MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỤC LỤC........................................................................................................................................................1
DANH SÁCH CÁC HÌNH
MỤC LỤC........................................................................................................................................................1
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Theo đánh giá của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khu
vực DNVVN chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Con số thống kê cho
hay, DNVVN chiếm trên 97% tổng số DN cả nước, đóng góp 50% GDP, 33% thu
ngân sách nhà nước (NSNN), tạo ra 62% việc làm cho người lao động, đóng góp
49% vào việc tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế…
Tuy nhiên, các DNVVN hầu hết có quy mô từ nhỏ đến siêu nhỏ (vốn chỉ ở
mức 4 - 7 tỷ đồng/DN). Đã vậy, số lượng DN bị ngừng hoạt động, phá sản diễn
biến theo xu hướng tăng theo thời gian. Chỉ tính riêng quý I-2015, cả nước có
tới trên 2.500 DN tuyến bố phá sản, giải thể. Mặc dù đây là con số giảm (khoảng
0,6%) so với cùng kỳ năm 2014, song số liệu này cũng cho thấy, các DNVVN của
Việt Nam với quy mô vốn không lớn nên khó có thể trụ vững khi có biến động
của môi trường kinh doanh.
Đáng nói là, nền kinh tế đang bước vào ngưỡng cửa hội nhập, hàng loạt
các Hiệp định thương mại song phương đang được Việt Nam tiến hành ký kết
với các quốc gia, song có tới trên 80% DN trong nước không biết đến và chưa có
hiện nay sự cạnh tranh của các công ty cùng lĩnh vực rất gay gắt và phức tạp đòi
hỏi các nhà kinh doanh trẻ phải có những kế hoạch và chiến lược kinh doanh rõ
ràng, có định hướng và mục tiêu phát triển công ty lâu dài nhằm tạo được uy
tín, thương hiệu cho riêng mình
Với những yêu cầu thiết thực trên chúng tôi thực hiện một tiểu luận
nghiên cứu về “ Năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết
quả hoạt động của doanh nghiệp” với mục đích phục vụ công tác nghiên cứu
khoa học và xây dựng những điều cần thiết cho các bạn chuẩn bị bước vào con
đường khởi nghiệp kinh doanh.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Xác định năng lực, môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
phục vụ công tác nghiên cứu và học tập. Đồng thời, dữ liệu sẽ được tổng hợp thành kết quả nghiên cứu
và học tập cho các khóa học trong Nhà trường
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Trang 2
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
- Vai trò của người chủ doanh nghiệp trong việc quản trị và điều hành hoạt
động của công ty cần những kỹ năng gì?
- Các kiến thức, tư duy mà người chủ doanh nghiệp cần phải có
- Xác định được động lực, tinh thần và kỳ vọng của người chủ doanh nghiệp
- Những cơ hội kỳ doanh từ các quan sát trên thị trường, những ưu thế trên
thị trên mà người chủ doanh nghiệp đang nắm giữ, những thách thức sẽ gặp
phải, cách huy động vốn và sử dụng vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu được thực hiện khảo sát thông qua bảng câu hỏi tại các doanh
nghiệp trên địa bàn các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long.
4.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Tác giả thực hiện trên phạm vi địa bàn các tỉnh đồng bằng Sông cửu long
như: Cần Thơ và các tỉnh Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang và Sóc Trăng…
1.5. Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Biết được những khó khăn, thức thức và cơ hội đối với cá nhân khi bước
vào con đường khởi nghiệp
Hiểu được tầm quan trọng của việc khởi nghiệp và điều hành doanh
nghiệp sao cho hoạt động đạt hiệu quả cao nhất.
1.6. BỐ CỤC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Tổng quan đề tài
Chương 2: Bối cảnh nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận – Giải pháp kiến nghị
Trang 4
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CHỦ DOANH NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG KINH
DOANH
2.1. KHÁI NIỆM VỀ KHỞI NGHIỆP
Khởi nghiệp có thể tạm hiểu là sự cam kết của một (hoặc nhiều người) về
việc thành lập công ty, phát triển một sản phẩm hay dịch vụ, mua lại một công
ty đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó. Ở đây, chúng ta sẽ chỉ quan
tâm đến lĩnh vực thành lập doanh nghiệp.
Khởi nghiệp nghĩa là tạo ra giá trị có lợi cho người hoặc nhóm khởi nghiệp,
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển thì đời sống của xã hội của người dân
ngày càng được nâng cao, điều đó cũng nhờ có sự việc thành lập ra các doanh
nghiệp tạo điều kiện cho người dân có được công việc ổn định từ đó góp phần
vào ổn định cuộc sống cho người dân.
Khi thành lập công ty Cổ phần, trách nhiệm hữu hạn,…. Hoặc bất kỳ một mô hình
kinh nào khác thì doanh nghiệp của chính bạn đã giúp cho xã hội có một vai trò
rất quan trọng, đó chính là:
Thứ nhất: Giúp cho người lao động có được một công việc phù hợp với
khả năng của mình trong doanh nghiệp của chính mình trong doanh nghiệp của
chính bạn trong doanh nghiệp của chính bạn trong doanh nghiệp của chính bạn:
nghĩa là tùy từng bộ phận trong doanh nghiệp của chính bạn sẽ tương ứng với
phần làm việc của từng công nhân trong doanh nghiệp cho nên chính vì vậy mỗi
một người lao động trong doanh nghiệp sẽ có những khả năng làm việc kinh
doanh của chính mình sao cho doanh nghiệp của chính bạn có được khả năng
kinh doanh thuận lơi nhẩ đối với doanh nghiệp
Thứ hai: Khi các doanh nghiệp được thành lập một cách hợp pháp thì vấn
Trang 6
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
đề cạnh tranh giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài tại
Việt Nam hoặc doanh nghiệp nước ngoài trong quá trình Việt Nam hội nhập
quốc tế: từ đó sẽ giúp nâng cao sự cạnh trạnh cao trong doanh nghiệp, giúp
doanh nghiệp Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của doanh nghiệp của
chính mình
Thứ ba: Khi đời sống của người dân ngày càng được ổn định thì các vấn đề
xã hội ngày càng được giữ được trật tự ổn định, vì nó đã giải quyết được cơ bản
các vấn đề của xã hội, từ đó sẽ giúp cho nền kinh tế của chúng ta ngày càng phát
triển trên thị trường quốc tế
bao gồm:
- Sức ép và yêu cầu của khách hàng
- Các đối thủ cạnh tranh hiện có và tiềm ẩn
- Mức độ phát triển của thị trường các yếu tố
- Các sản phẩm thay thế sản phẩm của doanh nghiệp đang sản xuất
- Các quan hệ liên kết
Trang 9
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN
3.1.1. Khái niệm và đặc điểm chung của doanh nghiệp
3.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào,
doanh nghiệp cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật
chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm
tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất.
Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công
nghệ thông tin các hình thức tổ chức doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng và
các loại hình sở hữu của doanh nghiệp cũng ngày càng phong phú hơn. Do đó,
nếu đứng trên quan điểm khác nhau chúng ta có thể định nghĩa về doanh
nghiệp cũng khác nhau:
Nếu đứng trên quan điểm tổ chức có thể hiểu: Doanh nghiệp là một tổng
thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm thực
hiện mục đích đề ra.
Nếu đứng trên quan điểm chức năng có thể hiểu: Doanh nghiệp là một
vốn đầu tư của mình, nó được phản ánh trên các chỉ tiêu sau: Tốc độ hoàn trả
vốn hiệu quả sử dụng vốn và lợi nhuận hàng năm thu được.
* Nhân sự:
Con người là yếu tố quyết định mọi sự thành bại của hoạt động sản xuất
kinh doanh. Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý tới việc sử dụng con người, phát
triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và nề nếp tổ chức của doanh
nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm tới các chỉ tiêu rất cơ bản như:
Số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình
quân, năng lực của cán bộ quản lý...
b. Các yếu tố tinh thần:
Trang 11
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
* Truyền thống, thói quen:
Các truyền thống, thói quen là những yếu tố mang tính rất riêng của doanh
nghiệp. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển vừa khách quan vừa chủ quan
trong quá trình vận động của doanh nghiệp.
* Nền văn hoá:
Như ta đã biết những doanh nghiệp có nền văn hoá phát triển sẽ có không
khí làm việc say mê luôn đề cao sự chủ động sáng tạo. Ngược lại, những doanh
nghiệp có nền văn hoá thấp kém sẽ phổ biến sự bàng quang, thờ ơ và bất lực
trước đội ngũ lao động của doanh nghiệp
Biện pháp quan trọng tạo nên nền văn hoá doanh nghiệp mạnh là phải
tăng cường các mối liên hệ giao tiếp trao đổi thông tin giữa các thành viên của
các tổ chức với nhau thông qua con đường chính thức và đặc biệt là con đường
không chính thức. Vì con đường không chính thức cho phép vượt qua được
những cách biệt về cấp bậc, về tuổi tác...cho phép hạn chế tác hại của căn bệnh
trì truệ quan liêu.
đang sống trong thời kỳ kỹ thuật công nghệ phát triển. Thực tế đã chứng minh
rằng doanh nghiệp nào nắm vững kỹ thuật - công nghệ và sớm ứng dụng nó vào
sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp đó tồn tại và phát triển.
Kỹ thuật - công nghệ với tư cách là một bộ phận của môi trường kinh
doanh bên ngoài tác động tác động đến doanh nghiệp trên hai mặt:
Thứ nhất, công nghệ bên ngoài tác động đến doanh nghiệp thông qua
công nghệ bên trong. Đó chính là tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật thể
hiện thông qua phát minh, ứng dụng chúng vào cuộc sống đã làm cho công nghệ
bên trong của doanh nghiệp nhanh chóng lạc hậu. Doanh nghiệp nào kinh
doanh trong các nghành, các lĩnh vực có sự đổi mới công nghệ cao thì sẽ dễ rơi
vào tình trạng lạc hậu về công nghệ.
Thứ hai, công nghệ làm xuất hiện các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, đó là
những đối thủ kinh doanh các sản phẩm có thể thay thế sản phẩm mà doanh
nghiệp đang kinh doanh. Công nghệ phát triển càng nhanh thì chu kỳ sống của
sản phẩm càng ngắn.
* Môi trường tự nhiên:
Bao gồm các yếu tố liên quan: Tài nguyên thiên nhiên, đất đai, khí hậu thời
tiết ... Thực tế cho thấy sự ô nhiễm không khí và môi trường xung quanh đã đến
Trang 13
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
mực báo động. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp và chính phủ là không
thể thờ ơ với công việc này. Hiện nay, người ta đanh tìm cách đối phó với tình
trạng ô nhiễm bằng những cách riêng của mình. Ngoài việc đóng thuế môi
trường ra đã có nhiều nhà kinh doanh chủ động tìm cách thay thế nguyên liệu,
vật liệu sử dụng năng lượng sạch hoặc nghiên cứu chế tạo, áp dụng các kỹ thuật
xử lý chất thải.
Các yếu tố môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến doanh nghiệp trên các mặt
là rất lớn, đó chính là những cách thức về văn hoá mà doanh nghiệp luôn phải
đối đầu.
b. Môi trường vi mô:
* Khách hàng:
Khách hàng là người đang và sẽ mua hàng của doanh nghiệp. Đối với bất
cứ một doanh nghiệp nào khách hàng luôn là yếu tố quan trọng nhất, quyết
định nhất tới sự sống còn của doanh nghiệp. Tính chất quyết định của khách
hàng thể hiện trên các mặt sau:
Khách hàng quyết định sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp được bán
theo giá nào. Trên thực tế, doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu
dùng chấp nhận.
Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào. Phương
thức bán và phương thức phục vụ khách hàng là do khách hàng lựa chọn, vì
trong nền kinh tế thị trường phát triển, người mua có quyền lựa chọn người bán
theo ý thích của mình và đồng thời quyết định phương thức phục vụ của người
bán. Điều này cho thấy tính chất quyết định của khách hnàg làm cho thị trường
chuyển từ thụ trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trở
thành thượng đế.
* Đối thủ cạnh tranh:
Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt đối thủ cạnh tranh. Vấn đề
quan trọng ở đây là không được coi thưòng bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũng
không coi tất cả đối thủ là thù địch. Cách sử lý khôn ngoan nhất không phải là
hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều
khiển và hoà giải, lại vừa phải hưóng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào
khách hàng. Phải luôn đặt câu hỏi khách hàng muốn gì? Khi ta thoả mãn được
ước muốn của khách hàng, có nghĩa là ta đã thành công một phần trong cạnh
Trang 15
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
Trang 16
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
việc đóng góp ngân sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ...tuy nhiên nó cũng có
thể huỷ hoại môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bằng sự ô nhiễm, gây ra
nạn thất nghiệp, các tệ nạn xã hội, tham ô tiêu cực...
3.1.3. Cạnh tranh trong kinh doanh
Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất,
nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những
vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa,
dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích
nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau
hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất
muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với
giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp
với các đối thủ trong cùng một ngành…
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh
tranh phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp,
một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường
tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp
ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được
thu nhập thực tế.
Thuật ngữ cạnh tranh kinh tế được nhà kinh tế học người Anh là Adam
Smith đưa
ra. Cạnh tranh trong kinh tế luôn liên quan đến quyền sở hữu, nói cách
b. Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế
của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi
hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng
thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ
Trang 18
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng
cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh
nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh
không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức
quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với
ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng
nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh
doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi
tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ
hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
c. Đặc điểm của cạnh tranh
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất
phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách
biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu
dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần
nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt,
khoa học kỹ thuật phát triển... nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp
rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn... để đáp ứng
với thị hiếu của người tiêu dùng.
Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống free-enterprise vì càng nhiều doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng
sẽ càng có chất lượng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách
hàng giá trị tối ưu đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ.
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong
muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu
của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh
tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp
pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh
bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.
Trang 20
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không
lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn
lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại,...) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân
hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái.
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng
thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích
hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội.
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đối với mục tiêu 1
Phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp được
khảo sát
phép quay sai số tối đa và điểm dừng khi các yếu tố có phương sai tổng hợp của
từng nhân tố bằng 1. Và thang đo được chấp nhân khi tổng phương sai trích lớn
hơn hoặc bằng 50.
Phương pháp này được dùng để xác định theo phạm vi, mức độ quan hệ
giữa các biến quan sát và các nhân tố cơ sở như thế nào, làm nền tảng cho một
tập hợp các phép đo để rút gọn hay giảm bớt các biến quan sát tải lên các nhân
tố cơ sở. Các nhân tố cơ sở là tổ hợp tuyến tính của các biến mô tả bằng hệ
phương trình sau:
Fi = Wi1 X1 + Wi2 X2 + Wi3 X3 +...+ Wik Xk
Trong đó, Fi là ước lượng trị số của nhân tố thứ i Wi là trọng số nhân tố
quan sát k là số biến quan sát
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 22
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ
4.1.2. Thống kê tần số và tỷ lệ phần trăm của từng biến sử dụng thang đo
Likert 5 mức độ
4.1.2.1. Sàng lọc môi trường tìm kiếm cơ hội kinh doanh
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả (Statistics)
Statistics
Q1.2
N
Valid