TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
Tiểu luận học phần
Phân tích định lƣợng trong kinh doanh với SPSS & AMOS
NĂNG LỰC QUẢN TRỊ KHỞI NGHIỆP, MÔI TRƢỜNG
KHỞI NGHIỆP VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Giáo viên hƣớng dẫn
VÕ MINH SANG
Học viên thực hiện
ĐƢỜNG QUANG NGHĨA
Lớp : Cao học QTKD-3B
Cần Thơ, tháng 11/ 2016
TÓM TẮT TIỂU LUẬN
Tiểu luận gồm 5 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan – Nội dung chương 1 gồm cơ sở hình thành đề
tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng - phạm vi
nghiên cứu và ý nghĩa đề tài.
Chƣơng 2: Tổng quan các doanh nghiệp tại Đồng Bằng Sông Cửu
Long –Nội dung chương giới thiệu về sơ lược c á c d o an h ng hi ệp tại
Đồ n g B ằng S ô ng C ửu Lo n g .
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu – Nội dung chương 4 trình bày rõ
hơn về phương pháp thu thập số liệu và phương pháp phân tích số liệu.
1.5 Bố cục nội dung nghiên cứu............................................................................ 6
CHƢƠNG II : TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 7 CƠ
SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ................................................. 7
2.1. Tổng quan về DNVVN .................................................................................. 7
2.1.1 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam .............................. 7
2.1.2. Hình hình hoạt động của nghiệp tại ĐBSCL ........................................ 8
2.3. Đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam ................................... 9
2.1.3. Về quy mô và số lượng ......................................................................... 9
2.1.4. Về giá cả và yếu tố đầu vào ................................................................ 14
2.1.5. Về chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh ............................... 17
2.1.6. Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa
của Việt Nam hiện nay .................................................................................. 18
2.2. Cơ sở lý luận ................................................................................................ 21
2.2.1. Khái niệm về DNVVN........................................................................ 21
ii
2.2.2. Tiêu Chí phân loại DNVVN ............................................................... 23
2.2.3. Đặc trưng của khởi nghiệp .................................................................. 24
2.2.4. Cơ sở lý luận về khởi nghiệp kinh doanh ........................................... 24
2.2.5. Chọn loại hình doanh nghiệp .............................................................. 25
2.2.6. Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp ........................................................... 26
2.2.7. Đăng ký kinh doanh ......................................................................... 27
CHƢƠNG III : PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................ 29
3.1. Phương pháp phân tích số liệu ..................................................................... 29
3.2. Phương pháp Thống kê mô tả ...................................................................... 29
3.2.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA ....................................................... 29
3.2.2. Phân tích nhân tố khẳng định CFA và mô hình SEM ........................ 30
CHƢƠNG IV : ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ, MÔI TRƢỜNG
Bookmark
not
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA ............................ Error! Bookmark not defined.
PHÂN TÍCH CFA ............................................... Error! Bookmark not defined.
MÔ HÌNH SEM .................................................. Error! Bookmark not defined.
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.4.1 Chi phí đầu vào của Việt Nam và một số nước châu Á
(USD/tháng) ........................................................................................................ 16
Bảng 2.1.5.1 So sánh chi phí thực hiện việc tuân thủ pháp luật của các nước và
Việt Nam ............................................................................................................. 17
Bảng 4.3.1.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “QCCQ” lần 1 ................... 41
Bảng 4.3.1.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “QCCQ” lần 5 ................... 44
Bảng 4.3.1.3 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “NCTĐ” lần 3 ................... 45
Bảng 4.3.1.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “CSHT” lần 1.................... 46
Bảng 4.3.1.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha “KQKD” lần 2 .................. 48
Bảng 4.3.2.1 Tổng hợp các nhân tố..................................................................... 48
Bảng 4.3.2.2 Kết quả phân tích nhân tố với biến độc lập ................................... 49
Bảng 4.3.2.3 Kết quả phân tích biến nhân tố phụ thuộc ..................................... 53
Bảng 4.3.3.1 Các hệ số chuẩn hóa trong CFA ........ Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.3.3.2 Đánh giá giá trị hội tụ đã chuẩn hóa trong CFAError!
not defined.
Bookmark
CHƢƠNG I : TỔNG QUAN
1.1. Cơ sở hình thành đề tài
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có những diễn biến phức tạp, sản xuất kinh
doanh trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng kinh tế
nước ta năm 2015 tiếp tục có những chuyển biến tích cực và phục hồi rõ nét ở
nhiều lĩnh vực, đạt kết quả tăng trưởng khá cao so với mục tiêu đề ra và so với
mức tăng của những năm trước trong giai đoạn 2011-2015. Những điểm sáng
trong bức tranh kinh tế nước ta năm 2015 được thể hiện qua các chỉ số vĩ mô
tương đối ổn định: Lạm phát được kiểm soát tốt và luôn giữ ở mức thấp; chính
sách tiền tệ, tài khóa được điều hành linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với diễn biến
của thị trường; hệ thống tài chính, ngân hàng đạt được một số thành công ban đầu
nhờ thực hiện nhiều biện pháp quan trọng để nâng cao tính ổn định và hiệu quả
trong hoạt động; dự trữ ngoại tệ đạt mức cao; tín dụng tăng trưởng khá; môi
trường thể chế đang dần được cải thiện; xu hướng kinh doanh của khu vực doanh
nghiệp có nhiều tín hiệu khả quan, phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư được
củng cố và tăng lên; tái cấu trúc kinh tế bước đầu có chuyển biến; xuất khẩu duy
trì mức tăng khá; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao; tổng cầu nội địa mạnh
hơn. Công tác an sinh xã hội được tăng cường, việc làm của người lao động tăng
lên, nhờ đó thu nhập và đời sống dân cư được cải thiện hơn.Sản xuất, kinh doanh
của nhiều ngành, lĩnh vực năm 2015 tăng khá dẫn đến tăng trưởng ở mức cao
góp phần quan trọng vào việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5
năm 2011-2015. Tuy nhiên do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy
thoái toàn cầu từ năm 2008 nên bên cạnh một số chỉ tiêu đạt còn một số chỉ tiêu
chưa đạt mục tiêu đề ra: Tăng trưởng kinh tế không đạt; tỷ trọng vốn đầu
tư/GDP không đạt; nhập siêu đạt; năng suất lao động không đạt; CPI đạt; tỷ lệ
thất nghiệp đạt; tốc độ tăng dân số không đạt; tỷ lệ che phủ rừng không đạt...
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế nước ta vẫn còn
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi bước qua cánh cửa hội nhập
nước ngoài, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước phát triển nhanh,
hướng tới tham gia vào chuỗi cung ứng mang tính toàn cầu đối với một số sản
phẩm công nghệ cao.
Nhìn chung, triển vọng của kinh tế nước ta trong những năm tới có nhiều
yếu tố tích cực nhưng các ngành, các cấp và các địa phương phải nhận thức
đúng và đủ những khó khăn, thách thức trên chặng đường phía trước để kịp thời
có giải pháp khắc phục vượt qua, đồng thời chủ động tận dụng cơ hội nhằm
thực hiện tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016. Theo báo cáo
của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thực hiện tại 140 nước cho thấy, Việt
Nam đứng thứ 56 trên bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu giai đoạn
2015 – 2016, tăng 12 bậc so với vị trí 68 trong giai đoạn 2014-2015.Trong đó,
chỉ số cạnh tranh của cơ sở hạ tầng giao thông Việt Nam tăng tới 9 bậc, từ vị
trí thứ 76 trong giai đoạn 2014 – 2015 lên vị trí 67. Cụ thể, chỉ số cạnh tranh
về chất lượng đường bộ giai đoạn 2015 - 2016 đứng thứ 93, tăng 11 bậc (giai
đoạn 2014 - 2015 đứng thứ 104). Chất lượng đường sắt giai đoạn 2015 - 2016
đứng thứ 48, tăng 4 bậc (giai đoạn 2014-2015 đứng thứ 52).
2
Về chất lượng cảng, Việt Nam đứng thứ 76, tăng 12 bậc (giai đoạn 20142015 đứng thứ 88), trong khi chất lượng hàng không đứng thứ 75, tăng 12 bậc
(giai đoạn 2014-2015 đứng thứ 87).
So với các nước lớn châu Á như Trung Quốc, Singapore và Indonesia chỉ
số cạnh tranh về cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam đã có mức tăng đột phá.
Trong khi đó, Trung Quốc và Indonesia vẫn giữ nguyên vị trí, Malaysia tăng 1
bậc, còn Singapore bị hạ 1 bậc.
Báo cáo về chỉ số cạnh tranh toàn cầu của WEF được thực hiện dựa trên
nhiều yếu tố khác nhau, tập trung vào 7 trụ cột bao gồm: Thể chế, cơ sở hạ tầng,
môi trường kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cơ bản, giáo dục bậc cao và đào tạo,
hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, mức độ phát triển
của thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng công nghệ, quy mô thị trường, mức độ
nghệ cao, Chính phủ có thể đưa ra chính sách ưu đãi về thuế liên tiếp trong 3
năm đầu thành lập.
Trên thực tế, ngay tại cuộc gặp gỡ với 100 doanh nhân trẻ khởi nghiệp
xuất sắc năm 2016 diễn ra mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ
đã khẳng định: Chính phủ sẽ tạo môi trường kinh doanh thông thoáng nhất, góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo nguyên tắc thị trường và không
phân biệt đối xử. Thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành
chính, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển cạnh tranh bình
đẳng theo pháp luật, chỉ hỗ trợ cho đối tượng doanh nghiệp xứng đáng.
Để hiểu rõ các vấn đề trên tôi chọn đề tài “Năng lực quản trị khởi
nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa
và nhỏ” để trả lời câu hỏi làm thế nào để nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh
và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết
quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài được hình thành nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
- Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp và kết
quả hoạt động của doanh nghiệp tại Đồng Bằng Sông Cửu Long ( ĐB S C L) .
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản trị khởi nghiệp, môi
trường khởi nghiệp về kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản trị và kết quả hoạt động của
doanh nghiệp trong thời gian tới.
1.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.3.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Để phục vụ cho nghiên cứu, số liệu thứ cấp đã được thu thập từ các tài
liệu, các nghiên cứu có liên quan trên các nguồn như: Các trang web, sách, báo,
1.4.1.Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng thực hiện nghiên cứu là những doanh nghiệp tại các tỉnh, Tp
Đồng Bằng Sông Cửu Long.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên được tác giả thực hiện trên phạm vi ở ĐBSCL.
5
1.5 Bố cục nội dung nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Tổng quan về doanh nghiệp tại các tỉnh,Tp ĐBSCL.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Đánh giá năng lực quản trị khởi nghiệp, môi trường khởi
nghiệp tác động kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Chương 5: Kết luận-kiến nghị và giải pháp.
6
CHƢƠNG II : TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về DNVVN
2.1.1 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam
Trong tháng Mười Hai, cả nước có 7901 doanh nghiệp thành lập mới với
số vốn đăng ký là 62,8 nghìn tỷ đồng, giảm 15,1% về số doanh nghiệp và
tăng 19,5% về số vốn đăng ký so với tháng trước; số vốn đăng ký bình quân
một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 8 tỷ đồng, tăng 40,9%. Tổng
số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 155,3
nghìn người, giảm 2,6% so với tháng trước.
Trong tháng, cả nước có 2860 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng
doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 55742 doanh nghiệp
ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Trong
tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, có 26349
công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 36,9%); 22889 công ty trách
nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,1%); 13081 công ty cổ phần (chiếm
18,3%) và 9070 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 12,7%) và 2 công ty hợp danh.
2.1.2. Hình hình hoạt động của nghiệp tại ĐBSCL
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Cần Thơ
Tính đến 30/4/2015, Cần Thơ có 11.168 doanh nghiệp được cấp giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 40,264 tỷ đồng,
trong số đó có 7.185 DN đang hoạt động, chiếm 64,3%.
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Cà Mau
Tính đến 26/5/2015, Cà Mau có 4.032 doanh nghiệp đang hoạt động, vốn
đăng ký 22.500,487 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 39.595 lao động.
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bạc Liêu
Tính đến tháng 6/2015, Bạc Liêu có 1.405 doanh nghiệp đang hoạt động
(trong đó 1.393 là DNNVV), vốn đăng ký 9.916 tỷ đồng, trong đó: 589 doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ, 527 doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và 289 doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực nông lâm thủy sản. Giải quyết việc làm cho 26.539 lao động.
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Sóc Trăng
Tính đến tháng 6/2015, Sóc Trăng có 2.001 doanh nghiệp đang hoạt động,
99,2% là DNNVV. 18,9% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng,
11,26% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, 4,15% doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, 3,68% doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực khoa học công nghệ và 3,04% hoạt động trong lĩnh vực lưu trú,
dịch vụ ăn uống. 77% doanh nghiệp làm ăn có lãi (tăng hơn 15% so với 2012),
22,3% doanh nghiệp làm ăn thu lỗ (giảm 5,7% so với năm 2012).
Doanh nghiệp tính đến 1/1/2013 là 72.012, giải quyết việc làm cho 5,175 triệu
lao động. Điểm đáng lo ngại nhất là số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô
nhỏ, phân tán, công nghệ kỹ thuật thủ công lạc hậu. Năm 2004, bình quân 1
doanh nghiệp chỉ có 72 lao động và 24 tỷ đồng tiền vốn, trong khi đó từ năm
2000 thì số lao động đã là 84 và vốn là 26 tỷ đồng. Như vậy, xu hướng quy mô
nhỏ ngày càng tăng, do 3 năm qua doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh chủ
yếu là tư nhân với quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Doanh nghiệp dưới 10 lao động
chiếm hơn 46%, từ 10 đến dưới 50 lao động chiếm 35%. Về quy mô vốn, số
doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồng chiếm 86%, trong đó hơn một nửa là dưới 1 tỷ
9
đồng. Những ngành tập trung nhiều doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn là công
nghiệp, bình quân 154 lao động và 32 tỷ đồng vốn, tiếp đó là vận tải, thông tin
liên lạc rồi đến xây dựng. Quy mô nhỏ và phân tán là ngành thương nghiệp, bình
quân 18 lao động và 6 tỷ đồng vốn. Doanh nghiệp ngành khách sạn, nhà hàng
bình quân 27 lao động và 9 tỷ đồng vốn.
Do phần lớn doanh nghiệp có mức vốn thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên khả
năng trang bị máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế. Mức
trang bị tài sản cố định bình quân cho 1 lao động ngoài quốc doanh là 50 triệu
đồng, chỉ bằng 20% so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo nhận định qua kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê, doanh
nghiệp phát triển còn mang tính tự phát chưa có định hướng rõ ràng. Số doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 77,5% số doanh nghiệp
được thành lập từ năm 2000 trở lại đây, nhưng biến động tới gần 20% hằng năm.
Nhiều tỉnh có hàng nghìn doanh nghiệp nhưng 70-80% trong số đó chỉ có 1-5
lao động và số vốn không quá 5 tỷ đồng như Long An, Đồng Tháp, Nam Định...
Doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển ổn
định và có định hướng rõ ràng hơn, nhưng rất ít doanh nghiệp có quy mô lớn,
đặc biệt Việt Nam chưa có một tập đoàn kinh tế mạnh nào.
trưởng tốt, nhưng vấn đề chúng ta đang gặp phải vẫn nằm ở khả năng cạnh
tranh, giá trị gia tăng tạo được. Giá trị sản xuất công nghiệp của chúng ta tăng
cao (15-16%), nhưng tốc độ tăng của giá trị tăng thêm chỉ trên 10% một chút,
còn chênh lệch nhiều. Và ngay cả kết quả xuất khẩu 26 tỷ USD, tăng trưởng trên
20% trong năm 2014 đã là rất tốt. Nhưng vấn đề cần được phân tích kỹ khi bàn
tới việc phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu là thực tế trong 26 tỷ đó có bao
nhiêu tỷ USD giá trị tăng thêm mà chúng ta thu được từ sản xuất.
Vấn đề mấu chốt để nâng cao khả năng cạnh tranh vẫn là cải cách, sắp
xếp lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Có thể thấy rõ ràng rằng qua hơn mười
hai năm đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, chúng ta đã sắp xếp, cổ phần
hóa được gần 2.300 doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước của các
doanh nghiệp này chỉ chiếm khoảng 8,2% tổng vốn sở hữu nhà nước tại các
doanh nghiệp. Bình quân một doanh nghiệp chỉ có 45 tỷ đồng, trong đó vốn lưu
động chưa đến 10 tỷ đồng, có tới 47% DNNN có vốn chưa đầy 5 tỷ đồng. Xem
xét kỹ thì không ít doanh nghiệp chỉ có vốn trên sổ sách, hoặc trong tài sản
không dùng đến, nên vốn thực tế dùng cho sản xuất kinh doanh chỉ còn 50%.
Năm 2013, trong số 77% DNNN làm ăn có lãi, chỉ chưa đầy 40% có mức
11
lãi bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại. Nếu đưa thêm
giá trị quyền sử dụng đất vào chi phí và cắt bỏ các khoản ưu tiên, ưu đãi của Nhà
nước, thì số DN có lãi còn ít hơn. Số thuế thu nhập DNNN chỉ chiếm 9,2% trên
tổng số nộp ngân sách nhà nước.
Phần còn lại trong số 210.000 tỷ đồng vốn nhà nước nằm ở đâu? Một nửa
trong số này nằm ở dầu khí, điện lực và bưu chính viễn thông, và phần lớn còn
lại nằm ở các tổng công ty 91 khác như hàng hải, hàng không... Đây chính là
vấn đề mấu chốt để chúng ta tính toán kỹ cho bài toán phát triển trong năm 2006
và trong suốt lộ trình hội nhập của kinh tế ViệtNam.
Trong Hội nghị toàn quốc đổi mới doanh nghiệp năm 2004, Thủ tướng
thực tế đáng lo ngại khác là sức cạnh tranh của DNNN rất yếu. Trong khối
ASEAN, Việt Nam thuộc nhóm kém phát triển (chỉ khá hơn Lào, Campuchia,
Mianma). Khi Việt Nam gia nhập WTO, nếu các DNNN không được hưởng ưu
tiên thì khu vực này khó có thể cạnh tranh thắng lợi với doanh nghiệp tư nhân và
doanh nghiệp nước ngoài bởi đội ngũ quản lý doanh nghiệp kém, trình độ công
nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp... Biện pháp để tháo gỡ những bức bách
hiện nay là cần phải phát triển nhanh lực lượng sản xuất. Một đất nước nhỏ bé
như Xingapo, dân số chỉ có 3 triệu người mà mỗi năm làm ra đến 165 tỷ USD.
Còn Việt Nam, với 80 triệu dân nhưng GDP chỉ đạt 40 tỷ USD/năm. Nếu cứ tiếp
tục tiến độ đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước chậm chạp như hiện nay,
doanh nghiệp nhà nước sẽ bị thua ngay trên sân nhà.
Như vậy, còn một khoảng cách lớn về hiệu quả và sức cạnh tranh so với
yêu cầu gia nhập WTO khi chúng ta phải tự do hóa thương mại và đầu tư theo
các chuẩn mực của tổ chức này. Vì vậy, theo đánh giá của Ban nghiên cứu của
Thủ tướng Chính phủ về tầm quan trọng và tác động của cải cách DNNN với
việc gia nhập WTO, thì nếu không có những bước đi mang tính đột phá để
nhanh chóng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh thì nguy cơ đổ vỡ hàng loạt
DNNN là điều khó tránh khỏi.
Xét về tổng thể thì hơn 90% các doanh nghiệp của Việt Nam là vừa và
nhỏ ở hai mặt giá trị tài sản và vốn kinh doanh. Nếu xét về mặt quy mô doanh
nghiệp thì khả năng cạnh tranh về vốn của doanh nghiệp Việt Nam là thấp. Để
cạnh tranh tốt và có hiệu quả thì vấn đề đầu tiên và cũng là vấn đề thiết yếu đối
với các doanh nghiệp đó là quy mô vốn. Nhưng những doanh nghiệp có lượng
vốn lớn hiện nay là doanh nghiệp nhà nước thì lại làm ăn không có hiệu quả
hoặc có hiệu quả thấp. Trong khi lại được sự bảo trợ rất lớn về mọi mặt của nhà
nước do đó khu vực doanh nghiệp nhà nước không được đánh giá là khu vực có
13
năng lực cạnh tranh cao. Trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân là khu vực
ngoài vào. Ví dụ như ngành da giày nhập từ 75 đến 80% nguyên vật liệu, ngành
14
nhựa nhập khẩu 100% hạt nhựa… Ngoài ra, trong khi kỹ thuật thông tin đại
chúng tạo điều kiện cho cạnh tranh toàn cầu với chi phí gia nhập thị trường ngày
càng rẻ thì ở Việt Nam lại có xu hướng ngược lại.
Trình độ về công nghệ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Namhiện nay hầu hết là lạc hậu, chậm
phát triển và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Điều này dẫn đến
vấn đề sản lượng thấp, giá thành cao... do đó việc cạnh tranh với các doanh
nghiệp nước ngoài là vô cùng khó khăn. Mặt khác, do thiếu vốn, thiếu kinh
nghiệm quản lý tiên tiến nên giá thành cao, chất lượng kém.
Tính kết nối, phối hợp giữa các ngành, các cơ sở công nghiệp từ khâu
cung cấp nguyên liệu đến khâu sản xuất ra thành phẩm rất hạn chế.
Thêm vào đó là vấn đề về thuế nhập khẩu. Đối với hàng nhập khẩu, ngoài
thuế nhập khẩu còn phải chịu thuế giá trị gia tăng VAT (dù chưa có giá trị tăng
thêm). Mặc dù sau đó được hoàn thuế nhưng thời gian hoàn thuế VAT chậm, do
đó dẫn tới việc doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn hoạt động kinh doanh.
Để giải quyết tình trạng vốn hoạt động trong kinh doanh, doanh nghiệp buộc
phải vay ngân hàng và đương nhiên phải chịu một khoản lãi suất mà lẽ ra nếu
việc hoàn thuế nhanh và kịp thời hơn thì doanh nghiệp đã không phải chịu
khoản lãi suất này. Đó cũng là một yếu tố đẩy giá thành lên cao khiến khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp giảm xuống.
Chi phí về lao động: Lao động Việt Nam thừa về số lượng nhưng thiếu và
yếu về chất lượng, năng suất lao động thấp. So với các nước trong khu vực, năng
suất lao động ngành dệt của Việt Nam chỉ bằng 90-95% năng suất lao động
ngành dệt của Trung Quốc, bằng 85% năng suất lao động ngành dệt của Thái
Lan. Ưu thế về chi phí lao động rẻ của Việt Namđang mất dần. Giá nhân công
của 2 ngành có năng lực cạnh tranh tốt nhất (dệt may và da giày) hiện đang bằng
DN đếnYokohama
1 lít xăng
Thuế thu nhập cá
nhân (max, %)
TP.
HCM
Thƣợg
Hải
Xingapo
Bangko
k
23
16
24
42
13
1850
1800
19
28
1420
920
2000
197
2,23
3,11
6,21
2,59
3,78
0,035
0,05
0,03
0,06
0,138
0,35
50
50
45
29
37
29
30
33
Nguồn: CIEM
Các chi phí đầu vào khác trong xu thế đều tăng, tính từ năm 2006 đến
nay: giá xăng dầu tăng gần 100%, giá nước tăng 130%, giá điện tăng 37,5%,
cước thông tin liên lạc quốc tế sau nhiều lần cắt giảm vẫn còn cao hơn các nước
trong khu vực.
Những chi phí trên còn đẩy giá thành của nguyên vật liệu trong nước tăng,
làm cho giá thành của những hàng hoá, dịch vụ sử dụng tỷ lệ lớn các đầu vào
nội địa càng tăng. Giá cả các yếu tố đầu vào càng cao thì càng ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh về mặt giá cả của doanh nghiệp Việt Nam.
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, ngoài một số khó khăn do tăng chi phí
Thời gian thực thi
một hợp đồng
(ngày)
Tiếp cận thông tin
Mức chi
Nƣớc có mức phí của
thấp nhất
một nƣớc
châu Á
2
46
(Trung
(Ôxtrây lia)
Quốc)
17
33
Nƣớc có
mức cao
nhất
Việt Nam
168
(Inđônêxia)
63
73
17
43
tín dụng từ các tổ
chức nhà nước (số
lượng người
vay/nghìn dân)
Tiếp cận thông tin
tín dụng từ các cơ
quan, cá nhân trong
nước (số lượng
người vay/nghìn
dân)
Thời gian đóng cửa
(phá sản) một
doanh nghiệp
(năm)
Nguồn: VCCI.
(Nauy)
(Malaixia)
(Bồ Đào
Nha)
0
Chủ các DNNVV thường là kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập
và vận hành doanh nghiệp, họ vừa là người quản lý, vừa tham gia trực tiếp vào
sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý DN không cao. Ngoài ra, hầu
hết những người chủ DNNVV đều không tham gia vào các khóa đào tạo quản lý
chính quy, chưa có đủ kiến thức về quản trị DN; chỉ quản lý theo kinh nghiệm
và ý kiến chủ quan.
Về hoạch định nguồn nhân lực
Hiện nay, có rất ít DNNVV lập kế hoạch nhân lực trong dài hạn. Theo số
liệu thống kê, có đến 85% trong tổng số doanh nghiệp thực hiện dự báo nhu cầu
dựa trên số lượng lao động cần thay thế, chỉ có khoảng 15% là dựa vào sự thay
đổi về khoa học, công nghệ, nhu cầu sản phẩm và dịch vụ, quy mô vốn,… Thêm
vào đó, việc xác định thừa hay thiếu lao động cũng chỉ do từng phòng ban xác
định dựa vào khối lượng công việc hiện tại chứ không có sự tham gia của phòng
nhân sự. Phòng nhân sự chỉ có chức năng nhận chỉ tiêu lao động và thực hiện
việc tuyển dụng.
Nhiều chủ DNNVV Việt Nam cũng xác định được nhu cầu về nguồn nhân
lực trong ngắn hạn hoặc thậm chí chỉ căn cứ vào thời điểm hiện tại để ra quyết
18