Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này - Pdf 40

ĐỀ SỐ 2
Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này

Mục lục
Mở đầu
I. Những vấn đề lý luận về nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc
1.2 Khái niệm
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc
II. Nội dung các qui định của pháp luật Việt Nam về nguyên tấc thẩm phán và
hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân
sự
2.1 Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập
2.1.1 khi xét xử TP và HTND độc lập với yếu tố bên ngoài.
2.1.2 Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩn nhân dân độc lập với nhau.
2.2 Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật.
2.3 Mối quan hệ giữa độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân
sự.
III. Các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật
3.2 Những bất cập trong qui định của pháp luật
3.3 Một số giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội
thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

1




ta hiện này theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Đây cũng chính là cơ sở lý luận của nguyên tắc độc lập xét xử của TA.
Thứ hai, xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà TA thực hiện. TA là cơ
quan thực hiện hoạt động tư pháp - hoạt động nhân danh công lý và dựa vào công
lý thì TA phải xét xử như một người đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào
bên nào, chỉ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật thì TA mới tồn tại đúng với bản
chất của mình là một cơ quan bảo vệ công lý.
Thứ ba, xuất phát từ chế độ dân chủ nhân nhân ở nước ta. Việc xét xử của TA có
HTND tham gia đã được hiến pháp và pháp luật qui định, đó là một trong những
nguyên tắc hể hiện rõ tư tương “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ
dân chủ Xã hội chủ nghĩa. Pháp luật giao trọng trách cho HTND thay mặt nhân dân
tham gia xét xử, giám sát, chế ước, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của TA, bảo
vệ công lý, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Giúp cho việc xét xử của TA được
rõ ràng, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được nguyện vọng
chính đáng của nhân dân.
1.2 Khái niệm
Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật thể hiện tư tưởng pháp lý khi xét xử các vụ án dân sự TP và HTND tự mình
quyết định và tự chịu trách nhiêm về bản án và quyết định của mình mà không phụ
thuộc vào quan điểm, ý kiến của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào, không bị chi
phối bởi ý kiến của nhau và chỉ căn cứ và các qui định của pháp luật để xem xét và
quyết định từng vấn đề của vụ án.
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật
3


thứ nhất, nguyên tắc TP và HTND độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nền tảng

chính còn TA cấp dưới vẫn có toàn quyền quyết định đối với những vụ việc thuộc
thẩm quyền của mình. Pháp luật qui định nguyên tấc TP và HTND xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật để đảm bảo cho TP và HTND thực hiện quyền tự quyết
của mình khi xét xử. Đồng thời buộc họ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân
về tính đúng đắng, hợp pháp đối với các quyết định của mình khi giải quyết vụ án.
Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam về mặt nguyên tắc không làm ảnh
hưởng đến tính độc lập của TP và HTND. Nguyên tắc TP và HTND xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luâtj trong mối quan hệ với cấp ủy đảng thể hiện ở việc đảng
lãnh đạo chặt chẽ các cơ quan tư pháp về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cán bộ
nhưng đảng không can thiệp vào hoạt động xét xử từng vụ án cụ thể của TA.
Trong quá trình xét xử TP và HTND không chỉ độc lập với các cơ quan Nhà nước
mà còn độc lập với các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, luật sự và những người tham gia tố tụng
khác. Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của quan hệ dân sự là dựa trên sự thỏa
thuận giữa các bên nên trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, TA luôn tôn
trọng quyền tự định đoạt của đương sự.
Ngoài ra, trong quá trình xét xử, TP và HTND còn độc lập với các cơ quan báo
chí và dư luận xã hội.
2.1.2 Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩn nhân dân độc lập với nhau
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì theo qui định tại điều 42 BLTTDS thì HTND
có quyền nghiên cứu hồ sợ trước khi mở phiên tòa để biết được nội dung cũng như
những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án. mối quan hệ giữa TP và HTND
trong giai đoạn này mang tính chất hỗ trợ nhau, nhưng vẫn phai có sự độc lập trong
nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm tra, đánh giá các tài liệu chứng cứ làm cơ sở cho việc
giải quyết yêu cầu của đương sự.

5


Tại phiên tòa tính độc lập giữa TP và HTND càng được thể hiện rõ hơn. Tất cả

độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, độc lập là
điều kiện tiên quyết để TP và HTND chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử, và ngược
lại, chỉ tuân theo pháp luật là cơ sở cần thiết để TP và HTND được độc lập khi xét
xử. Mối quan hệ này là mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Nếu chỉ độc lập mà không
tuân theo pháp luật thì sẽ dẫn đến sự tùy tiện, độc đoán, chủ quan, duy ý chí khi xét
xử, Còn nếu chỉ tuân theo pháp luật mà không được độc lập thì có thể dẫn tới sự
can thiệp trái phép từ phía các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào hoạt động xét xử của
tòa án, làm mất đi tính độc lập của TP và HTND.

III. Các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc thẩm phán và
hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
3.1 thực tiễn thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật
Ghi nhận vai trò của HTND trong công tác xét xử của ngành TA trong những năm
qua. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một số nơi, việc tham gia xét
xử của HTND vẫn mang nặng tính hình thức. Thực tế nhiều HTND chưa phát huy
được hết vai trò, trách nhiệm mà pháp luật qui định, cũng như sự kì vọng của nhân
dân đối với họ. Do trình độ chuyên môn và năng lực giữa TP và HTND còn một
khoảng cách khá xa nên việc thực hiện nguyên tắc trong xét xử còn mang tính
tượng trưng, hình thức..
3.2 Những bất cập trong qui định của pháp luật
Về hệ thống pháp luật: hiện nay, thủ tục TTDS ở nước ta là thủ tục xét hỏi. Thực
tiễn ở Việt Nam cho thấy thủ tục này đã làm cho TA có xu hướng lệ thuộc vào hồ

7


sơ vụ án, các giai đoạn tố tụng diễn ra một cách khép kín, các bên đương sự và luật
sư không phát huy được hết vai trò của mình với tư cách là những người tham gia
tố tụng. Để khắc phục tình trạng nêu trên và đảm bảo tính độc lập của TA cân đổi

Thứ ba, đổi mới chế định HTND theo hướng qui định cụ thể tiêu chuẩn của
HTND, việc phân công, quản lý HTND tham gia việc xét xử, việc tổ chức đoàn
HTND giống như một số tổ chức xã hội – nghề nghiệp, có kinh phí hoạt động tien
mà không chịu sự quản lý của Chánh án TAND cùng cấp. Bên cạnh đó, phải nâng
chế độ đãi ngộ vậy chất đối với HTND khi tham gia phiên tòa, tạo động lực cho họ
thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử của mình. Đồng thời, để HTND thực sự độc lập với
TP trong quá trình tố tụng cũng rất cần có những giải pháp nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn và kỹ năng xét xử cho các HTND.
Thứ ba, tăng cường vai trò giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội, của Hội
đồng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Đồng thời, nâng cao chất
lượng hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền,
cung cấp thông tin về hoạt động xét xử.
Thứ tư, hoàn thiện các qui định của pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự theo hướng
chuyển từ thủ tục xét hỏi sang thủ tục tranh tụng để vừa đảm bảo được sự bình
đẳng, vô tư, khách quan trong quá trình tố tụng, vừa đảm bảo cho các TP và HTND
được độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử.

Kết thúc
Nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
là một nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự. Việc
ghi nhận và bảo đảm thực hiện nguyên tắc này là một bảo đảm quan trọng trong
việc Tòa án giải quyết đúng đắn và khách quan trong các vụ việc dân sự.

9


Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
2. Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, trường Đại học luật Hà Nội – NXB Tư
Pháp.

Mục lục
Mở đầu
I. Những vấn đề lý luận về nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc
1.2 Khái niệm
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc
II. Nội dung các qui định của pháp luật Việt Nam về nguyên tấc thẩm phán và
hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân
sự
2.1 Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập
2.1.1 khi xét xử TP và HTND độc lập với yếu tố bên ngoài.
2.1.2 Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩn nhân dân độc lập với nhau.
2.2 Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật.
2.3 Mối quan hệ giữa độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân
sự.
III. Các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật
3.2 Những bất cập trong qui định của pháp luật
3.3 Một số giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội
thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

11


Kết bài

12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status