NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN DU LỊCH TẠI HUẾ CỦA KHÁCH DU LỊCH LƯU TRÚ TẠI ANA MANDARA HUẾ - Pdf 40

Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

PHẦN MỘT
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.

Lý do chọn đề tài.
Ana Mandara Resort & Spa Huế được thành lập trong thời gian gần đây. Khách

hàng đến đây sẽ được cung cấp đầy đủ các dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng. Đối
tượng khách hàng của Ana Mandara là những khách hàng có thu nhập cao bao gồm
khách du lịch trong nước cũng như nước ngoài.
Đối với bất cứ các ngành nghề kinh doanh nào thì việc hiểu rõ hành vi khách
hàng trong việc quyết định sử dụng sản phầm, dịch vụ của doanh nghiệp là rất quan
trọng. Điều này càng đặc biệt quan trọng hơn đối với các nghành dịch vụ nhất là du
lịch – khi mà rất khó để cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ có thể thông tin cho
khách hàng tất cả các đặc tính của sản phẩm dịch vụ du lịch của mình. Do đó, các nhà
marketing cần phải nắm bắt được rõ ràng hành vi của khách hàng trong việc đưa ra
quyết định lựa chọn các dịch vụ du lịch, để có những chính sách thu hút được sự quan
tâm của khách hàng.
Theo Ajzen thì ý định là tiền đề dự báo trước sự thực hiện hành vi của khách
hàng. Việc hiểu rõ các yếu tố cấu thành nên ý định của một cá nhân về việc thực hiện
hành vi có thể giúp nhà nghiên cứu có thể dự đoán được xu hướng thực hiện hành vi
đó. Điều này rất quan trọng trong thực tiễn của thị trường. Quá trình quyết định mua là
quá trình mà khách hàng cân nhắc là chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Do
đó cần phải xem xét nhiều nhân tố nhằm xác định xem những yếu tố nào có ảnh hưởng
đến sự quyết định của khách hàng.
Khách hàng đến với Ana Mandara Huế không chỉ vì muốn cư trú tại khu nghỉ
dưỡng này mà còn muốn có cơ hội tham quan các địa điểm du lịch tại Huế. Sự lựa

3.

Phạm vi nghiên cứu.

Về nội dung: đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn địa
điểm du lịch.
Về không gian: đối tượng điều tra được giới hạn trong phạm vi khách hàng đang
cư trú tại khu nghĩ dưỡng Ana Mandara Huế đề phù hợp với khả năng và nguồn lực.
Về thời gian: thời gian tiến hành nghiên cứu kéo dài trong 2 tháng – tháng 4 và
tháng 5 năm 2012.
4.

Phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu, nhằm thực hiện được đề tài phương pháp nghiên cứu
kết hợp phương pháp định tính và định lượng được lựa chọn. Các kết quả nghiên cứu
có được dựa vào việc phân tích các dữ liệu thu thập được, bao gồm cả dữ liệu thứ cấp
và dữ liệu sơ cấp.
Nghiên cứu định tính: được sử dụng trong thời gian đầu khi tiến hành đề tài
nghiên cứu. Các bước nghiên cứu định tính được sử dụng là việc tìm kiếm các dữ liệu
thứ cấp sẵn có có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu. Ngoài ra, các cuộc phỏng vấn
chuyên gia về lĩnh vực du lịch và nghiên cứu khách hàng sẽ cung cấp những thông tin
hữu ích trong việc triển khai các mô hình nghiên cứu vào thực tiễn. Trong quá trình
xây dựng phiếu phỏng vấn, phương pháp nghiên cứu định tính Delphi được áp dụng đề

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 2



Trang 3


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

PHẦN HAI
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm về du lịch và khách du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch:
Ngày nay, nhu cầu đi du lịch đã trở thành một xu hướng chung của người dân
không chỉ ở các nước phát triển mà ở cả những nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam. Tuy nhiên, từ những góc độ tiếp cận khác nhau thì mỗi tổ chức, mỗi quốc gia lại
có những định nghĩa khác nhau về du lịch.
Theo Liên hiệp quốc các tổ chức lữ hành quốc tế (International Union of Official
Travel Organization), du lịch được hiểu là một hoạt động du hành đến một địa điểm
khác với nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức
không phải để làm một nghề, hay một việc kiếm tiền sinh sống.
Tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Du lịch họp ở Roma (Italy) vào năm 1963, các
chuyên gia đã đưa ra định nghĩa sau về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ,
hiện tượng, và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của
cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với
mục đích hoà bình. Và nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Theo tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), thì “Du lịch bao gồm những hoạt
động của con người đi đến và lưu trú tại một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi
ở thường xuyên) của họ trong thời gian liên tục không quá một năm nhằm mục đích
nghỉ ngơi, kinh doanh, và các mục đích khác.”

những đặc điểm sau:
- Đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình.
- Không đi du lịch với mục đích làm kinh tế.
- Đi khỏi nơi cư trú từ 24h trở lên.
- Khoảng cách tối thiểu từ nơi ở đến các điểm du lịch là khoảng 30, 40, 50…
dặm theo theo quan niệm hay quy định của từng nước.
1.1.2.2. Phân loại:
• Khách du lịch quốc tế:
Năm 1963 tại Hội nghị của Liên hiệp quốc về Du lịch tại Rome, Uỷ ban thống
kê của Liên Hiệp Quốc đã định nghĩa như sau: “Khách du lịch quốc tế là người thăm
viếng một nước khác ngoài nước cư trú của mình với bất kì lý do nào ngoài mục đích
hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm.”
Năm 1989, “Tuyên bố Lahaye về du lịch” của Hội nghị liên minh Quốc tế về
Du lịch: “Khách du lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm, ghé thăm một
quốc gia khác quốc gia cư trú thường xuyên với mục đích tham quan, giải trí, thăm
viếng, nghỉ ngơi với thời gian không quá ba tháng, nếu trên ba tháng phải có giấy
phép gia hạn và không được làm bất cứ việc gì để nhận thù lao do ý muốn của khách

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 5


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

hoặc là do ý muốn của nước sở tại. Sau khi kết thúc chuyến đi phải trở về nước của
mình, rời khỏi nước sở tại, hoặc đến một nước thứ ba.”

Lớp k42 Marketing

Trang 6


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

đối tượng là giảng viên ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn dịch vụ tiết kiệm tại
ngân hàng. Khách hàng lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ để duy trì hay là thay đổi lối
sống đó. Sự kết hợp của một kiểu sống cụ thể, những thái độ và những tác động tình
huống sẽ giúp kích hoạt quá trình quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng.
1.2.2. Mô hình quyết định mua của khách hàng
Theo Trần Minh Đạo, hành vi mua của khách hàng là toàn bộ hành động mà
người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá cho
hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Cũng có thể nói hành vi người
tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra các quyết định sử
dụng tài sản của mình liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm
thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Để có một giao dịch, người mua cần phải trải qua quá trình gồm 5 giai đoạn:
nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và
hành vi sau khi mua.
Nhận biết
nhu cầu

Tìm kiếm
thông tin

Đánh giá các

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

thôi thúc; khối lượng thông tin mà người tiêu dùng đã có, tình trạng của việc cung cấp
các thông tin bổ sung…
Khi tìm kiếm thông tin dịch vụ bổ sung liên quan đến sản phẩm, dịch vụ, người
tiêu dùng có thể sử dụng những nguồn thông tin cơ bản sau:
 Nguồn thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, người quen…
 Nguồn thông tin thương mại: quảng cáo, người bán hàng, hội chợ, triển
lãm, bao bì, thương hiệu…
 Nguồn thông tin đại chúng: các phương tiện truyền thông; dư luận …
 Kinh nghiệm: khảo sát trực tiếp, dùng thử; qua tiêu dùng.
Mức độ ảnh hưởng của những nguồn thông tin này thay đổi tùy theo loại sản
phẩm và đặc tính của khách hàng.
Đánh giá các khả năng thay thế
Giai đoạn tiếp theo của quá trình quyết định mua, người tiêu dùng sẽ xử lý các
thông tin để đánh giá các thương hiệu có khả năng thay thế nhau, nhằm tìm kiếm được
thương hiệu theo nào là hấp dẫn nhất.
Quyết định mua
Kết thúc gia đoạn đánh giá các phương án, người tiêu dùng có một “bộ nhãn hiệu
lựa chọn” được sắp xếp theo thứ tự trong ý định mua. Những sản phẩm, thương hiệu
được người tiêu dùng ưa chuộng nhất chắc chắn có cơ hội tiêu thụ lớn nhất. Song ý
định mua chưa phải là chỉ báo đáng tin cậy cho quyết định mua cuối cùng. Từ ý định
mua đến quyết định mua thực tế, người tiêu dùng cò phải chịu sự chi phối của rất
nhiều yếu tố kìm hãm
Thái độ của người khác
(Gia đình, bạn bè, dư luận…)
Ý
định
mua


để thỏa mãn nó. Động cơ là động lực gây sức ép, thúc đẩy con người hành động để
thoả mãn một nhu cầu hay ước muốn nào đó về vất chất hoặc về tinh thần hoặc cả hai.
Nắm bắt được động cơ của người tiêu dùng đồng nghĩa với nắm bắt được cái thực sự
họ tìm mua và muốn thỏa mãn nhu cầu nào.
1.3.2 Nhận thức
Động cơ thúc đẩy con người hành động. Song hành động của con người diễn ra
như thế nào lại phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức. Nhận thức là quá trình con người
chọn lọc, tổ chức và lý giải thông tin để hình thành một bức tranh có ý nghĩa về thế
giới xung quanh.
Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào đặc tính của tác nhân kích thích mà còn tùy
thuộc vào mối tương quan giữa tác nhân kích thích với môi trường xung quanh và bản
thân chủ thể. Con người có thể nhận thức khác nhau về cùng một đối tượng.
1.3.4 Sự hiểu biết (kinh nghiệm)
Sự hiểu biết (kinh nghiệm) của con người là trình độ của họ về cuộc sống. Đó là
những kết quả tương tác của động cơ các vật kích thích; những gợi ý; sự đáp lại và
củng cố. Sự hiểu biết (kinh nghiệm) mà mỗi con người có được là do học hỏi và sự
từng trải. Phần lớn hành vi của con người có sự chỉ đạo của kinh nghiệm. Sự hiểu biết
(kinh nghiệm) giúp con người có khả năng khái quát hóa và phân biệt khi tiếp xúc với
các vật kích thích (các hàng hóa và dịch vụ).

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 9


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm


hành vi

Hành vi
thực sự

Chuẩn
chủ
quan

Sơ đồ 3: Mô hình TRA
(Nguồn: Schiffman và Kanuk, Consumer behavior, Prentice – Hall International
Editions, 3rd ed, 1987)

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 10


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

Yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý định hành
vi. Ý định bị tác động bởi thái độ và chuẩn chủ quan.
Thái độ và chuẩn chủ quan: Thái độ là những niềm tin về kết quả của người mua
đối với thuộc tính sản phẩm là tích cực hay tiêu cực khi thực hiện hành vi đó. Do đó
khi xét đến yếu tố thái độ của người mua phải xem xét trên cơ sở niềm tin của họ đối
với thuộc tính sản phẩm là tích cực hay tiêu cực và có quan trọng hay không quan
trọng đối với bản thân họ và thứ hai là trên cơ sở họ đánh giá thế nào về kết quả khi

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

1.4.2 Thuyết hành vi kiểm soát cảm nhận (Theory of Perceived Behaviour
- TPB)
Niềm tin và
sự đánh giá

Thái độ

Niềm tin quy chuẩn
và động cơ

Quy chuẩn
chủ quan

Niềm tin kiểm soát
và sự dễ sử dụng

Hành vi kiểm
soát cảm nhận

Ý định
hành vi

Sơ đồ 4: Mô hình TPB
(Nguồn : Ajzen,1991 )
Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của TRA bằng cách thêm vào một biến nữa
là hành vi kiểm soát cảm nhận. Nó đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một người
để thực hiện một công việc bất kỳ. Mô hình TPB được xem như là tối ưu hơn đối với
TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội


Ý định

Thói quen sử
dụng hệ thống

Sự dễ sử dụng
cảm nhận
Sơ đồ 5: Mô hình TAM
(Nguồn: Fred David, 1989 )
Mô hình TAM chuyên sử dụng để giải thích và dự đoán về sự chấp nhận và sử
dụng một công nghệ. Hai yếu tố cơ bản của mô hình là sự hữu ích cảm nhận và sự dễ
sử dụng cảm nhận. Sự hữu ích cảm nhận là “mức độ để một người tin rằng sử dụng hệ
thống đặc thù sẽ nâng cao thực hiện công việc của chính họ”. Sự dễ sử dụng cảm nhận
là “mức độ mà một người tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù mà không cần sự nỗ lực”.
1.4.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất.
Qua các cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho đề tài nghiên cứu, ta thấy được rằng,
trước khi đưa ra một quyết định lựa chọn một dịch vụ sản phẩm thì khách hàng đã phải
trải qua các giai đoạn – nhận thức nhu cầu, tìm kiếm thông tin và đánh giá các phương
án lựa chọn. Như vậy, quyết định lựa chọn cuối cùng của khách hàng chịu sự ảnh
hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau và kéo dài trong một thời gian nhất định. Điều
này rất quan trọng đối với các nhà quản trị bởi vì nếu như các nhà quản trị biết được
những nhân tố nào tác động đến quyết định lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của khách
hàng mục tiêu của mình thì họ sẽ đưa ra những chiến lược nhằm tác động và điều
chỉnh những nhân tố đó. Cuối cùng, các nhân tố đó sẽ tác động lại đến sự lựa chọn của
khách hàng. Yếu tố này sẽ giúp cho các hoạt động quảng bá, xúc tiến của doanh
nghiệp đạt được hiệu quả cao nhất.
Cụ thể đối với đề tài nghiên cứu này, đối tượng được nghiên cứu ở đây đó là sự
lựa chọn du lịch tại Huế, đây là một giai đoạn mà khách du lịch cân nhắc lựa chọn và
SVTH Đặng Quang Tuyên

du lịch kể cả nhà cung cấp lẫn khách du lịch. Vì thế mà cần phải cân nhắc các yếu tố
bên ngoài và sự tác động của nó chúng đến khách du lịch khi tiến hành điều tra, nghiên
cứu. Do đó, nên áp dụng Thuyết Hành vi hoạch định vào đề tài nghiên cứu nhằm hạn
chế được những khuyết điểm của Thuyết Hành động hợp lý trong việc giải thích hành
vi của khách hàng. Nhờ đó mà đề tài nghiên cứu có tính thực tiễn cao hơn.

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 14


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

Niềm tin vào các lợi ích

Sự đánh giá các lợi ích

Niềm tin về những người ảnh hưởng
Sự lựa chọn du lịch tại Huế
Sự thúc đẩy làm theo

Niềm tin kiểm soát

Sự ảnh hưởng của niềm tin kiểm soát
Sơ đồ 6: Mô hình nghiên cứu đề xuất
1.5 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu bao gồm thiết kế thang đo, phương pháp chọn mẫu và thu

sự ảnh hưởng từ phía bên ngoài đến quyết định lựa chọn du lịch tại Huế của đối tượng
du khách và khả năng kiểm soát hành vi của bản thân người được phỏng vấn.
Thang đo về Đánh giá chung: thang đo này cũng gồm 3 biến quan sát là những
biến quan sát đánh giá chung về Thái độ, Chuẩn chủ quan và Hành vi kiểm soát cảm
nhận của đối tượng
1.5.2 Phương pháp chọn mẫu và thu thập thông tin.
Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là phương pháp chọn mẫu phân tầng phi tỷ
lệ và tổng thể điều tra sẽ được phân chia ra thành khách trong nước và khách nước
ngoài (nghĩa là khách du lịch có quốc tịch Việt Nam và khách du lịch có quốc tịch các
nước khác). Như vậy, tổng thể điều tra được chia thành 2 nhóm đó là khách trong nước
và khách nước ngoài. Tuy nhiên nếu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng tỷ lệ
thì số lượng khách du lịch trong nước không đủ tính đại diện. Vì với kích cỡ mẫu là 97
và tỷ lệ khách Việt Nam là 20% thì số du khách Việt Nam được phỏng vấn là 20
người. Do đó, để đảm bảo tính đại diện nên phương pháp chọn mẫu được áp dụng ở
đây là phương pháp chọn mẫu phân tầng phi tỷ lệ với số lượng khách du lịch trong
nước được điều tra là 30 và còn lại là du khách nước ngoài. Thời điểm tiến hành phỏng
vấn là trước khi khách du lịch chuẩn bị làm thủ tục trả phòng. Và theo danh sách tổng
thể thì trong thời gian điều tra phỏng vấn từ ngày 19 tháng 3 cho đế nngày 7 tháng 4
năm 2012 có 243 phòng sẽ làm thủ tục trả phòng. Sau đó, từ danh sách tổng thể, các
đối tượng điều tra được đưa vào mẫu theo phương pháp chọn mẫu hệ thống với bước
nhảy k là: k = N/n = 243/110=2,2. Như vậy, cứ mỗi hai khách du lịch đến quầy lễ tân
làm thủ tục trả phòng thì phỏng vấn một người.
Thời gian tiến hành điều tra là từ ngày 19 tháng 3 cho đến ngày 7 tháng 4 năm
2012. Trong thời gian này, lượng khách du lịch đến lưu trú tại Ana Mandara Huế là

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 16


cho quá trình xây dựng và điều chỉnh thang đo hợp lý.
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu được thu thập thông qua các phiếu phỏng vấn hợp lệ
qua các cuộc điều tra. Quá trình điều tra sẽ bao gồm việc phỏng vấn thử một số đối
tượng để có thể điều chỉnh phiếu phỏng vấn trước khi tiến hành điều tra chính thức.
Điều tra phỏng vấn thử dự kiến sẽ được thực hiện với kích cỡ mẫu là 30 khách hàng

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 17


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Phỏng vấn một số đối tượng khách du lịch để
có được các thông tin chung, cần thiết cho việc xây dựng phiếu điều tra và hoàn thiện
phiếu điều tra. Phiếu điều tra hoàn chỉnh sẽ được điều tra thử với quy mô mẫu là 30
trước khi tiến hành điều tra chính thức, nhằm kiểm tra độ tin cậy của phiếu điều tra và
kiểm tra các sai sót. Cuộc điều tra chính thức sẽ được thực hiện sau khi phiếu phỏng
vấn đã được hoàn chỉnh từ việc điều tra thử.
Dữ liệu thu thập được sẽ được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản
13. Và sau đó dữ liệu thu được sẽ được dùng để phân tích để trả lời những mục tiêu và
câu hỏi nghiên cứu ban đầu. Những phương pháp phân tích được áp dụng là các
phương pháp thống kê mô tả tìm ra các đặc điểm của đối tượng điều tra và phân loại
các đối tượng điều tra. Sau đó, tiến hành phân tích nhân tố khám phá nhằm tìm ra các
nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn du lịch tại Huế của khách du lịch đang lưu trú tại
Huế. Tiếp theo đó, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó được đo lường thông qua
phân tích hồi quy bội. Và các phép kiểm định sâu nhằm nhận ra sự khách biệt của các

- Điều chỉnh bảng hỏi lần 2
Tiến hành xây dựng
bảng hỏi hoàn chỉnh
- Điều tra chính thức với mẫu có kích thước là
110 khách lưu trú tại Ana Mandara Huế
- Thu thập bảng hỏi, nhập dữ liệu bằng phần
mềm SPSS.
Phân tích dữ liệu
- Tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA)
- Tiến hành các kiểm định cần thiết để đưa ra
kết luận, trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Báo cáo

Sơ đồ 7: Quy trình nghiên cứu

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 19


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

1.6 Tổng quan về tình hình du lịch tại Huế
Trong những năm gần đây, du lịch được xem là một trọng tâm và được đầu tư để
trở thành ngành mũi nhọn của thành phố Thừa Thiên Huế. Và cũng có thể thấy được
những nỗ lực của tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc quảng bá hình ảnh của Huế - một
thành phố du lịch đến bạn bè khắp nơi trong và ngoài nước. Khi nhắc đến Huế, suy

Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

sản miền Trung: Phong Nha - Cố đô Huế - Hội An - Mỹ Sơn. Nhiều năm liền, Thừa
Thiên Huế được bình chọn là một trong năm điểm đến hấp dẫn nhất của Việt Nam.”
Với những lợi thế đó thì lượng khách du lịch đến Huế trong những năm gần đây
không ngừng tăng lên đồng nghĩa với việc sức hút của Huế đối với khách du lịch đang
gia tăng và càng ngày càng có nhiều người chú ý hơn đối với thành phố Huế.
Bảng 1: Tổng lượt khách đến Huế từ năm 2009 đến năm 2011
CHỈ TIÊU
Tổng lượt khách
quốc tế đến Huế

2009

2010

2011

601.113

612.463

653.586

2010/2009
±
%
11.350

Lớp k42 Marketing

Trang 21


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

Chương 2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SỰ LỰA CHỌN DU LỊCH TẠI HUẾ CỦA KHÁCH DU LỊCH LƯU TRÚ
TẠI ANA MANDARA HUẾ
2.1. Giới thiệu về khu nghỉ Ana Mandara Huế - Resort & Spa
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế
Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
lần đầu ngày 06 tháng 05 năm 2010. Với vốn đầu tư ban đầu là 80 tỷ đồng, trong đó
hơn 80% vốn đầu tư thuộc bộ phận tài sản cố định. Doanh thu của Ana Mandara Huế
năm 2011 đạt 25 tỷ đồng.

Tên gọi đầy đủ: Chi nhánh Công ty Cổ phần Thuận An - Ana Mandara Huế
Resort & Spa.
Địa chỉ: Thôn An Hải, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Điện thoại: 054.3983333

Fax: 054.3971111

Ngành nghề kinh doanh:
- Kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí, du lịch, thể thao (Không bao gồm kinh
doanh hoạt động Karaoke, vũ trường)
- Đầu tư dịch vụ khách sạn, nhà hàng, khu du lịch.

đường, tọa lạc trên diện tích 2,8 ha, chạy dài trên 400m uốn lượn trên bờ biển Thuận
An. Khu nghỉ mát hiện có 78 phòng nghỉ, bao gồm biệt thự hướng biển (Beach Villa),
biệt thự hướng biển có hồ bơi riêng (Pool Villa), biệt thự liền kề dành cho gia đình với
các phòng cao cấp (Duplex và Deluxe), thiết kế ấn tượng, nội thất hiện đại.
Ana Mandara Huế là dự án đầu tiên tại Huế thuộc Công ty tuyển tập Khách sạn
Đông Dương (Hotel Collection Indochine - HCI), là một trong những nhà quản lý
resort, khách sạn chuyên nghiệp hàng đầu trên thế giới và tại Việt Nam.
2.1.2. Các lĩnh vực kinh doanh của khu nghỉ mát Ana Mandara Huế
 Hoạt động kinh doanh lưu trú: Với hệ thống 78 phòng nghỉ sang trọng, tiện
nghi tạo cho du khách cảm giác thoải mái như đang ở nhà. Bao gồm các loại phòng
như sau:
Bảng 2: Các loại phòng của Ana Mandara Huế
Loại phòng
Pool Villa
Beach Villa
Duplex
Deluxe
Tổng cộng

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Số lượng (phòng)
4
20
6
48
78
(Nguồn: Phòng lễ tân khu nghỉ mát)


Sky Terrace: Đây là không gian đặc trưng và ấn tượng khi quý khách đến với
Ana Mandara Huế. Tại đây quý khách có thể chiêm ngưỡng trọn vẹn vẻ đẹp đằm thắm
của bãi biển Thuận An hoặc cũng có thể tĩnh tại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của buổi
bình minh và hoàng hôn trên biển đầy thơ mộng.
In Villa Dining: Là dịch vụ đặc biệt dành cho những khách hàng có nhu cầu
được thưởng thức những bữa ăn trong ngày ngay tại căn phòng sang trọng của mình
hay ở ngay trên bãi biển Thuận An tuyệt đẹp. Với dịch vụ này, quý khách sẽ có thêm

SVTH Đặng Quang Tuyên
Lớp k42 Marketing

Trang 24


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD ThS. Bùi Văn Chiêm

những trải nghiệm thú vị về một Ana Mandara Huế đầy chất thơ mộng.
 Hoạt động kinh doanh dịch vụ bổ sung
Dịch vụ Spa cao cấp: Với thiết kế hiện đại và hoàn toàn mới lạ sẽ đem lại cho du
khách những trải nghiệm thú vị. Khu Spa của Ana Mandara Huế được bố trí lần theo
những con đường rợp bóng cây xanh mát, với những bậc đá bao quanh hồ nước tuyệt
đẹp với những sala nổi theo kiểu Thái. Mỗi phòng spa đều mang âm hưởng của văn
hóa Ấn Độ để tận hưởng những dịch vụ Spa từ thiên nhiên độc đáo. Đặc biệt có liệu
pháp Ajurveda được đưa vào sử dụng tại nhiều Spa sang trọng trên thế giới. Ở Ana
Mandara liệu pháp này cùng các kỹ thuật massage hiệu quả sẽ giúp cơ thể được thanh
lọc hoàn toàn để sẵn sàng tiếp thu nguồn năng lượng mới. Ana Mandara sẽ đưa bạn
hòa mình vào không gian rộng mở của trời và biển, để tinh thần bạn thực sự thoát khỏi
cuộc sống bận rộn thường ngày và đón nhận tinh hoa mà thiên nhiên ban tặng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status