thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động tại các doanh nghiệp thuộc ngành khai khoáng - Pdf 40

MỤC LỤC
Mục lục
Trang

Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ TRANG BỊ PHƯƠNG TIỆN BẢO
VỆ CÁ NHÂN
1.1 Các khái niệm chung
1.2 Cơ sở pháp lý
1.3 Mục đích nghiên cứu
1.4 Nội dung – đối tượng nghiên cứu
1.5 Sự cần thiết của việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao
động tại các doanh nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC TRANG BỊ PHƯƠNG
TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN THUỘC NGÀNH KHAI KHOÁNG HIỆN NAY
2.1 Sơ lược tình hình TNLĐ, BNN đang diễn ra tại Việt Nam và trong ngành
khai khoáng
2.2 Nguyên nhân xảy ra TNLĐ và BNN
2.3 Một số vd minh họa về chế độ trang bị PTBVCN tại một số đơn vị sản xuất
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN CHO LAO ĐỘNG NGÀNH KHAI
THÁC KHOÁNG SẢN
3.1 Trách nhiệm của các bên liên quan
3.2 Kiến nghị, đề xuất
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

1



1.1 Các khái niệm chung:
- Phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) là: những dụng cụ, phương tiện cần
thiết mà người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc
thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm,
độc hại phát sinh trong quá trình lao động, khi các giải pháp công nghệ, thiết
bị, kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết.
(Theo khoản 1 Điều 3 của Thông tư số: 04/2014/TT-BLĐTBXH )
- An toàn, Vệ sinh lao động (AT,VSLĐ): là một động hoạt động đồng bộ trên
các mặt luật pháp, tổ chức hành chính, kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm
cải thiện điều kiện lao động sao cho điều kiện lao động tiện nghi hơn, thoải
mái hơn góp phần giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đảm bảo người lao
động có đủ sức khỏe và đảm bảo sản xuất liên tục.
-Tai nạn lao động (TNLĐ): là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận chức
năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá
trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
-Bệnh nghề nghiệp(BNN): là một bệnh phát sinh do các tác hại của nghề
nghiệp tác động thường xuyên và kéo dài đối với sức khỏe người lao động. Ví
dụ: bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi bông...
- Ngành khai khoáng được hiểu là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật
liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật
liệu được khai thác từ mỏ như: kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani,
than,... Khai thác khoáng sản là ngành lao động đặc thù, được xếp vào loại lao
động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Hầu hết các mỏ khai thác khoáng sản có
kiến tạo phức tạp, người lao động thường xuyên phải tiếp xúc với nguy cơ gây
nên các BNN như bụi than, đá, tiếng ồn, các loại khí độc (CH4, CO, CO2…)
1.2 Cơ sở pháp lý:
-Những văn bản pháp luật, chính sách của nhà nước về thực hiện công tác
AT,VSLĐ nhằm thể hiện đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước về công
3


hoặc không trang bị PTBVCN.
1.4 Nội dung – đối tượng nghiên cứu:

4


- Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp, cơ quan và lao động thuộc ngành
khai khoáng. Khách thể nghiên cứu là: phương tiện bảo vệ cá nhân.
- Điều kiện trang bị : Người lao động trong khi làm việc chỉ cần tiếp xúc với
một trong những yếu tố nguy hiểm, độc hại dưới đây thì được trang bị:
+Tiếp xúc với yếu tố vật lý xấu;
+Tiếp xúc với bụi và hóa chất độc hại;
+Tiếp xúc với yếu tố sinh học độc hại, môi trường vệ sinh lao động xấu: Vi rút,
vi khuẩn độc hại gây bệnh, côn trùng có hại; Các yếu tố sinh học độc hại khác.
+Làm việc với máy, thiết bị, công cụ lao động, làm việc ở vị trí mà tư thế lao
động nguy hiểm dễ gây ra tai nạn lao động; điều kiện lao động nguy hiểm, độc
hại khác.
* PTBVCN cần thiết cho ngành kai khoáng:
Hiện nay, tại Việt Nam, việc quy định các PTBVCN trong các ngành nghề độc
hại nguy hiểm được Nhà nước quy định rõ trong Thông tư 04/2014/TTBLĐTBXH ban hành ngày 12 tháng 02 năm 2014, trong đó có ngành khai
khoáng. Ví dụ:
-Về lao động vận hành máy sàng rung; vận hành máy lọc, máy phân ly khoáng
sản (than, quặng) lao động cần có các PTBVCN như: Quần áo lao động phổ
thông; Mũ vải (Thay bằng mũ, nón lá chống mưa nắng cho người làm việc
ngoài trời); Găng tay vải bạt; Giầy vải bạt thấp cổ; Khẩu trang lọc bụi; Kính
trắng chống bụi hoặc chống chấn thương cơ học; Áo mưa; Xà phòng.
-Về lao động đào hào, đào giếng (thăm dò và khai thác khoáng sản) cần trang
bị PTBVCN: Quần áo lao động phổ thông; Mũ chống chấn thương sọ não;
Găng tay vải bạt; Giầy vải bạt thấp cổ; Ủng cao su; Áo mưa; Xà phòng.
1.5 Sự cần thiết của việc trang bị PTBVCN cho người lao động:

Số người chết
Số người chết vì khai
thác mỏ và xây dựng

2000
3405
3530
371
122

2010
5125
5307
601
68

2011
5896
6154
574
72

2012
6777
6967
606
84

2013
6695

tổng số người chết;
+ Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 8,8 % tổng số vụ chết người và 8,1% tổng số
người chết;
+ Lĩnh vực dịch vụ chiếm 7,1% tổng số vụ chết người và 6,8% tổng số người
chết;
+ Lĩnh vực dịch vụ vận tải và bốc xếp hàng hóa chiếm 5,9% tổng số vụ chết
người và 6,1% tổng số người chết;
+ Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 6,9%
tổng số người chết;
=>Lĩnh vực khai thác khoáng sản là một trong các lĩnh vực có số vụ tai nạn và
người chết cao. Và số người mắc BNN trong ngành này cũng chiếm tỷ lệ lớn
hơn 70% trên 30 BNN tại Việt Nam, trong đó chủ yếu là bệnh bụi phổi Silic,
bụi phổi than... Tóm lại, người lao động làm nghề khai khoáng vừa phải đối
mặt với ô nhiễm, thậm chí là nguy hiểm cả tính mạng. Trong khi đó, người sử
dụng lao động đã không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn,
không huấn luyện – đào tạo, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao
động. Lao động trong ngành này thường có hợp đồng ngắn hạn, thời vụ, xuất
thân từ nông thôn thiếu kỹ năng làm việc và kỉ luật lao động thấp
2.2 Nguyên nhân xảy ra TNLĐ và BNN:
7


- Điều kiện lao động xấu không đảm bảo an toàn, nhiều nguy cơ dẫn đến
TNLĐ và BNN: Người lao động làm việc trong các công trường khai thác luôn
bị các nguy cơ gây TNLĐ và BNN rình rập như: Sạt, lở đất đá; điều kiện thời
tiết khắc nghiệt: mưa, bão, nắng nóng, ngập lụt và môi trường lao động bị ô
nhiễm bởi khói, bụi, tiếng ồn, rung, lắc…
- Tình hình vi phạm các qui định của Nhà nước về AT,VSLĐ trong khai thác
còn rất phổ biến: những quy định của Nhà nước; Pháp luật về AT,VSLĐ trong
khai thác khoáng sản đã được nêu rõ trong nhiều văn bản luật như: Bộ luật Lao


động. Trước khi cấp phát chưa kiểm tra lại chất lượng, không định kỳ kiểm tra
trong quá trình người người lao động sử dụng và ghi sổ theo dõi các PTBVCN
chuyên dùng có đảm bảo được độ an toàn cao hay không.
- Nguyên nhân từ phía người lao động chiếm 18,9%( năm 2015 của Bộ Lao
động-Thương binh và Xã hội ).
+Người lao động làm trong nghề khai khoáng thường có trình độ thấp nên
nhận thức của họ về tầm quan trọng của việc sử dụng PTBVCN khi làm việc
trong môi trường có tính độc hại chưa cao, không ý thức được việc không
mang PTBVCN sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏa của mình như thế nào.
+Ý thức chấp hành nội quy của doanh nghiệp về trang bị PTBVCN không tốt:
nhiều người lao động đã không mang những thiết bị bảo vệ cá nhân lên người
vì thấy vướng khó chịu, hoặc thấy khi mang vào hiệu quả làm việc không cao.
+Một số PTBVCN không đảm bảo tính thẩm mỹ, không phù hợp với sở thích
của người lao động. Hoặc khi được trang bị PTBVCN thì người lao động chỉ
mang khi có mặt người sử dụng lao động, mang với hình thức đối phó.
- Một trong các nguyên nhân dẫn đến TNLĐ, đến từ phía cơ quan Quản lý
Nhà nước: Họ thiếu trách nhiệm trong khâu kiểm tra quản lý chất lượng
PTBVCN cho người lao động không được rõ ràng, công khai. Do đó, rất nhiều
doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp tư nhân sử dụng rất nhiều PTBVCN không có
trong danh mục nghề, chưa được đăng kí sử dụng, hoặc những thiết bị hết hạn
sử dụng không đảm bảo an toàn => khi những thiết bị này được sử dụng tràn
nan, thì việc dẫn đến TNLĐ là rất cao, tăng mức độ nguy hiểm.
Các cơ quan Quản lý Nhà nước vẫn chưa thực hiện tốt khâu kiểm tra đôn đốc
thực thi pháp luật về trang bị PTBVCN ở tại các doanh nghiệp, tổ chức.
- Một số nhận xét:
+Những mặt tích cực: Người sử dụng lao động đã dần nhận thấy trách nhiệm
của mình trong việc đảm bảo an toàn, và trang bị PTBVCN cho người lao
động. Bắt đầu quan tâm, thực hiện nghiêm túc các thông tư hướng dẫn, luật
pháp về trang bị PTBVCN cho người lao động.

2.3 Một số ví dụ minh họa về chế độ trang bị PTBVCN tại một số đơn vị sản
xuất.
-Công ty xi măng Chinfon: Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân :Tất cả cán bộ
công nhân viên đều được cấp phát quần áo đồngphục ( mùa đông và mùa hè
theo từng số đo riêng ) và giầy, mũ bảo hộ, khẩu trang, kính, xà phòng vv.. ở
những vị trí đặc thù còn được trang bị quần áo chống cháy chịu được nhiệt độ
10


cao. Đăng ký kiểm định các thiết bị, máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về
ATLĐ: Lên kế hoạch kiểm tra và hiệu chỉnh, kiểm định định kỳ các thiết bị
trên theo đúng yêu cầu của pháp luật.
- Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản (Vinacomin): yếu tố an toàn là
một trong những mục tiêu hàng đầu và cũng là tiêu chí quan trọng để xem xét,
đánh giá công tác thi đua, thành tích của các đơn vị. Các thiết bị như quần áo
bảo hộ trong ngành, dây đai an toàn, giày bảo hộ cao cấp đều được trang bị.
Các ban chuyên môn của Tập đoàn sẽ kiểm tra chặt chẽ kết quả thực hiện trang
bị PTBVCN ở các đơn vị và thường xuyên báo cáo Tổng giám đốc để có biện
pháp xử lý kịp thời. Lãnh đạo các đơn vị phải trực tiếp chỉ đạo việc lập các
biện pháp nâng cao mức độ đảm bảo an toàn để ứng phó với các nguy cơ mất
an toàn, những thiếu sót, tồn tại...
-Nhiều năm qua, Công ty than Nam Mẫu luôn coi trọng công tác an toàn, vệ
sinh lao động. Nâng cao tính tự giác, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của người
lao động. Tăng cường trang bị các PTBVCN mới hiện đại, để đảm bảo an toàn
tính mạng cho lao động, đặc biệt là đều trang bị giày bảo hộ lao động cao cấp
cho lao động của doanh nghiệp.
-Bên cạnh đó có nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện tốt công tác trang bị
PTBVCN đảm bảo an toàn cho người lao động. Ví dụ như các doanh nghiệp ở
tỉnh Hòa Bình đã mắc nhiều sai phạm trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động.
Theo ông Đỗ Thành Long, Phó Chánh thanh tra Sở LĐTBXH: trong năm 2015

môi trường xung quanh …).Trong trường hợp này ngoài các PTBVCN
theoThông tư 04, NSDLĐ phải cấp phát bổ sung những PTBVCN cần thiết
khác cho NLĐ ( căn cứ nội dung điều 149 Bộ Luật lao động).
- Phải đưa ra thời hạn sử dụng PTBVCN phù hợp, căn cứ tính chất công việc
và chất lượng của PTBVCN cấp phát, sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức
Công đoàn cơ sở.
- Phải tổ chức huấn luyện, hướng dẫn NLĐ sử dụng thành thạo các PTBVCN
trước khi cấp phát và kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng. Nội dung huấn luyện
NSDLĐ tối thiểu phải làm cho NLĐ hiểu rõ : Khi nào phải mang PTBVCN?
Cần sử dụng những PTBVCN nào trong khi làm việc ? Thực hiện các thao tác
khi mang, cởi bỏ, điều chỉnh như thế nào là đúng cách ? Phương pháp bảo
dưỡng, giữ gìn PTBVCN ra sao? Giới hạn sử dụng của PTBVCN? Biết được
khi nào cần loại bỏ PTBVCN…

12


- Phải cấp phát PTBVCN có công dụng bảo vệ phù hợp.Trước khi cấp phát
phải kiểm tra lại chất lượng, đồng thời phải định kỳ kiểm tra trong quá trình
NLĐ sử dụng và ghi sổ theo dõi các PTBVCN chuyên dùng có yêu cầu an toàn
cao ...
- Phải bố trí nơi cất giữ, bảo quản hợp lý.
- NSDLĐ không được cấp phát tiền thay hiện vật hoặc giao tiền cho NLĐ tự
mua sắm PTBVCN…
PTBVCN có thực sự trở thành giải pháp hiệu quả bảo vệ sức khoẻ và an toàn
trong lao động phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện trách nhiệm của NSDLĐ
theo quy định của Nhà nước.
Cũng cần thấy rằng khi NLĐ mang PTBVCN thì ít nhiều cũng gây cảm giác
không bình thường, thậm chí khó chịu vì vậy NSDLĐ cần có biện pháp tuyên
truyền giáo dục kết hợp hình thức hành chính cần thiết khác để NLĐ tự giác

-Tuy vậy, việc quy định các chế tài xử lý vi phạm PTBVCN còn chưa rõ ràng.
Nhà nước nên có các văn bản xử lý những doanh nghiệp, NSDLĐ cũng như
NLĐ nếu có bất cứ vi phạm về trang bị PTBVCN trong quá trình lao động,
khai thác. Nhà nước cũng cần xây dựng tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng
PTBVCN. Yêu cầu các doanh nghiệp khai khoáng phải khai thác theo đúng
yêu cầu đã quy định.
-Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện trang bị PTBVCN tại các doanh nghiệp. Có
cơ chế quản lý thị trường về hàng giả, không đảm bảo chất lượng.
3.2 Kiến nghị, đề xuất:
Để giảm thiểu TNLĐ, bảo vệ sức khỏe người lao động, tiết kiệm thời gian và
chi phí điều trị do TNLĐ, BNN gây ra; cần triển khai đồng bộ các biện pháp
như sau: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về AT, VSLĐ nhằm nâng
cao trách nhiệm của các đơn vị, cơ sở khai thác khoáng sản và người lao động
để mọi người có ý thức cảnh giác và phòng ngừa tai nạn.
-Các cơ quan quản lý nhà nước, cùng các ban ngành chức năng cần có sự phối
hợp chặt chẽ trong công tác thanh kiểm tra việc thực hiện các quy định của
Nhà nước về việc trang bị PTBVCN ở tất cả các cơ quan, doanh nghiệp thuộc
ngành khai khoáng, siết chặt các yêu cầu về việc sử dụng các trang thiết bị đảm
bảo an toàn, đúng trong danh mục nghề.
-Đối với doanh nghiệp, phải lấy biện pháp phòng ngừa là chính, tăng cường
công tác tự kiểm tra, kịp thời khắc phục những nguy cơ mất an toàn lao động,
14


đồng thời tổ chức tốt công tác trang bị PTBVCN cho người lao động. Hằng
năm, các cơ quan, doanh nghiệp cần nghiêm túc thực hiện các chương trình tập
huấn hướng dẫn sử dụng các trang thiết bị PTBVCN; để người lao động hiểu
hết công dụng, và biết cách sử dụng phương tiện đó. Người sử dụng lao động
cần phải nâng cao trách nhiệm của mình trong việc mua bán, sử dụng các trang
thiết bị PTBVCN trong doanh nghiệp mình, đảm bảo an toàn đúng theo quy

Có thể thấy rằng, việc sử dụng PTBVCN hiện nay tại các doanh nghiệp khai
khoáng vẫn chưa hiệu quả, TNLĐ vẫn xảy ra - BNN vẫn tăng với tỷ lệ đáng
kể, đòi hỏi Nhà nước – các cơ quan quản lý phải có chế tài xử lý việc sử dụng
cũng như đưa ra các chỉ tiêu, tiêu chuấn chất lượng nhằm đảm bảo việc sản
xuất khai thác có hiệu quả và đảm bảo an toàn khi đưa vào sử dụng.

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Việt Dũng. Thông báo tình hình tai nạn lao động năm 2015 // Bộ Lao Động –
Thương Binh và Xã Hội. Cục An toàn Lao động. 2016
( )
2.Liên Trang. "Siết" an toàn lao động trong khai thác khoáng sản // Kinh tế và
Dự báo. 2015
( )
3.Văn phòng Tổng cục. Khai thác khoáng sản: Doanh nghiệp thờ ơ với tiêu
chuẩn an toàn lao động // Tổng cục địa chất và khoáng sản Việt Nam. 2015
( />%C3%A1c-kho%C3%A1ng-s%E1%BA%A3n-doanh-nghi%E1%BB%87p-th
%E1%BB%9D-%C6%A1-v%E1%BB%9Bi-ti%C3%AAu-chu%E1%BA
%A9n-an-to%C3%A0n-lao-%C4%91%E1%BB
%99ng&Itemid=357&lang=vi )
4.HTT. ATVSLĐ
trong các ngành có nguy cơ cao ở Việt Nam // Báo Giao thông. 2013
( )
5. Gia tăng nghiêm trọng tai nạn lao động trong các ngành có nguy cơ cao //
website Phòng chống bệnh nghề nghiệp. 2014
(:8086/pcbenhnghenghiep/pages/tintuc.aspx?
CateID=9&ItemID=799 )
6. An toàn và vệ sinh lao động trong ngành công nghiệp khai thác khoáng sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status