TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
VÕ THỊ THỦY
TẾ CẤP BÁT ĐIỀU
CỦA NGUYỄN TRƢỜNG TỘ
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. LÊ THỊ HẢI YẾN
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến ThS.
Lê Thị Hải Yến - Giảng viên Tổ Văn học Việt Nam, người đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Tổ Văn học Việt Nam
cùng các thầy, cô trong Khoa Ngữ Văn - Trường Đại Học Sư phạm Hà Nội 2
đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót,
tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ phía thầy cô và các bạn để
1.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX.......................................... 8
1.2. Tác giả Nguyễn Trƣờng Tộ ................................................................ 13
1.2.1. Cuộc đời.......................................................................................... 13
1.2.2. Con người ....................................................................................... 16
1.2.3. Trước tác ........................................................................................ 18
1.3. Tác phẩm “Tế cấp bát điều” ............................................................... 20
1.3.1. Hoàn cảnh ra đời ........................................................................... 20
1.3.2. Ý nghĩa nhan đề ............................................................................. 22
1.3.3. Thể loại ........................................................................................... 22
Tiểu kết chƣơng 1 ....................................................................................... 26
Chƣơng 2. NỘI DUNG ĐIỀU TRẦN TRONG TẾ CẤP BÁT ĐIỀU ....... 27
2.1. Điều trần về chính trị, quân sự .......................................................... 27
2.1.1. Thiết lập lại bộ máy hành chính nhà nước .................................. 27
2.1.2. Sửa đổi võ bị ................................................................................... 29
2.1.3. Sửa sang lại biên giới .................................................................... 34
2.2. Điều trần về kinh tế............................................................................. 35
2.2.1. Xây dựng kinh tế nước nhà ........................................................... 35
2.2.2. Điều chỉnh thuế ruộng đất ............................................................ 39
2.3. Điều trần về văn hóa - xã hội ............................................................. 42
2.3.1. Vấn đề sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng ........................... 42
2.3.2. Xây dựng luật lệ nhà nước ............................................................ 46
2.3.3. Chăm lo đời sống nhân dân .......................................................... 47
Tiểu kết chƣơng 2 ....................................................................................... 49
Chƣơng 3. NGHỆ THUẬT VĂN CHÍNH LUẬN TRONG TẾ CẤP BÁT
ĐIỀU ............................................................................................................... 50
3.1. Kết cấu và lập luận ............................................................................. 50
3.2. Ngôn ngữ .............................................................................................. 52
3.3. Giọng điệu ............................................................................................ 56
Ngoài ra, bản thân là một giáo viên trong tương lai, với mong muốn
được bổ sung thêm kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu sẽ giúp tôi có thêm
1
những hiểu biết sâu sắc về thể loại văn chính luận trung đại nói chung và Tế
cấp bát điều nói riêng để phục vụ tốt hơn cho công việc giảng dạy sau này.
Đó là những lí do khích lệ tôi lựa chọn đề tài “Tế cấp bát điều của
Nguyễn Trường Tộ từ góc nhìn thể loại”. Hi vọng rằng, nghiên cứu này sẽ
phần nào làm rõ đặc trưng về nội dung, nghệ thuật văn chính luận thời trung
đại cũng như đánh giá đúng vị trí của Nguyễn Trường Tộ trong dòng chảy
văn học Việt Nam trung đại.
2. Lịch sử vấn đề
Khi tìm hiểu Tế cấp bát điều và Nguyễn Trường Tộ chúng tôi có thể
điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau:
- Giám mục Trương Bá Cần là người đã bỏ ra rất nhiều công sức nghiên
cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ, sưu tầm và tổng hợp lại
gần như đầy đủ những bản điều trần mà Nguyễn Trường Tộ đã viết để gửi lên
triều đình trong cuốn sách Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo (1988),
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình gồm 600 trang đánh máy, 3000
chữ, bao gồm phần giới thiệu của tác giả và toàn bộ bản dịch 58 di thảo của
Nguyễn Trường Tộ. Trong phần đầu tiên, Trương Bá Cần đã phân tích rất chi
tiết những chặng đường đầy sóng gió của Nguyễn Trường Tộ cũng như khao
khát canh tân đất nước của ông. Phần thứ hai là phần có giá trị nhất của cuốn
sách bởi lẽ đó là tập hợp gần như đầy đủ năm mươi tám di thảo của Nguyễn
Trường Tộ. Trương Bá Cần đã có công lao lớn trong việc lưu giữ những giá
trị dân tộc to lớn của một nhà nho đương thời đáng được kính trọng. Trong
tác phẩm này, tác giả viết “Còn như các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi
cho triều đình Huế, thì có những bản là cả một bài luận văn dài” [3;103 104]. Tuy nhiên, công trình mới dừng lại ở tính chất tổng hợp, sưu tầm chứ
Tác giả đồng thời cũng phần nào tìm hiểu rõ về những tư tưởng canh tân
của Nguyễn Trường Tộ, giá trị thực tiễn của nó trong công cuộc xây dựng đất
nước. Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở giá trị lịch sử là chính chứ chưa chú trọng
về giá trị văn học của tác phẩm.
3
- Từ điển văn học (bộ mới) mục Nguyễn Trường Tộ(2004), tác giả Nguyễn
Huệ Chi khẳng định: “ Văn chương của Nguyễn Trường Tộ là lối văn chính
luận, vừa phải đảm bảo sự chặt chẽ, sắc bén, khúc chiết trong phân tích, trong
dẫn chứng nhưng cũng vừa thấm đậm cảm hứng trữ tình của tác giả, nên có sức
thuyết phục rất mạnh”.[4; 1209]
- Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường trong cuốn Từ điển văn học Việt
Nam: từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX (2005), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội nhận
định: “ Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ là những tác phẩm chính luận
viết bằng văn xuôi chữ Hán… Việc đề xuất cải cách của Nguyễn Trường Tộ
không thực hiện được, tuy vậy không làm mất ý nghĩa to lớn của các bản điều
trần của ông”.[1; 439]
- Khi nói về nghệ thuật văn chính luận trong các bản điều trần của
Nguyễn Trường Tộ, tác giả Trần Hữu Tá trong bài viết “Nguyễn Trường Tộ Một bi kịch lạc quan”, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1 năm 2012 viết “vấn
đề được đặt rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể, sống động. Tư duy lí
luận của ông rất vững nhưng thật kì lạ và thú vị, chất trữ tình thấm đẫm trong
từng trang viết” [28; 29].
- Tác giả Vương Đình Chữ trong cuốn Nguyễn Trường Tộ hôm qua và
hôm nay(2014), Nxb Tri Thức, có viết: “Có thể thấy trên đây là cả một kế
hoạch toàn diện nhằm chấn hưng đất nước và dân sinh. Nhưng triều đình đã
không ngó ngàng đến những tâm huyết này” [9; 68]. Ở cuốn sách này, tác giả
đã nghiên cứu một cách tỉ mỉ các đề nghị cải cách mà Nguyễn Trường Tộ viết
trong các bản điều trần mà cụ thể nhất là Tế cấp bát điều… Ông nêu ra những
với tư cách nhà cải cách. Những tư liệu này là cơ sở quan trọng, quý báu đối
với chúng tôi. Tuy nhiên, tất cả các tác giả trên chưa tập trung đi sâu vào phân
tích kĩ những giá trị văn học trong thơ văn Nguyễn Trường Tộ. Đặc biệt, chưa
ai nghiên cứu bản điều trần Tế cấp bát điều từ góc nhìn thể loại. Do vậy,
hướng đi của chúng tôi hứa hẹn mang đến cái nhìn mới về tác phẩm Tế cấp
5
bát điều của Nguyễn Trường Tộ.
3. Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra được những đặc điểm thể loại của Tế cấp bát điều trên hai phương
diện: nội dung và nghệ thuật.
Góp phần tìm hiểu và đánh giá được đúng đắn về vị trí của Nguyễn
Trường Tộ trong nền văn học Việt Nam trung đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, chúng tôi xác định và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Đọc, tập hợp và phân tích hệ thống tài liệu liên quan đến tác phẩm Tế
cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ.
- Vận dụng cơ sở lí thuyết đã xây dựng về thể loại văn chính luận để
nghiên cứu Tế cấp bát điều.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu Tế cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ từ góc
nhìn thể loại.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tìm hiểu, nhận diện được giá trị thơ văn của Nguyễn Trường
Tộ từ góc nhìn thể loại qua bản điều trần Tế cấp bát điều được in trong cuốn
Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo của Trương Bá Cần (1988), Nxb
NỘI DUNG
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX
Kể từ năm 1802 - 1858, triều đình nhà Nguyễn đã có hơn 50 năm xây
dựng và củng cố. Thực dân Pháp đã có ý đồ xâm chiếm nước ta từ lâu, từ cuối
thế kỉ XVIII, nhưng âm mưu này chưa thực hiện được. “Cuộc chiến bị chậm lại
một mặt là do những biến động chính trị trong nội tình nước Pháp, mặt khác là
bởi cung cách ứng xử của các vua Nguyễn” [22; 264]. Cuối thế kỉ XIX, thực
dân Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn đã bắn giết các giáo sĩ và ngăn chặn
thông thương nên đã chính thức xâm lược Việt Nam. Thực dân Pháp mất gần
40 năm mới đặt ách thống trị trên đất nước ta và gần một thế kỉ nhân dân ta
phải sống dưới sự cai trị của Pháp.
Cuối thế kỉ XIX, sự kiện Pháp xâm lược Việt Nam là sự kiện quan trọng,
nổi bật, chi phối các sự kiện khác và có sự ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp
trong xã hội. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã có
những biến chuyển to lớn. Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần túy đã
biến thành một xã hội thuộc địa, mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính
chất phong kiến. Song khi đã hình thành thuộc địa thì tất cả các mặt của xã
hội đều nằm trong quỹ đạo chuyển động đó. Trong lòng chế độ thuộc địa của
thực dân Pháp, ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau.
Tuy nhiên, cơ bản và chủ yếu nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với
thực dân Pháp và tay sai phản động.
Trong tình hình đất nước lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu
nhiều ảnh hưởng. Nông nghiệp sa sút, nhiều cuộc khẩn hoang được tổ chức
khá quy mô, và cuối cùng đất đai khai khẩn lại rơi vào tay địa chủ. Hiện
tượng dân lưu tán trở nên phổ biến, đê điều không được chăm sóc, nạn mất
mùa, đói kém xảy ra liên miên. Công thương nghiệp bị đình đốn, xu hướng
9
hóa sâu sắc trên nhiều phương diện. Đó là tầng lớp trí thức nho học Việt Nam
đã gắn bó chặt chẽ với chế độ phong kiến, do sự thu hẹp nhãn quan tư duy đã
khiến họ phản ứng với mọi sinh hoạt văn hóa phi tôn giáo. Sự đối diện với
thực dân Pháp đã khiến người trí thức nước Việt đứng trước những con đường
khác nhau. Như Nguyễn Xuân Ôn (1825 - 1889), Phan Đình Phùng (1847 1895) muốn đánh Pháp nhưng không chịu canh tân đất nước. Hay Phan Thanh
Giản (1796 - 1867), Nguyễn Trường Tộ muốn hòa hoãn với Pháp để có thời
gian, sự ổn định để đổi mới đất nước. Điều này khiến việc phân loại trí thức
Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX gặp nhiều khó khăn. Trong các giai cấp phong
kiến, có một số sĩ phu yêu nước, các trí thức đã tiếp thu truyền thống yêu
nước của dân tộc, họ sống chan hòa và cùng nhân dân chống giặc như Nguyễn
Xuân Ôn, Tôn Thất Thuyết (1839 - 1913),... Một số nhà thơ, nhà văn yêu
nước đã dùng ngòi bút chiến đấu để nói lên tâm tư, nguyện vọng, thái độ của
bản thân trước hoàn cảnh đất nước chiến tranh như Nguyễn Quang Bích
(1832 - 1890), Nguyễn Khuyến (1835 - 1909),...
Đến giữa thế kỉ XIX, cùng với sự hèn yếu của triều đình nhà Nguyễn, sự
xâm lược của thực dân Pháp và bước đầu tiếp cận với nền văn minh phương
Tây, tầng lớp nho sĩ ở nước ta đã phân hóa sâu sắc. Lúc này, ở Việt Nam diễn
ra sự va chạm giữa hai nền văn minh Á - Âu, giữa văn hóa Nho giáo và văn
hóa Thiên chúa giáo du nhập từ phương Tây. Trước đây, nền tảng xã hội là
Nho giáo, nó là gốc rễ của mọi hệ tư tưởng. Hiện tại, khi thực dân Pháp xâm
lược, Nho giáo đã không thể giữ vững vị trí độc tôn và lãnh đạo dân tộc được
nữa. Biểu hiện rõ nhất là việc xuất hiện những nhóm sĩ phu tiến bộ có đầu óc
canh tân đất nước. Những nhân vật điển hình có thể kể đến là: Nguyễn
Trường Tộ (1830 - 1871), Phạm Phú Thứ (1820 - 1883), Nguyễn Tư Giản
(1823 - 1890), Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895),… Đây là những sĩ phu có đầu
óc canh tân đầu tiên trong lịch sử nước ta, đặt nền móng cho cuộc vận động
11
những giá trị truyền thống nho học đã tồn tại nghìn năm nay hay cải cách đổi
mới theo nền văn minh phương Tây tiến bộ hơn. Sự phân hóa này chiếm vai
trò chủ đạo trong nửa cuối thế kỉ XIX. Vấn đề canh tân đất nước đã trở thành
một mối quan tâm lớn của tầng lớp trí thức khi một số quốc gia lân cận nhờ
cải cách mà thoát khỏi sự kìm hãm của chủ nghĩa tư bản. Đại diện cho khuynh
hướng chủ hòa để canh tân có thể kể đến như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ
Trạch, Đặng Huy Trứ,… Họ tiêu biểu cho một nhóm trí thức đã kịp thức tỉnh,
thoát khỏi ý thức hệ phong kiến mà nắm bắt được bước tiến của thời đại.
Trong con người họ luôn trăn trở, lo âu với sự đổi mới canh tân đất nước. Nhờ
tiếp xúc với luồng tư tưởng tiến bộ của phương Tây, họ luôn mong muốn
dùng tư duy và trí tuệ của mình để đưa đất nước đi lên. Còn bộ phận còn lại
luôn ra sức bảo vệ những giá trị truyền thống nho học lâu đời, chống phá lại
những tư tưởng canh tân đất nước lúc bấy giờ. Một phần nguyên nhân có thể
do những người thuộc phái canh tân là người Công giáo như Nguyễn Trường
Tộ. Tuy nhiên, định kiến xã hội chính là rào cản lớn nhất, nó khiến cho những
người theo Công giáo như ông khó có thể phát huy hết những khả năng vốn
có của mình. Vị thế của Nguyễn Trường Tộ chỉ được nhìn nhận và đánh giá ở
một mức độ nhất định. Thực tế là sự nghi kị của triều đình về con người
Nguyễn Trường Tộ cũng như những đề nghị cải cách của ông vẫn tồn tại.
Ngoài những vấn đề nói trên, sự phân hóa trong tư tưởng của nho sĩ
đương thời còn thể hiện ở việc xuất và xử. Những cái xử của nho sĩ lúc bấy
giờ không giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp mà là sự bất hợp
tác với kẻ thù, quyết bảo vệ tiết tháo nhà nho. Đối lập với khuynh hướng xử
thế là khuynh hướng xuất thế, họ có xu hướng hợp tác với Pháp. Tuy nhiên,
trong nhóm xuất cũng có những sự phân hóa khác nhau.
Nhìn chung, giai đoạn này tầng lớp nho sĩ Việt Nam có sự phân hóa
Năm 1858, ông được giám mục Gauthier đưa qua Hương Cảng (Hồng
Kông), Tân Gia Ba (Singapore), Thụy Sỹ, Rôma,… rồi qua ngụ tại Pháp.
13
Trong khoảng hai năm ở đây, ông đã có điều kiện học tập, nâng cao kiến thức
nhiều mặt như kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng,… Ngoài sự hiểu biết
về khoa học - kĩ thuật, ông còn có trình độ như một kiến trúc sư, một người
giỏi kĩ thuật khai mỏ và một số hoạt động công nghệ của Pháp. Cuối 1858,
Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn
(phân tháp) rồi đầu năm 1859 sang Hồng Kông.
Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Sài Gòn với một hoài bão lớn là
đem những hiểu biết thu thập được của mình để giúp đất nước canh tân, tự
cường, tự lực để mong tránh được sự mất nước, ông làm chức từ - hàn (thông
dịch viên) và bị triều đình nghi kị là tay sai của ngoại bang. Do sống trong
lòng địch nên việc phải làm việc với quân Pháp là bất đắc dĩ. Ông làm công
việc phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình Huế với Soái phủ Pháp
ở thành Gia Định. Nhiều lần ông có sửa đi một số chữ nghĩa trong công hàm
của hai bên để tránh những lời lẽ quá khích, xúc phạm tới triều đình và gây
hại cho việc tạm hòa. Ngoài ra, một số lần ông còn thông báo cho một số đại
thần của triều Nguyễn như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ những âm mưu
của thực dân Pháp. Do ông là người công giáo, có thời gian làm việc với thực
dân Pháp lâu dài, và triều đình lại luôn căm ghét đạo Ki - tô cho nên triều
đình cũng như nhân dân luôn có thái độ không tin tưởng đối với ông. Chính
điều này cho nên một người tài năng, thông minh, giàu lòng yêu nước như
ông lại không được đánh giá đúng và tin dùng như một số người khác.
1862, ông xin thôi chức Từ - hàn, lui về quê, ông dồn hết tâm trí vào việc
thảo kế hoạch giúp nước. Cho tới tháng 5 - 1863, ông đã thảo sẵn ba văn bản,
làm thành một kế hoạch hoàn chỉnh gửi lên triều đình Huế là Tế cấp luận,
công cuộc canh tân đất nước. Gần 60 di thảo của ông được người đời sau sưu
tầm và gìn giữ đã thể hiện tài năng, tư duy tài tình của ông trên nhiều phương
diện về chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự,…
15
Trong những năm cuối đời (1868 - 1871), Nguyễn Trường Tộ có góp
phần quan trọng trong việc xây dựng nhà chung Xã Đoài, đồng thời ông cũng
có nhiều liên lạc với triều đình Huế, khoảng hai mươi văn bản trong số đó
hiện có ba văn bản chưa tìm thấy ở đâu. Ngày 3 - 1 - 1871, Nguyễn Trường
Tộ được tổng đốc Nghệ An cử đi Huế với lí do là để đem học sinh đi du học.
Trong những ngày ở Huế, ông đã lặng lẽ gặp gỡ nhiều quan chức trong triều
đình và ông cũng để lại nhiều văn bản thôi thúc triều đình mở rộng bang giao,
canh tân đất nước,…Sau một thời gian ở Huế bệnh cũ tái phát, Nguyễn
Trường Tộ về Nghệ An. Ông từ trần ngày 22 - 11 - 1871 trong niềm tiếc nuối
của nhiều người.
Nguyễn Trường Tộ là một cái tên ngày càng đến gần với thế hệ ngày
nay. Với tư duy và sự cống hiến của mình, ông được người đời gọi với những
tên cao quý “người yêu nước sáng suốt”, “nhà cải cách lớn của dân
tộc”,…ông xứng đáng là một danh nhân lịch sử của dân tộc với những công
lao to lớn mà ông đã đóng góp cho sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam.
1.2.2. Con người
Nguyễn Trường Tộ sinh ra trong hoàn cảnh đất nước ta hết sức bi đát.
Vua không phải bậc minh quân, đầu óc thủ cựu, xem người phương Tây là
trên hết, chỉ biết vui chơi hưởng lạc. Nguyễn Trường Tộ được du học thành
tài và tiếp thu được tư tưởng tiến bộ, đồng thời ông thấy được hoàn cảnh đất
nước hiện giờ, do đó ông luôn canh cánh nỗi ưu tư vì nước. Ông thâu gom
được nhiều kiến thức quý báu, cộng với tấm lòng yêu nước thương nòi thiết
tha, ông đã ôm một giấc mơ canh tân đất nước, làm cho nước Việt trở thành
nhiên nhà vua cũng như các nho sĩ, văn thân thời ấy chưa hiểu được luồng tư
tưởng của ông nên chưa coi trọng đúng mức những kiến nghị canh tân của
ông. Trí tuệ ông như một luồng ánh sáng soi vào thời đại nhưng lại bị lãng
quên. Tuy bị phản đối và những bản điều trần gửi lên không được chấp nhận
nhưng Nguyễn Trường Tộ vẫn luôn kiên trì, nhẫn nại. Trong vòng mười năm,
17
ông liên tục gửi lên vua Tự Đức và triều đình Huế rất nhiều bản điều trần.
Điều này cho chúng ta thấy được một con người luôn hết lòng vì nước vì dân.
Giáo sư Nguyễn Hữu Tá đã từng nói: “Ở tuổi ba mươi, Nguyễn Trường
Tộ đã có một vốn kiến thức rộng và sâu cả về phương diện chính trị, kinh tế,
văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Với tiềm lực chất xám rất quý như thế, nếu ông
được tin dùng, được tạo điều kiện để hoạt động, tình thế có thể sẽ rất khác. Bi
kịch của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm ra là một nghịch lí khó tin nhưng có thật.
Yêu nước nhưng không được giúp nước vượt qua đại họa ngoại xâm, thực sự
có tài năng xuất chúng nhưng vấp phải vật cản quá lớn - sự trì trệ bảo thủ, dị
ứng với chủ trương duy tân, tự cường của triều đình Tự Đức và sự nghi ngờ
dai dẳng của họ với những người tin theo Công giáo”
Với tư duy hơn người, nếu như những cải cách của Nguyễn Trường Tộ
được thực hiện thì rất có thể Việt Nam đã thoát khỏi nạn mất nước năm 1884.
Tư tưởng của ông đã vượt ra khỏi những giáo lí nho giáo để đối diện với thực
tế thời đại. Năng lực tư duy sắc bén đã giúp ông hoàn thành nên những bản
điều trần nhằm canh tân đất nước. Tư tưởng, hành động của ông xứng đáng là
người đại biểu tiến bộ cho một mô hình nho học sau này. Nguyễn Trường Tộ
còn là người có nhân cách cao đẹp, ngay từ những ngày đầu tuổi trẻ, dưới mái
trường “Cửa Khổng sân Trình”, Nguyễn Trường Tộ đã có khát vọng riêng
cho đời. Ông từ giã con đường tiến thân bằng khoa cử, chính lí tưởng khác
với một số người đương thời đã đưa Nguyễn Trường Tộ lên một tầm cao hơn.
Lục lợi từ (Kế hoạch làm cho dân giàu, tháng 6 năm 1864)
Khai hoang từ (Bàn về việc khai hoang, tháng 2 năm 1865)
Điều trần khả năng lấy lại ba tỉnh miền Đông [Nam Kỳ]
(1866)
Kế hoạch vận động ở Pháp để giữ ba tỉnh miền Tây [Nam
Kỳ] (1866)
Báo cáo về việc gặp viên Lãnh sự Tây Ban Nha (1866)
Kế ly gián giữa Anh và Pháp (1866)
Điều trần về hội nước ngoài (1866)
Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lại sáu tỉnh (tháng
19
2, 1871)
Kế hoạch thương nghị với Pháp và vận động sự giúp đỡ của
các nước khác (tháng 2, 1871)
Kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh (tháng 2, 1871)
Về việc gửi học sinh sang Singapore học sinh ngữ (tháng 2,
1871)
Về việc nhờ Giám mục Hòa giúp lấy lại 6 tỉnh (tháng 3,
1871)
Tu võ bị (bàn về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng, tháng
5, 1871)
Chu thứ tống lễ bộ viên ngoại hồi ngụ dưỡng bệnh
Chu thứ trung thu
Hải thuyền dạ vũ
Quá Hoành Sơn quan hữu cảm
+
Thạch Bi sơn ngẫu thành
1.3. Tác phẩm “Tế cấp bát điều”
1.3.1. Hoàn cảnh ra đời
Sau khi mất Nam Kỳ, nhà nước Việt Nam phong kiến dưới triều Tự Đức
20