Tiểu luận Năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ - Pdf 40

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 đặt vấn đề
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp là yếu tố đóng vai trò quyết định. Do đó, hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp không còn là việc của riêng doanh
nghiệp, mà đòi hỏi sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự ủng hộ, nỗ lực của
các tổ chức ngành nghề và người lao động. Có nâng cao kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mới nâng cao được năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế và của sản phẩm, người lao động có việc làm, thu nhập, tình
hình phát triển kinh tế - xã hội đất nước ổn định.
Đánh giá một cách tổng thể, sau khi gia nhập WTO, năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam đã được cải thiện. Theo báo cáo của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, số lượng và chất lượng doanh nghiệp Việt Nam ngày
càng được tăng lên. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân 5 năm
2007-2011 là 19,25%/năm, cao hơn mức 18,1%/năm của thời kỳ 5 năm
2001-2005 trước khi nước ta gia nhập WTO. Kim ngạch xuất khẩu bình
quân theo đầu người năm 2010 đạt 914,4 USD/người so với 559,2
USD/người của năm 2006, tăng gấp gần 2 lần. Thị trường tiêu thụ hàng hóa
của Việt Nam ngày càng được mở rộng, giá nhiều mặt hàng xuất khẩu cũng
tăng hơn trước. Không chỉ tăng về lượng, mà cơ cấu các mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam cũng có những thay đổi theo hướng tích cực. Có thêm
nhiều mặt hàng xuất khẩu mới, như trái cây, hoa, rau... Quy mô thị trường
cũng được mở rộng, đến năm 2010 đã có 19 thị trường Việt Nam xuất khẩu
đạt từ 1 tỉ USD trở lên.
Tuy nhiên, để nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh, năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là một công việc không đơn giản. Thực tế cho thấy,
sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới chưa
được cải thiện đáng kể, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn


Vương Đình Huệ đã khẳng định: Chính phủ sẽ tạo môi trường kinh doanh
thông thoáng nhất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo


3

nguyên tắc thị trường và không phân biệt đối xử. Thời gian tới, Chính phủ
sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đồng thời khuyến khích các
thành phần kinh tế phát triển cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật, chỉ hỗ
trợ cho đối tượng doanh nghiệp xứng đáng.
Để hiểu rõ các vấn đề trên tôi chọn đề tài “Năng lực quản trị khởi
nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp
vừa và nhỏ” để trả lời câu hỏi làm thế nào để nâng cao kết quả hoạt động
kinh doanh và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN).
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và
kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài được hình thành nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
- Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và
kết quả hoạt động của doanh nghiệp tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
( ĐB S C L ) .
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản trị khởi nghiệp,
môi trường khởi nghiệp về kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản trị và kết quả hoạt động
của doanh nghiệp trong thời gian tới.
1.3 Tổng quan về DNVVN
1.3.1 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam

15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp
quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm tới 93,5%. Nếu phân
theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục
giải thể, chấm dứt hoạt động có 1524 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành
viên (chiếm 40,5%); 1124 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm
29,9%); 611 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,3%) và 500 công ty cổ phần
(chiếm 13,3%).


5

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động
trong 4 tháng đầu năm nay là 25135 doanh nghiệp, tăng 31,8% so với cùng
kỳ năm trước, bao gồm 9450 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động
có thời hạn và 15685 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh
nghiệp hoặc không đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt
động có thời hạn, có 3484 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm
36,9%); 3316 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 35,1%);
1638 công ty cổ phần (chiếm 17,3%) và 1012 doanh nghiệp tư nhân (chiếm
10,7%). Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số thuế
hoặc không đăng ký, có 6342 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên
(chiếm 40,4%); 4998 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm
31,9%); 2620 công ty cổ phần (chiếm 16,7%) và 1724 doanh nghiệp tư
nhân (chiếm 11%) và 01 công ty hợp danh.
1.3.2. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp tại ĐBSCL
Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Cần Thơ
Tính đến 30/4/2014, Cần Thơ có 11.168 doanh nghiệp được cấp giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 40,264 tỷ đồng,
trong số đó có 7.185 DN đang hoạt động, chiếm 64,3%.
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cà Mau

Lĩnh vực công nghiệp: 14,035% (210 doanh nghiệp), 15000 lao động
(chiếm 40,38%).
Lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa….: 86 doanh nghiệp (5,74%), 4350
lao động (11,7%).
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bến Tre
Hiện, Bến Tre có 2.519 doanh nghiệp đang hoạt động, vốn đăng ký
8.693 tỷ đồng, 62.595 lao động. Đa số doanh nghiệp trên địa bàn có quy
mô nhỏ, vốn đăng ký bình quân khoảng 2,5 tỷ đồng. Tỷ lệ DNNVV chiếm
trên 96%. Lao động chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề.
Sản phẩm chủ yếu trong nước, chưa xuất khẩu nhiều. Trình độ quản lý
doanh nghiệp còn hạn chế. Hoạt động riêng lẻ, chưa tạo sự liên kết, hợp
tác.
Đa số các doanh nghiệp tập trung sản xuất sản phẩm có thế mạnh của
tỉnh như chế biến dừa, thủy sản, sản xuất cây con giống, nuôi trồng thủy


7

sản… Lĩnh vực thương mại - dịch vụ: 40% , lĩnh vực công nghiệp - xây
dựng: 25%, lĩnh vực nông lâm thủy sản chiếm 35%.
1.3.3 Đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam
1.3.3.1 Về quy mô và số lượng
Mới đây, Tổng cục Thống kê đã công bố kết quả điều tra thực trạng
doanh nghiệp Việt Nam trong 3 năm 2002-2004.
Theo số liệu điều tra, số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp tính đến 1/1/2004 là 72.012, giải quyết việc làm cho
5,175 triệu lao động. Điểm đáng lo ngại nhất là số lượng doanh nghiệp
nhiều nhưng quy mô nhỏ, phân tán, công nghệ kỹ thuật thủ công lạc hậu.
Năm 2004, bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 72 lao động và 24 tỷ đồng tiền
vốn, trong khi đó từ năm 2000 thì số lao động đã là 84 và vốn là 26 tỷ

của các doanh nghiệp được nhận xét là đáng lo ngại. Số doanh nghiệp kinh
doanh thua lỗ tăng từ 19% năm 2000 lên hơn 23% năm 2003 (tổng số lỗ
tính đến năm 2003 là 10.825 tỷ đồng), gần bằng 1/4 số vốn hoạt động của
các doanh nghiệp này. Số doanh nghiệp kinh doanh có lãi, năm cao nhất
mới chiếm 73% với mức lãi thấp (tổng lãi năm 2003 là 89.054 tỷ đồng).
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mới khẳng định được ở một số mặt
hàng sản phẩm và dịch vụ thông thường.
Trong khi đó, quyền lợi của người lao động trong rất nhiều doanh
nghiệp đang bị xem nhẹ. Số liệu thống kê cũng cho thấy, doanh nghiệp
chưa đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động chiếm hơn
70% tổng số doanh nghiệp Việt Nam hiện có.
Mặt khác, khá nhiều doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp chỉ đăng ký với số vốn điều lệ mang tính hình thức chứ chưa phải
quy mô vốn thực của họ. Các doanh nghiệp nhà nước cũng trong tình trạng
tương tự như vậy, vì Nhà nước bảo lãnh cho các doanh nghiệp này cho nên
quy mô và vốn kinh doanh không phản ánh đúng thực chất doanh nghiệp.
Trong mọi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động chưa hề có một doanh nghiệp
nào của Việt Nam được xếp hạng theo danh mục quốc tế.
Hội nhập kinh tế thế giới bắt buộc chúng ta phải đối phó với những
tác động của nó. Chúng ta có thể hạn chế được những tác động xấu bằng
chính năng lực của mình, bao gồm cả sức mạnh kinh tế và sức mạnh về tổ
chức thị trường trong nước, chống đầu cơ. Cụ thể như việc đối phó với sự
tăng giá xăng dầu trong năm 2005 chẳng hạn.


9

Ví dụ như nếu không có khoảng 1 tỷ USD Chính phủ bỏ ra để giảm
nhẹ gánh nặng xăng dầu, công nghiệp chắc chắn sẽ khó hơn nhiều vì theo
khái niệm về “độ nở”, giá đầu vào tăng một thì giá đầu ra sẽ tăng gấp rưỡi.

10

triển trong năm 2006 và trong suốt lộ trình hội nhập của kinh tế ViệtNam.
Trong Hội nghị toàn quốc đổi mới doanh nghiệp năm 2004, Thủ
tướng Phan Văn Khải đã chỉ ra một loạt yếu kém của khối doanh nghiệp
nhà nước, trong đó hiệu quả làm ăn thấp đang là một thách thức lớn khi
Việt Nam hội nhập quốc tế. Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đạt 8.000 tỷ
đồng trong tổng số 87.000 tỷ nộp ngân sách nhà nước; nợ xấu 8,5% trong
khi bình quân cả nền kinh tế chỉ 6,1%; tổng số nợ của khối này phải thu,
phải trả lên tới khoảng 300.000 tỷ đồng.
Nhiều DNNN có trình độ công nghệ dưới mức trung bình của thế
giới và khu vực. Thiết bị, dây chuyền lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm,
trong đó có 38% đang chờ thanh lý. Chi phí sản xuất công nghiệp còn rất
cao, hạn chế mức tăng giá trị gia tăng. Cụ thể là giá trị sản xuất mấy năm
gần đây tăng 15 %/năm, nhưng giá trị gia tăng chỉ tăng 10%. Tốc độ đổi
mới công nghệ chậm, chỉ khoảng 10% trong thời gian qua. Các ngành công
nghiệp có trình độ công nghệ cao, hiện đại như: điện tử, tin học... mới chỉ
chiếm vài phần trăm giá trị sản xuất công nghiệp; dịch vụ có hàm lượng trí
tuệ cao không nhiều.
Chưa hình thành được các ngành công nghiệp phụ trợ, cung cấp
những linh kiện, sửa chữa, thiết kế, tiếp thị mà chúng ta có lợi thế cạnh
tranh, để giảm giá thành sản phẩm công nghiệp chế tạo, tăng khả năng cạnh
tranh, thu hút lao động.
Trong vòng 11 năm qua từ 1992-2003, cả nền kinh tế tạo được thêm
9 triệu chỗ làm việc mới, thì khu vực DNNN chỉ tăng thêm có gần 200.000
chỗ, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được nửa triệu, còn
lại hơn 8 triệu là của khu vực kinh tế dân doanh. Hiện nay, chỉ có khoảng 2
triệu lao động làm việc tại các DNNN.
Năng suất lao động của DNNN còn thấp. Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê, năng suất lao động thời kỳ 1996-2001 của DNNN tăng bình

cũng là vấn đề thiết yếu đối với các doanh nghiệp đó là quy mô vốn.
Nhưng những doanh nghiệp có lượng vốn lớn hiện nay là doanh nghiệp nhà
nước thì lại làm ăn không có hiệu quả hoặc có hiệu quả thấp. Trong khi lại
được sự bảo trợ rất lớn về mọi mặt của nhà nước do đó khu vực doanh
nghiệp nhà nước không được đánh giá là khu vực có năng lực cạnh tranh
cao. Trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân là khu vực luôn luôn được
các nước trên thế giới quan tâm và tạo điều kiện phát triển thì ngược lại ở


12

Việt Nam khu vực kinh tế này lại ít được quan tâm, ít được đánh giá cao.
Và lượng vốn đầu tư của khu vực kinh tế này luôn thấp hơn so với khu vực
kinh tế nhà nước. Chính vì thế năng lực cạnh tranh của khu vực này không
được đánh giá thật sự cao.
1.3.3.2 Về giá cả và yếu tố đầu vào
Giá cả cũng như cơ sở của nó là giá thành của nhiều hàng hoá và
dịch vụ của Việt Nam cao hơn giá cả của hàng hoá và dịch vụ cùng loại của
nhiều nước trong khu vực. Năm 2005, giá đường trắng trên thế giới là
4.700 đ/kg, trong khi ViệtNam cao hơn từ 1,5 đến 2 lần. Giá xi măng nhập
khẩu (giá CIF) về đến Việt Nam trong khoảng 35 đến 40 USD/tấn, trong
khi đó giá thành xi măng của Việt Nam từ 42 đến 65 USD/tấn. Giá thép
xây dựng thế giới đầu năm 2005 từ 380 đến 420 USD /tấn, thì tại Việt Nam
giá thép có lúc lên đến gần 500 USD/tấn. Giá xe máy DREAM ở Thái Lan
khoảng 1000 USD/chiếc, trong khi đó giá xe máy cùng loại tại
Việt Nam chưa có thuế là 1.280 USD/chiếc. Giá gạo của Việt Nam trong
siêu thị là 10.000đ/kg, còn giá gạo cùng loại của Thái Lan nếu bỏ thuế chỉ
còn 7.500đ/kg.
Trong tương lai, năng lực cạnh tranh về giá của các hàng hoá và dịch
vụ của các doanh nghiệp phụ thuộc vào sự biến động của giá thành hàng

giá trị tăng thêm). Mặc dù sau đó được hoàn thuế nhưng thời gian hoàn
thuế VAT chậm, do đó dẫn tới việc doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về
vốn hoạt động kinh doanh. Để giải quyết tình trạng vốn hoạt động trong
kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải vay ngân hàng và đương nhiên phải
chịu một khoản lãi suất mà lẽ ra nếu việc hoàn thuế nhanh và kịp thời hơn
thì doanh nghiệp đã không phải chịu khoản lãi suất này. Đó cũng là một
yếu tố đẩy giá thành lên cao khiến khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp giảm xuống.
Chi phí về lao động: Lao động Việt Nam thừa về số lượng nhưng
thiếu và yếu về chất lượng, năng suất lao động thấp. So với các nước trong
khu vực, năng suất lao động ngành dệt của Việt Nam chỉ bằng 90-95%
năng suất lao động ngành dệt của Trung Quốc, bằng 85% năng suất lao
động ngành dệt của Thái Lan. Ưu thế về chi phí lao động rẻ của
Việt Namđang mất dần. Giá nhân công của 2 ngành có năng lực cạnh tranh
tốt nhất (dệt may và da giày) hiện đang bằng và cao hơn so với một số
nước trong khu vực. Để đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng, trình độ, ý thức
nhiệt tình, tinh thần hợp tác, cần có chi phí đầu tư lớn, và như thế, giá thành


14

hàng hoá và dịch vụ trong nước sẽ tiếp tục tăng lên.
Chi phí về tài sản cố định của nhiều doanh nghiệp đang và sẽ chiếm
tỷ lệ lớn trong giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Khu vực đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam, giá trị tài sản cố định chiếm 76% tổng vốn góp, nhưng
trong đó có tới 38% tài sản chờ thanh lý. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
của Công ty dệt Phước Long là 62%, của Nhà máy đường Quảng Bình là
27%, của Nhà máy đường Cam Ranh là 15%. Tài sản cố định của doanh
nghiệp nhà nước chỉ còn 1/2 giá trị, 1/3 trong số đó tuổi sử dụng đã trên 10
năm. Bên cạnh đó là những khoản nợ ngân hàng khổng lồ của các doanh

2
Chi phí thuê
văn phòng đại 1850 1800 1500
2285
1420
920
2000
diện
Cước
điện
thoại (3 phút đi 8,52 8,52 4,3
2,23
3,11
6,21
2,59
Nhật Bản)
Điện
kinh
0,07 0,07 0,035 0,05
0,03
0,06
0,0177
doanh/ Kwh
Cước vận tải 1
container 40/ft
1825 1375 880
670
1466
895
1252

15

%)
Nguồn: CIEM
Các chi phí đầu vào khác trong xu thế đều tăng, tính từ năm 1996
đến nay: giá xăng dầu tăng gần 100%, giá nước tăng 130%, giá điện tăng
37,5%, cước thông tin liên lạc quốc tế sau nhiều lần cắt giảm vẫn còn cao
hơn các nước trong khu vực.
Những chi phí trên còn đẩy giá thành của nguyên vật liệu trong nước
tăng, làm cho giá thành của những hàng hoá, dịch vụ sử dụng tỷ lệ lớn các
đầu vào nội địa càng tăng. Giá cả các yếu tố đầu vào càng cao thì càng ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh về mặt giá cả của doanh nghiệp Việt Nam.
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, ngoài một số khó khăn do tăng chi
phí đầu vào giống như các doanh nghiệp nhà nước, nhìn chung khu vực
kinh tế tư nhân còn nhỏ bé, phân tán, trình độ công nghệ ứng dụng trong
sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý tay nghề của người lao động còn
hạn chế. Họ còn có khó khăn hơn về vốn hoạt động, mặt bằng sản xuất kinh
doanh, môi trường pháp lý, môi trường tâm lý, xã hội…
Như vậy, rõ ràng là năng lực cạnh tranh về giá cả của các hàng hóa
(dịch vụ) và việc khắc phục hạn chế về năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam ngay trên thị trường nội địa cả ngắn hạn lẫn dài hạn còn
là điều nan giải. Những yếu kém về năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp còn có nguyên nhân xuất phát từ môi trường hoạt động của chúng.
1.3.3.3 Về chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Có một nhận xét chung là chi phí kinh doanh ở nước ta còn quá cao
so với các nước khác trong khu vực. Các chi phí hoạt động kinh doanh như:
chi phí nhân công, chi phí vận chuyển, chi phí nhà xưởng, đất đai, các loại
thuế... của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực vẫn còn ở mức cao bất hợp lý khiến
cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh và phát huy lợi thế so sánh trên trường quốc tế và không thể chủ động

7
Thời gian thực thi
một hợp đồng
(Tunixia)
(ngày)
Tiếp cận thông tin
tín dụng từ các tổ
chức nhà nước (số
lượng
người
vay/nghìn dân)
Tiếp cận thông tin
tín dụng từ các cơ
quan, cá nhân trong
nước (số lượng
Thời gian đóng cửa
(phá sản) một
doanh
nghiệp
(năm)
Nguồn: VCCI.

Nước
mức
nhất


cao Việt Nam

168

945

(Trung Quốc)

(Xingapo)

(Nauy)

0,4

0,7

6

(Ai-len)

(Xingapo)

(Inđônêxia)

Đào

1.3.3.4 Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp
nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay
Chủ các DNNVV thường là kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra
thành lập và vận hành doanh nghiệp, họ vừa là người quản lý, vừa tham gia
trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý DN không
cao. Ngoài ra, hầu hết những người chủ DNNVV đều không tham gia vào



có chỗ trống trong DN. Các DNNVV Việt Nam cũng không đưa ra một


18

quy trình , hay một sự đánh giá nào về công tác này mà chủ yếu chỉ do một
cá nhân thực hiện sau đó được trưởng phòng của phòng ban đó ký duyệt và
gửi xuống phòng nhân sự.
Về tuyển dụng nhân sự
Đối với nguồn tuyển dụng nội bộ: khi công tác tuyển dụng được tiến
hành thì phòng tổ chức – hành chính sẽ thông báo đến các đơn vị trong hệ
thống và các phòng ban nghiệp vụ khác, từng bộ phận sẽ xem xét thấy cá
nhân nào có khả năng đảm nhiệm công việc thì thông báo lại cho phòng tổ
chức. Tuy nhiên, do nguồn nhân lực tại các DNNVV thường có quy mô
nhỏ nên ưu thế dành cho tuyển dụng nội bộ là không nhiều.
Đối với tuyển dụng từ bên ngoài: việc tuyển dụng thông qua các tổ
chức giới thiệu việc làm còn rất khiêm tốn. Nguồn từ cơ sở đào tạo và
thông tin đại chúng là một phần đảm bảo cho các doanh nghiệp tuyển được
đúng người đúng việc. Hình thức này chủ yếu áp dụng tại các DN có quy
mô từ 50 lao động trở lên, trong đó thông báo tuyển dụng qua Internet, báo
chí. Theo thống kê thì có 25% DN tuyển dụng qua các phương tiện thông
tin đại chúng này, con số này là rất thấp so với các nước phát triển cũng
như một số nước trong khu vực.
Mỗi DN đều lựa chọn một cách thức tuyển dụng riêng nhưng hầu hết
các DNNVV đều thực hiện các bước của quá trình tuyển chọn như sau: tiếp
nhận hồ sơ và nghiên cứu; lựa chọn những ứng viên đạt yêu cầu để phỏng
vấn.
Khi tiến hành phỏng vấn, các DN lập hội đồng phỏng vấn gồm giám
đốc, trưởng phòng nhân sự và các nhân viên nhân sự tham gia phỏng vấn.
Ứng viên vượt qua vòng phỏng vấn sẽ được nhận vào thừ việc trong vòng

đáp ứng được tình hình phát triển một cách hết sức nhanh chóng của nền
kinh tế cũng như yêu cầu về vấn đề sử dụng nguồn nhân lực hiện nay.
Quản trị nguồn nhân lực tại các DN này không được quan tâm phát triển
nên không tận dụng được một các hiệu quả nguồn lao động trong DN.

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Khái niệm về DNVVN
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch


20

ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Theo nghị định 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp
có cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật
hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng và có số lao
động thường xuyên trung bình hàng năm không quá 300 lao động.
Trong cuốn” cách thức tổ chức và vận hành cacc1 doanh nghiệp nhỏ”
Clifford M.Baumback đưa ra định nghĩa” Doanh nghiệp nhỏ là một doanh
nghiệp được quản lý một cách chủ động bỏi các chủ nhân của nó, mang đặc
trưng cá nhân cao, phạm vi hoạt động của nó chủ yếu tại địa phương, và
chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn địa phương để trang trải tài chính cho sự
tăng trưởng của nó”.
Đây là những đặc trưng cơ bản làm nảy sinh phần lớn những khó khăn và
những nhu cầu đặc biệt của DNVVN
2.2 Tiêu chí phân loại DNVVN
Ở mỗi nước, do mục tiêu phát triển và điều kiện khác nhau nên tiêu chí
phân loại cũng khác. Thông thường có hai nhóm tiêu chí phổ biến dùng để
phân loại DNVVN; tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.

người khỏi nghiệp nhất thiết phải có cơ sở lý thuyết dẫn đường để khởi
nghiệp thành công.Có nhiều lý thuyết liên quan đến khởi dựng và tổ chức
doanh nghiệp, lý thuyết về Marketing, lý thuyết về tổ chức doanh nghiệp,
lý thuyết về quản trị tài chính, nhân sự… Chi tiết hơn có tài liệu hướng dẫn
khởi sự doanh nghiệp của VCCI và tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ,
chương trình đào tạo khởi dựng doanh nghiệp của tổ chức
BUSINESSEDGE về lý thuyết này được cho là phù hợp và đầy đủ với thực
tiển nên được chọn làm cơ sở lý thuyết cho đề tài. Bên cạnh đó, ứng với
mỗi bước đi của lý thuyết trên,có sự kết hợp với lý thuyết cơ bản về
Marketing, quản trị dự án, quản trị tài chính, quản trị nhân lực ….
2.5 Chọn loại hình doanh nghiệp
Mỗi nhà lập nghiệp đều phải quyết định 2 vấn đề khi thành lập doanh
nghiệp đó là :
Thứ nhất : tự mình đứng ra lập doanh nghiệp hay làm với một đối tác.
Điều này phải xem xét những cái được và các mấtkhi đứng ra lập nghiệp
một mình hay với một đối tác, những cái được ở đây như ;
Có thể dễ dàng thực hiện hơn và an toàn hơn trong kinh doanh và
trách nhiệm gách vác. Việc quản trị thể hiện trên nguyên tác tập thể, làm
việc nhóm sẽ đem sự sáng tạo cao trong trong sản xuất và kinh doanh.
Bạn không phải thường trực ở công ty trong toàn bộ thời gian. Sẽ có
thêm người để trông coi công việc, chia sẽ việc công sở, chia sẽ những kỹ
năng bổ sung .
Có một đồng nghiệp với động lực làm việc và tinh thần cao, không
đơn thuần như người hưởng công ăn lương. Có người góp vốn và chia sẽ
rủi ro, tận dụng được mối quan hệ của người đó nhằm tạo điều kiện thuận
lợi trong kinh doanh.
Ngoài những thuận lợi khi lập nghiệp với đối tác thì cũng có nhiều
bất lợi như:
Không được độc lập tự chủ toàn bộ trong các quyết định.
Có nguy cơ xung đột về lợi ích khi góp vốn, rút vốn, chia sẽ lợi

báo cáo phần lợi nhuận hoặc lỗ của doanh nghiệp tương ứng với phần vốn
góp của họ vào Công ty trong bảng kê khai thuế thu nhập cá nhân của
mình.
2.6 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
Cơ cấu loại hình tổ chức doanh nghiệp là hình thức tồn tại của một tổ chức,
biểu thị trật tự sắp xếp theo một trật tự nào đó giữa các bộ phận của tổ chức
cùng các mối quan hệ giữa chúng. Trong đó có cơ cấu quản trị là để phân
công lao động trong lĩnh vực quản trị, có tác động đến quá trình hoạt động
của hệ thống quản trị. Cơ cấu tổ chức cho doanh nghiệp. Đó là việc thiết
lập chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cá nhân, từng bộ phận, cùng
với nó là những chi tiết và cụ thể hóa công việc của các bộ phận.
Các doanh nghiệp mới thành lập rất khó khăn trong công việc sắp xếp cơ
cấu tổ chức, nhất là doanh nghiệp sản xuất những loại hàng hóa phức tạp.
Việc xây dựng hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải đãm bảo những yêu cầu sau:
- Tính tối ưu; phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp, giữa các khâu(Giữa


23

các cấp là cơ cấu theo chiều dọc, giữa các khâu là cơ cấu theo chiều
ngang). Làm sao cho tính năng động cao, luôn đi sát phục vụ quản lý
sản xuất kinh doanh.
- Tính linh hoạt: Cơ cấu tổ chức sao cho có tính linh hoạt cao và có thể
thích nghi với môi trường bên ngoài.
Mô hỉnh tổ chức quản lý theo dự án rát được chú trọng hiện nay và
rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, thiếu nguồn lực.
- Tính tin cậy: Cô cấu tổ chức phải đãm bảo tính chính xác của tất cả
thông tin sử dụng trong doanh nghiệp, nhờ đó đảm bảo sự phối hợp
với các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận trong doanh
nghiệp.


CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


25

3.1. Phương pháp phân tích số liệu
- Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả tần số,
nhằm tính tần số và xác định tỷ lệ phần trăm
- Kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha là phương pháp tiếp theo
được sử dụng để hiệu chỉnh bộ biến đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp được đề xuất ban đầu.
- Phân tích nhân tố khám phá EFA ( Exploratory Factor Analysis )
nhằm gom nhóm các biến quan sát.
3.2. Phương pháp Thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong đề tài nghiên cứu
này là tính tần số và xác định tỷ lệ phần trăm.
3.2.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA
Trước tiên, chúng ta phải tiến hành kiểm tra độ tin cậy của thang đo
bằng Cronbach’s Alpha để có thể đảm bảo rằng bộ biến được đề xuất ban
đầu là phù hợp với đề tài nghiên cứu. Kiểm tra độ tin cậy thang đo bằng hệ
số tin cậy Cronbach’s Alpha, kiểm định tổng các biến ( quan sát ) có hệ số
tương quan thấp so với biến tổng sẽ giúp loại bỏ được những biến rác trước
khi tiến hành phân tích nhân tố. Một thang đo có độ tin cậy tốt khi hệ số
Cronbach’s Alpha thông thường ≥ 0,6 (tốt nhất là ≥ 0,7) mối quan hệ các
biến quan sát (item) với biến tổng đạt độ tin cậy.
Nếu hệ số Cronbach’s Alpha < 6 thì bỏ các item để có hệ số
Cronbach’s Alpha ≥ 0,6 và nếu Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là có thể
chấp nhận được trong trường hợp khái niêm thang đo lường là mới đối với
người trả lời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status