định rằng, truyện ngắn, về tạng chất của nó rất gần với thơ, thậm chí có
thể nói một cách không đến nỗi quá đáng rằng, truyện ngắn là một dạng cấu
trúc đặc biệt của thơ. Với ý nghĩa ấy, truyện ngắn có vị trí cao cả đặc biệt ở
ngay cả trong “bầu trời Thi ca” mà lâu nay thơ ca độc tôn.
Cần lưu ý rằng, cái nghĩa Thơ được nói đến ở đây cần được hiểu là chất
trữ tình sâu lắng của những trạng huống, của những tâm trạng nhân vật trong
truyện ngắn (chứ không phải là những sự uốn éo cầu kỳ trong câu văn, sự lòe
loẹt trong tả cảnh…), là sự cao đẹp của tư tưởng thẩm mỹ khả dĩ có sức mạnh
chắp cánh mà nâng cao tâm hồn người đọc thoát khỏi những sự níu kéo của
cái “trần tục” ở đời thường đặng vươn tới những ý tưởng đầy nhân văn và
sáng tạo. Với ý nghĩa ấy, chất thơ của truyện ngắn chính là cái tâm trong sáng
mà đầy nặng sự ưu thời mẫn thế của nhà văn.
Truyện ngắn là một thể loại văn học. Nó thường là các câu chuyện được
20
kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các
câu chuyện dài như tiểu thuyết. Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ
vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số
đó. Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ
thuật truyện ngắn.
Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất
định. Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được một
diện rộng lớn của đời sống. Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về
nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài như
tiểu thuyết. Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảnh khắc của cuộc sống. Ví dụ
một truyện ngắn kể về Nhà chứa Tellier của Maupassant thời gian chỉ 24 giờ;
Lời phán quyết của Kafka chỉ xảy ra trong vài tiếng.
Paul Bourget, nhà phê bình Pháp thế kỷ 20 có nhận định về hai thể loại
trên, qua đó cũng giải thích phần nào về sự chênh lệnh số trang của chúng:
“Phong cách của truyện ngắn và của tiểu thuyết rất khác nhau. Phong cách
của truyện ngắn là thuộc về tình tiết. Cái tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn
tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại. Các tình tiết mà cả dãy đã làm
nên đối tượng của tiểu thuyết, tiểu thuyết đã làm ngưng kết chúng, nối chúng
lại với nhau. Tiểu thuyết tiến hành thông qua các triển khai, còn truyện ngắn
thông qua sự tập trung... Truyện ngắn là độc tấu. Tiểu thuyết là giao hưởng”.
Như vậy, thông thường tiểu thuyết phải dài hơn truyện ngắn. Song không phải
bất cứ một tác phẩm dài nào cũng là tiểu thuyết. Phần quan trọng để được gọi
là tiểu thuyết còn ở cấu trúc của nó. Có hai cách để phân biệt truyện ngắn hay
tiểu thuyết đó là có thể căn cứ theo số trang mà truyện có thể in ra và căn cứ
theo cách viết của cả truyện: Tiểu thuyết hay truyện dài thì cứ triền miên theo
không phải chỉ ở độ dài ngắn. Yếu tố mới lạ của truyện ngắn là phải tạo nên
được sự cuốn hút đối với người đọc vào những sự kiện đang diễn ra một cách
đầy biến động của cả đời thường và những chuyện lớn lao của thời đại. Điều
22
cần nhấn mạnh là, yếu tố mới lạ đó là sự xâu chuỗi cái đời thường và những
cái lớn lao thành một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh đặc biệt ngắn gọn, cô
đọng của truyện ngắn khiến cho cái cụ thể và cái trừu tượng, cái cá biệt và cái
điển hình ở truyện ngắn khác hẳn tiểu thuyết: nó hòa vào nhau và dường như
là một để tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ ở người đọc - đọc liền một mạch.
Chính ở cách đọc truyện ngắn này, một lần nữa cho ta thấy cái phẩm chất gắn
bó với thơ của nó: mạch cảm hứng không đứt đoạn và truyện ngắn nào hay là
những truyện ngắn cấu trúc theo một cái tứ độc đáo như của tứ thơ vậy.
Ngắn ở truyện ngắn đồng nghĩa với cô đọng, tinh chất - nhìn vào đó có
thể thấy cuộc sống hiện ra với đủ sắc màu của nó. Sự thách đố ở đây là ai viết
được ngắn gọn nhất. Lep Tonxtoi nói: “Tôi không có thời gian để viết
ngắn!”. Còn A. Tsekhop nói: “Để có một truyện ngắn tốt, trong truyện đó,
không có cái gì được thừa, cũng y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả đâu
vào đấy, không có gì được thừa, truyện ngắn cũng vậy. Nghệ thuật viết, nói
cho đúng ra, không phải ở chỗ viết như thế nào, mà là nghệ thuật vứt bỏ đi
những gì dở kém như thế nào”…
Và A.Tsekhop đã rất trung thành với những nguyên tắc đó của nghệ thuật
viết truyện ngắn. Ông cố gắng viết thật ngắn, nhưng truyện của ông nồng ấm
hơi thở đời sống, bao quát những vấn đề cơ bản của xã hội và vang lên âm
hưởng sử thi quyến rũ. Sự sáng tạo của A.Tsekhop khiến ta ngạc nghiên chính
là kết cấu chặt chẽ, ngắn gọn và có vẻ đẹp thanh tú, giản dị đến tuyệt vời. Đó
là sự ngắn gọn, giản dị của thiên tài. Tomat Man nói:”Sự ngắn gọn của
Tsekhop là sự ngắn gọn tráng lệ”. Còn Trifnov nói: “Truyện ngắn của
một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác. Đây là một công việc vô cùng tinh tế.
Xoay xỏa trên một mảnh đất chật hẹp, chính đó là chỗ làm cho truyện ngắn
phân biệt với các thể loại khác” (Ts. Aitmatốp) , v.v…
A. Tônxtôi nhận định: truyện ngắn là một trong những thể tài văn học
khó nhất. Về nội dung cũng như về tư tưởng, nó không khác gì tiểu
24
thuyết…chỉ có điều do ngắn nên khó hơn…Truyện ngắn đòi hỏi một công
phu lao động lớn. Đây là chỗ đánh dấu trình độ nghệ thuật một nền văn
học”. William Faulkner mặc dù đã có 8 cuốn tiểu thuyết nổi tiếng song cũng
phải thừa nhận rằng viết truyện ngắn còn khó hơn viết tiểu thuyết và ông chỉ
viết được hai tập truyện ngắn.
Angus Wilson từng nói: “Trong nhận thức của tôi thì truyện ngắn và kịch
tương đối gần nhau. Bạn xác định một thời khắc và cho câu chuyện phát triển
từ đấy trở đi, không có chuyện quay lui”. Mỗi nhà văn một quan niệm: những
khoảnh khắc thăng hoa trong đời sống thường nhật; có dấu nét tự sự bên dưới;
vấn đề kết cấu và xu hướng. Tôi có thể dẫn ra nhiều định nghĩa khác nữa, có
cái mâu thuẫn, có cái quá cường điệu, nhưng tất cả đều rất thuyết phục theo
cách riêng của mình. Nếu ngôi nhà của văn xuôi có nhiều cửa sổ thì ngôi nhà
của truyện ngắn cũng có nhiều cửa sổ không kém…Dù sao mặc lòng, truyện
ngắn lôi cuốn tôi vì tính đa dạng, khả năng thể hiện những giọng điệu khác
nhau, cấu trúc khác nhau, phong cách và hiệu ứng nghệ thuật khác nhau”.
Nói về tương lai của thể loại truyện ngắn, William Boyd viết: “Tôi cho
rằng người đọc truyện ngắn vẫn cứ mãi còn bởi một nguyên nhân khác nữa.
Nếu tinh thần của thời đại đang có ảnh hưởng đến thị hiếu thì đấy có thể là
dấu hiệu rằng chúng ta đang tiến dần đến việc lựa chọn những hình thức nghệ
thuật cô đọng hơn”
1.2. Quá trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy
liệu đã giúp cho Đỗ Bích Thúy hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống con người. Và
sau đó chị học tiếp lên đại học tại Hà Nội, với những tháng ngày miệt mài học
hành chị mong mỏi có thêm nhiều kiến thức về phục vụ cho công tác làm báo
sau này của mình, đồng thời sống trong môi trường sinh viên xa nhà, thiếu
thốn nhiều thứ chị lại xa gia đình, Đỗ Bích Thúy luôn đau đáu nhớ về quê
hương – nơi có bố mẹ, anh chị em và bạn bè. Đó cũng là nguồn cảm hứng để
ngòi bút lại thôi thúc chị viết, chị viết trong môi trường không gian chật hẹp