Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất trên đất lâm nghiệp tại Xã Tản Lĩnh, Huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội - Pdf 40

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Hoàng Nguyễn Bình, người
Thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện bản
Luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Sinh KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II tạo điều kiện học tập, nghiên cứu
khoa học và hoàn thiện Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, cán bộ
khuyến nông và những hộ gia đình trong 7 thôn thuộc xã Tản Lĩnh đã giúp đỡ
tôi trong quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên, nhân viên trường THCS Nam
Sơn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện, động viên tôi trong
suốt quá trình học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và những bạn bè luôn động viên, sát
cánh bên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thành Luận
văn này.
Hà Nội, Ngày 15 tháng 07 năm 2013
Học viên

Bùi Thị Xuân Thu


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, nếu có gì
sai xót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, Ngày 15 tháng 07 năm 2013
Học viên

Bùi Thị Xuân Thu



2.1.3. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế ................................... 21
2.1.4. Sưu tầm tài liệu liên quan đến đề tài đã công bố ....................... 23
2.1.5. Xử lý số liệu ................................................................................ 23
2.2. Địa điểm nghiên cứu .................................................................... 25
2.3. Thời gian nghiên cứu ................................................................... 24
2.4. Điều kiện tự nhiên ........................................................................ 24
2.4.1. Vị trí địa lý.................................................................................. 24
2.4.2. Khí hậu, địa hình, địa chất, thủy văn và tài nguyên sinh vật ..... 25
2.4.2.1. Khí hậu .................................................................................... 25
2.4.2.2. Thuỷ văn .................................................................................. 25
2.4.2.3. Địa hình ................................................................................... 25
2.4.2.4. Địa chất ................................................................................... 26
2.4.2.5. Tài nguyên sinh vật ................................................................. 29
2.5. Điều kiện xã hội ............................................................................ 29
2.5.1. Dân số ........................................................................................ 29
2.5.2. Kinh tế ........................................................................................ 32
2.5.3. Thị trường................................................................................... 34
2.5.4. Xã hội ......................................................................................... 34
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....................35
3.1 Cơ sở sinh thái học của mô hình sản xuất tại xã Tản Lĩnh ...............35
3.2 Các mô hình sản xuất trên đất lâm nghiệp hiện có ở xã Tản
Lĩnh, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội. ..................................................35
3.2.1 Lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi (công thức 1). ..............................35
3.2.2 Lâm nghiệp kết hợp trồng xen lương thực (công thức 2) .............38
3.2.3 Cây công nghiệp quảng canh (công thức 3). ................................40


3.2.4 Nông nghiệp thuần túy (công thức 4)............................................43
3.2.5 Cây công nghiệp kết hợp chăn nuôi và thủy sản (công thức 5) ....49
3.2. Chăn nuôi kết hợp trồng cỏ (công thức ) ....................................52

Ci

Giá trị chi phí ở năm thứ i

CPV

Giá trị hiện tại của chi phí

FAO

Tổ chức Nông - Lương thực thế giới

IBSRAM

Sử dụng, quản lý đất dốc châu á

IRR

Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ

NĐ-CP

Nghị định - Chính phủ

r

Tỷ lệ chiết khấu

SALT


Bảng 3.10. Chi phí thu nhập và chiết khấu của công thức 5..........................
69
Bảng 3.11. Chi phí thu nhập và chiết khấu của công thức 6..........................
70


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Bản đồ xã Tản Lĩnh ................................................................ 24
Hình 2.2. Cơ cấu sử dụng đất của xã Tản Lĩnh năm 2 12..................... 28
Hình 2.3. Cơ cấu kinh tế nhóm hộ nghèo .............................................. 32
Hình 2.4. Cơ cấu kinh tế nhóm hộ trung bình........................................ 33
Hình 2.5. Cơ cấu kinh tế nhóm hộ khá .................................................. 33
Hình 3.6. Nuôi ong mật trong vườn keo .............................................. 37
Hình 3.7. Nuôi gà ri trong vườn keo ...................................................... 38
Hình 3.8 Trồng keo kết hợp sắn ............................................................ 40
Hình 3.9. Đồi chè ................................................................................... 43
Hình 3.1 . Lúa sắp thu hoạch................................................................. 49
Hình 3.11. Hình vẽ phối khí của mô hình cá, Lợn, Chè ........................ 52
Hình 3.12. Bò sữa .................................................................................. 57
Hình 3.13. Cỏ voi .................................................................................... 57


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quí giá của mỗi quốc gia bởi vì vai
trò to lớn của nó trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Trong hoạt
động sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể
thay thế được.
Người dân được giao đất lâm nghiệp theo nghị quyết 163/1999/NĐ-CP,

kinh tế mô hình sản xuất trên đất lâm nghiệp tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội” nhằm chọn mô hình sản xuất hiệu quả nhất về kinh tế,
sinh thái và môi trường phù hợp với tập quán của người dân.
2. Mục đích nghiên cứu
- Điều tra các mô hình sản xuất hiện có trên đất lâm nghiệp giao 5
năm tại xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
a. Tìm hiểu các mô hình sản xuất hiện có của người dân.
b. Đánh giá hiệu qủa của các mô hình sản xuất.
c. Đề xuất mô hình sản xuất phù hợp với xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội về kinh tế trước mắt và lâu dài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng là các mô hình sản xuất hiện có tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội.
Phạm vi: xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
+ Phỏng vấn.
+ Điều tra thực địa.
+ Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế.
+ Sưu tầm tài liệu liên quan đến đề tài đã công bố.

2


+ Xử lý số liệu.
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề xuất mô hình sản xuất phù hợp với các giống vật nuôi, cây trồng
phù hợp với tập quán canh tác và điều kiện kinh tế của người dân địa phương.
Từ đó có thể triển khai ra các vùng khác của miền đồi núi của Hà Nội,

tiền”. Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị của hai ông chính là năng

4


suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính
bằng giá trị là hiệu quả hoạt động quản trị chi phí.
- Theo các tác giả khác:
Có một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ
giữa tỷ lệ tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Các quan điểm này
mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không của toàn bộ phần
tham gia vào quy trình kinh tế.
Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số
giữa kết quả nhận được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho
quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn (1988) [8], theo ông: “Tính hiệu quả
được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí
kinh doanh”. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh
áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế.
Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm
chú ý và sử dụng phổ biến đó là: Hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng
(hoặc một quá trình) kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt
được mục tiêu xác định. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được
tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế đưa ra khái niệm về hiệu quả
kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau:
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các
nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt
được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra [8].
Để đánh giá hiệu quả kinh tế toàn diện và đầy đủ, ta căn cứ vào mối
quan hệ giữa lượng sản phẩm đầu ra tính bình quân trên mỗi đơn vị diện tích

+ Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên: Đặc điểm lý hóa của đất; nguồn
nước và chế độ nước; địa hình và thổ nhưỡng; vị trí địa lý.

6


+ Nhân tố thuộc điều kiện kinh tế xã hội: Cơ sở hạ tầng phục vụ sản
xuất nông lâm; thị trường tiêu thụ sản phẩm; các quan hệ về sở hữu và sử
dụng đất nông lâm nghiệp; trình độ và tập quán sản xuất của chủ sở hữu đất;
sự phát triển của các ngành kinh tế khác vì giữa các ngành kinh tế đó cso mối
quan hệ hai chiều vừa tạo kiện và thúc đẩy nhau phát triển; môi trường chính
sách khuyến khích nông lâm nghiệp phát triển; phân vùng quy hoạch và bố trí
sản xuất nông lâm nghiệp giúp cho việc khai thác sản xuất một cách triệt để,
hiệu quả tài nguyên đất; ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất nông
lâm nghiệp.
Tóm lại, quá trình quản lý sử dụng đất bền vững và có hiệu quả chịu sự
tác động bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Vấn đề quan trọng là các
bên liên quan có nhận thức đúng các yếu tố này, lợi dụng mặt tích cực, hạn
chế tác động tiêu cực làm chủ thời cơ trong quản lý kinh doanh sản xuất để
đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.1.2. Lược sử nghiên cứu mô hình sản xuất trên đất lâm nghiệp ở nước ngoài
Trên thế giới nhiều tác giả đã có những nghiên cứu và thử nghiệm về
việc chẩn đoán thiết kế và xây dựng các mô hình canh tác bền vững [8]:
Năm 1975, W. Laquidon và H.R Watson lần đầu tiên thử nghiệm mô
hình canh tác trên đất dốc (SALT - Slopping Agriculture and Technology).
Mô hình này được thực hiện trên vùng Baptist - Mindanao - Philipin và cho
kết quả rất tốt đẹp như: Chi phí đầu tư thấp, không những đem lại hiệu quả
kinh tế cao ma còn cải tạo đất và được nhiều người dân chấp nhận.
Năm 1982, Shaner xây dựng phương pháp luận nghiên cứu và phổ cập
hệ canh tác. Tiếp đó là phương pháp chuẩn đoán thiết kế của Raintree (1987)

đất đồi núi đã được thử nghiệm và lan rộng khắp nơi bởi tính ưu việt và sử
dụng đất bền vững.
Kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á [15]: Diện tích đồi núi ở
khu vực Đông Nam Á được phân bố ở tất cả các nước trong khu vực, trong đó
nhiều nhất là ở Việt Nam (chiếm 75% diện tích toàn quốc) và ở Lào (chiếm
73% tổng diện tích toàn quốc). Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng
cho lâm nghiệp (bảo tồn rừng tự nhiên, rừng sinh thái, trồng rừng khai thác)
cũng như được khai thác trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả. Một

8


phần nhỏ diện tích đất núi dạng thung lũng, đồi thấp được trồng cây lương
thực, hoa màu. Đại bộ phận hệ thống canh tác vùng đồi núi là canh tác nước
trời, diện tích lúa nước hai vụ. Trong quá trình canh tác việc bảo vệ độ phì và
cải thiện độ phì bằng cách dùng phân chuồng, phân xanh và đặc biệt sử dụng
cây họ đậu để cải thiện tính chất đất là yếu tố quan trọng quyết định đến năng
xuất cây trồng. “Sử dụng, quản lý đất dốc Châu Á” là tên gọi một mạng lưới
của Tổ chức quốc tế về nghiên cứu và quản lý đất dốc (IBSRAM)
(SajjapongseA.,1993) [10]. Tổ chức này đã thực hiện nghiên cứu, quản lý đất
dốc để phát triển nông nghiệp ở 7 nước Châu Á: Indonesia, Malaisia,
Philippine, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam. Thực trạng chung của các
nước này là canh tác trên đất dốc không hợp lý làm cho đất bị xói mòn rửa
trôi dẫn đến thoái hóa. Kết quả nghiên cứu bước đầu của IBSRAM cho thấy
canh tác trên đất dốc phải có mô hình cây trồng và kỹ thuật phù hợp để vừa
thu được năng suất cao vừa bảo vệ đất dốc, bảo vệ môi trường. Một yếu tố
quan trọng mà các nghiên cứu trong hệ thống này đề cập là các biện pháp kỹ
thuật muốn được nông dân áp dụng để đạt hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên với
các hộ nghèo thì cần phải xem xét mức đầu tư tiền mặt cho phù hợp.
Kinh nghiệm của Indonesia: Theo nhiều công trình nghiên cứu về hệ

phương diện: bền vững về kinh tế, sự chấp nhận của xã hội và bền vững về
môi trường. Trong lịch sử canh tác đất đã từng có 3 hệ thống được công nhận
có sức sản xuất ổn định tuy mức hiệu quả có khác nhau, đó là:
- Hệ luân phiên cây trồng bỏ hóa một vụ
- Hệ chăn thả gia súc luân phiên
- Hệ canh tác lúa nước.
Các hệ thống này tồn tại khá lâu và được xem như một mô hình sản
xuất trong điều kiện đòi hỏi mức đầu tư thấp, hưởng lợi thấp và điều kiện tự
nhiên (đất, nước,…) còn dồi dào. Nhưng ngày nay với những biến đổi lớn lao

10


trên toàn cầu, khu vực, mỗi quốc gia thậm chí từng địa phương thì các hệ
canh tác đó không thể tồn tại bền vững ở khắp nơi như xưa. Ở các vùng núi
cao, nếu chỉ xét đơn thuần mặt kinh tế trên đơn vị diện tích thì không có hệ
thống cây trồng nào sinh lợi hơn cây thuốc phiện. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế
cao không thôi rõ ràng không thể tồn tại được trước áp lực xã hội đòi hỏi loại
khử căn nguyên làm hủy hoại sức khỏe con người. Từ đó ta có thể thấy rằng
tính bền vững của sử dụng đất phải được xem xét đồng bộ các mặt kinh tế - xã
hội và môi trường. Ở cấp thực địa đồng ruộng thì “một hệ thống canh tác
được coi là bền vững” khi nó không ngừng thỏa mãn các nhu cầu của người
dân mà không làm thoái hóa nền dự trữ cơ bản của họ [15].
Hiệu quả kinh tế là một tiêu chí trong đánh giá tính bền vững quản lý
sử dụng đất. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh về mặt chất
lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong khi các nguồn lực sản
xuất có hạn, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của xã hội ngày càng gia tăng và
đa dạng thì nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan của sản xuất
xã hội [8].
Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và sự phát

doanh nghiệp với mục đích là tiết kiệm lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng
sản phẩm hàng hóa nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp
nhất. Do đó hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố
đầu ra của quá trình sản xuất.
Như vậy, việc đánh giá hiệu quả phải được xem xét một cách toàn diện,
cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ giữa hiệu quả chung của
nền kinh tế quốc dân với hiệu quả của từng bộ phận của các đơn vị, xí nghiệp;
hiệu quả đó bao gồm cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và có quan hệ mật
thiết với nhau như một thể thống nhất không tách rời nhau. Đứng trên góc độ
nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả của xã hội phải gắn liền với hiệu quả của

12


toàn xã hội, trên cả mặt kinh tế và xã hội. Gắn chặt hiệu quả của các đơn vị
kinh tế với hiệu quả toàn xã hội là đặc trưng riêng thể hiện tính ưu việt của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để đánh giá hiệu quả kinh tế trên đất lâm nghiệp cũng như đánh giá sử
dụng đất lâm nghiệp, một khung đánh giá quản lý đất lâm nghiệp đã được các
nhà khoa học viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đề xuất từ năm 1991
trong đó 4 thuộc tính của kinh tế bền vững được xem xét là:
- Tính an toàn
- Tính bảo vệ
- Tính lâu bền
- Tính chấp nhận
Rõ ràng quản lý bền vững đất đai phải bao gồm tổ hợp (vì các giới hạn
của dự trữ nguồn lực, tác động đến môi trường, tính kinh tế, đa dạng sinh học
và tính hợp pháp), bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động
nhằm phù hợp các nguyên lý kinh tế - xã hội với các quan điểm môi trường để
đồng thời duy trì và nâng cao được sản lượng (hiệu quả sản xuất), giảm được

nhiêu cho đất hoặc ít ra cũng duy trì, bảo toàn độ phì nhiêu.
+ Tăng độ che phủ (che phủ trên 35% quanh năm).
+ Bảo vệ nguồn nước: Duy trì và tăng nguồn sinh thủy, không gây ô
nhiễm nguồn nước.
+ Nâng cao, đa dạng hóa sinh học của hệ sinh thái, tỷ lệ cây dài ngày
cao nhất có thể được, khai thác tối đa các loài bản địa, bảo toàn và làm phong
phú quỹ gen.
* Những nguyên tắc đánh giá tính bền vững
Bền vững là một khái niệm rộng, bền vững ở nơi này có thể không bền
vững ở nơi khác, bền vững ở thời điểm này, có thể không bền vững ở thời
điểm khác. Đo lường trực tiếp tính bền vững là một khó khăn nhưng sự đánh

14


giá đó có thể thực hiện được dựa vào những biểu hiện và chiểu hướng của các
quá trình chi phối đến chức năng một hệ canh tác nhất định, ở một địa phương
cụ thể. Những nguyên tắc chung là:
- Tính bền vững được đánh giá cho một kiểu sử dụng đất nhất định,
một mô hình sản xuất nhất định, cho một đơn vị lập địa cụ thể, cho một hoạt
động điều hành, cho một thời hạn xác định.
- Dựa trên quy trình và dữ liệu khoa học, những chỉ số và tiêu chuẩn
phản ánh nguyên nhân và kết quả, các tiêu chí và chỉ tiêu phải phản ánh hết
được các mặt bền vững và không bền vững của một hệ thống sử dụng đất.
Nếu thỏa mãn hết các chỉ tiêu thì tính bền vững của một hệ thống đạt
mức tối đa. Song trong thực tế không có được một hệ thống lý tưởng như vậy,
mỗi một hệ thống chỉ đạt được một só mặt nào đó ở một mức độ nhất định tùy
theo từng mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có
ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau và nhận được sự đánh giá
khác nhau khi xem xét cho từng trường hợp.

Kinh nghiệm làm ruộng bậc thang ở miền núi đã có từ lâu, nhưng chỉ áp dụng
được ở nơi có tầng đất dày và độ dốc thấp cộng với đầu tư công lao động lớn.
Đối với những sườn núi có độ dốc cao, tầng đất mỏng thì tạo tiểu bậc thang
kết hợp che phủ đất và chọc lỗ gieo thẳng mà không làm đất là một kỹ thuật
rất có hiệu quả, nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ và tăng độ phì cho đất.
Tiểu bậc thang được kiến tạo bề mặt từ 3 - 40 cm và nên trồng các loại cây
thích hợp để bảo vệ bờ bậc thang, có thể kết hợp trồng cỏ để làm thức ăn gia
súc, trồng cây họ đậu qua đông để bảo vệ và cải tạo đất. Trồng xen cây họ đậu
vào nương sắn. Lạc hoặc đậu tương được trồng 1 - 2 hàng vào giữa 2 hàng
sắn, thường vào tháng 2. Thu hoạch lạc và đậu tương vào tháng 6, còn sắn
thu cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12. Trồng xen như vậy có rất nhiều tác
dụng: Sau trồng lạc và đậu tương phát triển nhanh, cùng với cây sắn non tạo
thành lớp thực vật che phủ dày đặc trên bề mặt đất, chống được xói mòn trong

16


đầu mùa mưa. Cây họ đậu cũng cạnh tranh và hạn chế được cỏ dại. Khi thu
hoạch lạc, đậu tương, toàn bộ thân lá, rễ phủ bề mặt nương sắn vừa có tác
dụng che phủ chống xói mòn, vừa là nguồn hữu cơ giàu đạm cải tạo đất.
Ngoài ra, nông dân lại có thêm một vụ thu hoạch vào giữa năm.
Để cải thiện hiệu quả canh tác trên đất lâm nghiệp, biện pháp đơn giản,
ít tốn kém được các cơ quan chuyên môn đưa ra hướng dẫn người dân áp
dụng các biện pháp luân canh, xen canh, gối vụ, đa dạng hóa các loại cây
trồng, trong đó chủ yếu sử dụng cây họ đậu vừa giúp cải tạo đất, vừa tạo ra
các sản phẩm phục vụ chăn nuôi, giúp tăng vụ, tăng thu nhập cho người dân.
Cùng với việc tăng cường sử dụng cây họ đậu vào canh tác, cũng có thể lựa
chọn các loại cây trồng có bộ rễ khỏe, có khả năng, có khả năng phá vỡ lớp
đất rắn trên bề mặt, giữ đất và tận dụng được nguồn dinh dưỡng trong các
tầng đất để phát triển. Hiện nay mô hình trồng luân canh các cây họ đậu với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status