TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Học phần
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỚI SPSS VÀ AMOS
Tiểu luận
NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn
ThS. VÕ MINH SANG
Học viên thực hiện
Chu Thị Phương Thanh
Lớp: MBA 3B
---LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Võ Minh Sang đã
tận tình hướng dẫn, giảng dạy những kiến thức quý báu của học phần Phân tích
định lượng trong kinh doanh bằng phần mền SPSS và AMOS. Đây là những kiến
thức hữu ít giúp tôi có thể hoàn thành luận văn Thạc sĩ của bản thân trong thời
gian tới.
Trong quá trình học và nghiên cứu, thầy đã luôn tạo mọi điều kiện thuận
lợi để học viên có điều kiện hoàn thành tiểu luận của mình. Tuy nhiên, với kiến thức
còn hạn chế, tôi nghĩ mình không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong thầy tiếp tục đóng góp và
hướng dẫn thêm để tôi có thể hoàn thành tiểu luận.
Một lần nữa với biết ơn sâu sắc về sự chỉ dẫn nhiệt tình của thầy đã dành cho tôi cùng tập thể lớp
MBA – 3B. Tôi xin kính chúc thầy dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và công tác tốt.
Trân trọng cảm ơn Thầy!
Sinh viên thực hiện
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Theo đánh giá của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khu
vực DNVVN chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Con số thống kê cho
hay, DNVVN chiếm trên 97% tổng số DN cả nước, đóng góp 50% GDP, 33% thu
ngân sách nhà nước (NSNN), tạo ra 62% việc làm cho người lao động, đóng góp
49% vào việc tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế…
Tuy nhiên, các DNVVN hầu hết có quy mô từ nhỏ đến siêu nhỏ (vốn chỉ ở
mức 4 - 7 tỷ đồng/DN). Đã vậy, số lượng DN bị ngừng hoạt động, phá sản diễn
biến theo xu hướng tăng theo thời gian. Chỉ tính riêng quý I-2015, cả nước có tới
trên 2.500 DN tuyến bố phá sản, giải thể. Mặc dù đây là con số giảm (khoảng
0,6%) so với cùng kỳ năm 2014, song số liệu này cũng cho thấy, các DNVVN của
Việt Nam với quy mô vốn không lớn nên khó có thể trụ vững khi có biến động
của môi trường kinh doanh.
Đáng nói là, nền kinh tế đang bước vào ngưỡng cửa hội nhập, hàng loạt
các Hiệp định thương mại song phương đang được Việt Nam tiến hành ký kết
với các quốc gia, song có tới trên 80% DN trong nước không biết đến và chưa có
chuẩn bị gì về tác động của những hiệp định này. Thực tế này là vô cùng đáng lo
ngại, bởi sự thiếu thông tin khi hội nhập sẽ càng khiến cho các DN Việt Nam vốn
yếu, lại càng yếu thêm trước các đối thủ mạnh. Và chính yếu kém này dẫn đến
việc các DN của ta không tiếp cận được thị trường xuất khẩu. Khi đó, các cơ hội
đến từ việc hội nhập sẽ có nguy cơ bị bỏ lỡ.
Có rất nhiều ý kiến từ các chuyên gia, doanh nghiệp tự hỏi: Năng lực khởi
nghiệp: là bẩm sinh hay được đào tạo. Các rào cản trong môi trường khởi
nghiệp Việt Nam hiện nay. Mối quan hệ giữa năng lực nội sinh và khởi nghiệp
kinh doanh, mối tương quan giữa năng lực và môi trường khởi nghiệp…. Cho
Trang 1
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
và học tập cho các khóa học trong Nhà trường
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Trang 2
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
- Vai trò của người chủ doanh nghiệp trong việc quản trị và điều hành hoạt
động của công ty cần những kỹ năng gì?
- Các kiến thức, tư duy mà người chủ doanh nghiệp cần phải có
- Xác định được động lực, tinh thần và kỳ vọng của người chủ doanh nghiệp
- Những cơ hội kỳ doanh từ các quan sát trên thị trường, những ưu thế trên
thị trên mà người chủ doanh nghiệp đang nắm giữ, những thách thức sẽ gặp
phải, cách huy động vốn và sử dụng vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: số liệu được thu thập từ các nghiên cứu đi trước, các sách,
báo, tạp chí khoa học, số liệu thống kê của các Sở, Ban, Ngành, từ Internet,…
Số liệu sơ cấp: Đầu tiên, nghiên cứu định tính sẽ được thực hiện với mục
đích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, hoàn thiện bản câu hỏi và tìm thêm các
nhân tố mới, biến mới để điều chỉnh mô hình nghiên cứu cho phù hợp với địa
bàn và thời điểm hiện tại. Tiếp theo, để phục vụ cho nghiên cứu định lượng, số
liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp
1.3.2. Phương pháp phân tích số liệu
Đầu tiên, nghiên cứu sẽ kiểm định độ tin cậy của các thang đo về thực tiễn
tác động của phong cách lãnh đạo đối với sự thỏa mãn và lòng trung thành của
nhân viên. Các thang đo được đánh giá sơ bộ thông qua kết quả kiểm định hệ số
tin cậy Cronbach’s Alpha.
Sau khi kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các thành phần của
Chương 3: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận – Giải pháp kiến nghị
Trang 4
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CHỦ DOANH NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG KINH
DOANH
2.1. KHÁI NIỆM VỀ KHỞI NGHIỆP
Khởi nghiệp có thể tạm hiểu là sự cam kết của một (hoặc nhiều người) về
việc thành lập công ty, phát triển một sản phẩm hay dịch vụ, mua lại một công ty
đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó. Ở đây, chúng ta sẽ chỉ quan tâm
đến lĩnh vực thành lập doanh nghiệp.
Khởi nghiệp nghĩa là tạo ra giá trị có lợi cho người hoặc nhóm khởi nghiệp,
cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng đồng và nhà nước.
Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và
dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội:
+ Đáp ứng nhu cầu của xã hội
+ Hỗ trợ việc hình thành mạng lưới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo ra
việc làm cho xã hội.
2.2. ĐỘNG CƠ KHỞI NGHIỆP
Động cơ của mỗi người đưa đến việc thành lập doanh nghiệp rất khác
nhau. Có thể là lý do các nhân, kinh tế và/hoặc xã hội, danh sách sau đây chỉ đưa
ra các động cơ thường thấy nhất ở những người khởi nghiệp :
* Lý do cá nhân:
- Muốn tìm sự độc lập, sự tự chủ,
Trang 5
doanh của chính mình sao cho doanh nghiệp của chính bạn có được khả năng
kinh doanh thuận lơi nhẩ đối với doanh nghiệp
Thứ hai: Khi các doanh nghiệp được thành lập một cách hợp pháp thì vấn
Trang 6
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
đề cạnh tranh giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài tại Việt
Nam hoặc doanh nghiệp nước ngoài trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế:
từ đó sẽ giúp nâng cao sự cạnh trạnh cao trong doanh nghiệp, giúp doanh
nghiệp Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của doanh nghiệp của chính
mình
Thứ ba: Khi đời sống của người dân ngày càng được ổn định thì các vấn đề
xã hội ngày càng được giữ được trật tự ổn định, vì nó đã giải quyết được cơ bản
các vấn đề của xã hội, từ đó sẽ giúp cho nền kinh tế của chúng ta ngày càng phát
triển trên thị trường quốc tế
Mỗi một doanh nghiệp của chính đều có được những vị thế doanh nghiệp
khác nhau trong việc quản lý nền kinh tế xã hội của chúng ta để cho doanh
nghiệp của chính bạn có được sự kinh doanh thực sự hiệu quả thì doanh nghiệp
của chính bạn cần phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật thì vai trò
của doanh nghiệp mới thực sự trở thành những điểm nhấn đăc biệt trong quản
lý nền kinh tế xã hội của nước ta.
2.4. CÁC YẾU TỐ CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Môi trường kinh doanh được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau. Xét
theo cấp độ tác động đến sản xuất và quản trị doanh nghiệp, có cấp độ nền kinh
tế quốc dân và cấp độ ngành.
Trang 7
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN
3.1.1. Khái niệm và đặc điểm chung của doanh nghiệp
3.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào,
doanh nghiệp cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật
chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm
tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất.
Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ
thông tin các hình thức tổ chức doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng và các
loại hình sở hữu của doanh nghiệp cũng ngày càng phong phú hơn. Do đó, nếu
đứng trên quan điểm khác nhau chúng ta có thể định nghĩa về doanh nghiệp
cũng khác nhau:
Nếu đứng trên quan điểm tổ chức có thể hiểu: Doanh nghiệp là một tổng
thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm thực
hiện mục đích đề ra.
Nếu đứng trên quan điểm chức năng có thể hiểu: Doanh nghiệp là một
đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ nhằm mục đích kiếm lời.
Từ các định nghĩa nêu trên chúng ta có thể đưa ra một khái niệm toàn diện
hơn về doanh nghiệp như sau:
Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản
phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu trên thị trường, thông qua đó để tối đa
Trang 10
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
Các truyền thống, thói quen là những yếu tố mang tính rất riêng của doanh
nghiệp. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển vừa khách quan vừa chủ quan
trong quá trình vận động của doanh nghiệp.
* Nền văn hoá:
Như ta đã biết những doanh nghiệp có nền văn hoá phát triển sẽ có không
khí làm việc say mê luôn đề cao sự chủ động sáng tạo. Ngược lại, những doanh
nghiệp có nền văn hoá thấp kém sẽ phổ biến sự bàng quang, thờ ơ và bất lực
trước đội ngũ lao động của doanh nghiệp
Biện pháp quan trọng tạo nên nền văn hoá doanh nghiệp mạnh là phải tăng
cường các mối liên hệ giao tiếp trao đổi thông tin giữa các thành viên của các tổ
chức với nhau thông qua con đường chính thức và đặc biệt là con đường không
chính thức. Vì con đường không chính thức cho phép vượt qua được những cách
biệt về cấp bậc, về tuổi tác...cho phép hạn chế tác hại của căn bệnh trì truệ quan
liêu.
* Giá trị ước vọng của lãnh đạo:
Lãnh đạo theo cách lãnh đạo dân chủ lắng nghe ý kiến đóng góp của của
mọi người. Ước vọng đó được thể hiện qua các quyết định của ban lãnh đạo.
Cùng với sự phấn đấu của cán bộ công nhân viên.
3.1.2.2. Môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp:
a. Môi trường vĩ mô.
* Môi trường kinh tế chính trị.
Môi trường này bao gồm: luật pháp các chính sách và cơ chế của nhà nước
đối với nghành kinh doanh. Nhà quản trị phải lưu ý tới các yếu tố trên nhằm tiên
đoán những thay đổi quan trọng về chính trị trong nước, khu vực và trên thế
giới để có những quyết sách đúng đắn trong kinh doanh. Chúng ta có thể xem
xét một số khía cạnh ảnh hưởng của môi trường chính trị đến hoạt động của
doanh nghiệp. Chẳng hạn, mối quan tâm hàng đầu của nhà nước được thể hiện
nghiệp đang kinh doanh. Công nghệ phát triển càng nhanh thì chu kỳ sống của
sản phẩm càng ngắn.
* Môi trường tự nhiên:
Bao gồm các yếu tố liên quan: Tài nguyên thiên nhiên, đất đai, khí hậu thời
tiết ... Thực tế cho thấy sự ô nhiễm không khí và môi trường xung quanh đã đến
mực báo động. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp và chính phủ là không thể
Trang 13
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
thờ ơ với công việc này. Hiện nay, người ta đanh tìm cách đối phó với tình trạng ô
nhiễm bằng những cách riêng của mình. Ngoài việc đóng thuế môi trường ra đã
có nhiều nhà kinh doanh chủ động tìm cách thay thế nguyên liệu, vật liệu sử dụng
năng lượng sạch hoặc nghiên cứu chế tạo, áp dụng các kỹ thuật xử lý chất thải.
Các yếu tố môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến doanh nghiệp trên các mặt
sau:
- Tạo ra thị trường cung ứng các yếu tố đầu vào cho các doanh nghiệp.
- Tác động đến dung lượng và cơ cấu thị trường hàng tiêu dùng.
- Tác động đến việc làm và thu nhập của dân cư, do đó ảnh hưởng đến sức
mua và khả năng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp.
* Môi trường văn hoá xã hội.
Các yếu tố văn hoá xã hội có liên quan với nhau nhưng tính chất tác động
của chúng có thể khác nhau. Thực tế người ta luôn sống trong môi trường văn
hoá đặc thù, tính đặc thù của mỗi nhóm người vận động theo hai khuynh hướng
là giữ lại các tinh hoa văn hoá dân tộc, một khuynh hướng khác là hoà nhập với
các nền văn hoá khác.
Nhà quản trị là người phải biết nắm vững cả hai khuynh hướng đó để có
giải pháp thâm nhập sản phẩm của nhà sản xuất một cách thích hợp vào từng
loại thị trường có nền văn hoá khác nhau. Đối với sản phẩm có tính quốc tế thì
thích của mình và đồng thời quyết định phương thức phục vụ của người bán. Điều
này cho thấy tính chất quyết định của khách hnàg làm cho thị trường chuyển từ thụ
trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trở thành thượng đế.
* Đối thủ cạnh tranh:
Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt đối thủ cạnh tranh. Vấn đề
quan trọng ở đây là không được coi thưòng bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũng
không coi tất cả đối thủ là thù địch. Cách sử lý khôn ngoan nhất không phải là
hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều
khiển và hoà giải, lại vừa phải hưóng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào
khách hàng. Phải luôn đặt câu hỏi khách hàng muốn gì? Khi ta thoả mãn được
ước muốn của khách hàng, có nghĩa là ta đã thành công một phần trong cạnh
tranh. Mặt khác cũng nên quan tâm tới việc dự đoán tương lai và định hướng
tới khách hàng. Mỗi sản phẩm đều tuân theo một quy luật nhất định, đó là sự
phát sinh, phát triển và suy thoái. Người tiêu dùng là người đi sau sự phát sinh
Trang 15
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
nhưng lại đi trước sự suy thoái. Do vậy, nhà quản trị là người phải biết được khi
nào sản phẩm của mình sẽ hết sự hấp dẫn để chuẩn bị ngay sản phẩm thay thế.
* Nhà cung ứng.
Người cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó bảo đảm
cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành ổn định theo kế hoạch đã định
trước. Trên thực tế người cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu: Loại
cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu; loại cung cấp nhân công; loại cung cấp tiền và các
dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm. Như vậy, mỗi doanh nghiệp cùng một lúc có quan hệ
tới nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên. Vấn đề đặt ra là yêu cầu của việc
cung cấp phải đầy đủ về số lượng, kịp thời về thời gian, đảm bảo về chất lượng và
ổn định về giá cả. Mỗi sự sai lệch trong quan hệ với người cung cấp là ảnh hưởng
giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp
với các đối thủ trong cùng một ngành…
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh
phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một
ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và
công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi
hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế.
Thuật ngữ cạnh tranh kinh tế được nhà kinh tế học người Anh là Adam
Smith đưa
ra. Cạnh tranh trong kinh tế luôn liên quan đến quyền sở hữu, nói cách
khác, sở hữu là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra.
Các thuật ngữ được cho là có liên quan mật thiết đến thuật ngữ cạnh tranh
kinh tế là: Cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, độc quyền…
Thuật ngữ "Cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều
lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao.
Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy
thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao
hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh
tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu
dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Trang 17
Nghiên cứu về năng lực môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của DN
Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp
và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành
của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự
Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh
doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi
tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ
hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
c. Đặc điểm của cạnh tranh
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất
phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách
biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu
dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần
nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt,
khoa học kỹ thuật phát triển... nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp
hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản
xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh.
Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế
thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm
hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất. Câu nói cửa miệng của nhiều người
hiện nay "thương trường như chiến trường", phản ánh phần nào tính chất gay
gắt khốc liệt đó của thị trường cạnh tranh tự do.
d. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và
trong lĩnh vực kinh
tế nói
chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp
phần vào sự phát triển kinh tế.
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt
Trang 19
thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích
hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội.
Trang 20