1
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTCK
CRO
DMĐT
ĐTCK
ERM
KDCK
KSNB
NHĐT
NHTM
PSSS
QLRR
TTCK
UBCKNN
VaR
VĐL
AGR
APG
APS
AVS
BSI
BVS
CTS
GBS
HBS
Công ty chứng khoán Golden Bridge VN
Công ty chứng khoán Hòa Bình
Công ty chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Công ty chứng khoán Hải Phòng
Công ty chứng khoán Đầu tư Việt nam
Công ty chứng khoán Kim Long
Công ty chứng khoán Phương Đông
Công ty chứng khoán Phú Hưng
Công ty chứng khoán Dầu khí
2
SBS
SHS
SME
SSI
SVS
TAS
VDS
VIG
VIX
VND
WSS
RR
RRHT
RRPHT
TS
2
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 13 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những
bước tiến vượt bậc và đã có lúc được đánh giá là một trong những thị trường có tốc
độ phát triển nhanh nhất thế giới; đặc biệt là mức độ, tỷ lệ và tốc độ tăng vốn hóa.
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường và nắm bắt cơ hội kinh doanh mới, nhiều công
ty chứng khoán đã được thành lập. Mười ba năm qua, từ chỗ chỉ có 4 công ty chứng
khoán khi thị trường đi vào hoạt động, tính đến 31/12/2012 UBCKNN đã cấp phép
hoạt động cho 105 công ty. Thông qua các hoạt động kinh doanh chính như môi
giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư, các công ty chứng khoán đã
góp phần nâng cao tính thanh khoản cho thị trường, thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước cho nền kinh tế và thúc đẩy thị trường phát triển.
Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của thị trường chứng khoán trong thời
gian qua, đặc biệt cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008, đã ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán Việt Nam. Nhiều yếu
kém của các công ty dần lộ diện: số lượng các công ty quá nhiều so với quy mô thị
trường, năng lực tài chính yếu kém, khả năng cạnh tranh chưa cao, công tác quản trị
công ty chưa hiệu quả … dẫn đến hiệu quả kinh doanh kém, thậm chí nhiều công ty
rơi vào tình trạng thua lỗ nhiều năm, mất khả năng thanh khoản và phải nằm trong
diện cảnh báo đặc biệt của UBCKNN.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên, song một trong những
nguyên nhân chính là do công tác quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các
công ty chứng khoán chưa tốt. Thực tế cho thấy hoạt động kinh doanh chứng khoán
là loại hình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro lớn do đối tượng kinh doanh liên quan trực
tiếp đến các loại chứng khoán có biến động giá mạnh và thường xuyên. Mặc dù vậy,
nhiều công ty chưa xác định đúng được tầm quan trọng của việc quản lý rủi ro đối
với hoạt động kinh doanh của mình; chưa xây dựng được một quy trình hợp lý cũng
như một bộ máy tổ chức chặt chẽ để quản lý được hết các rủi ro. Ở một vài công ty
việc quản lý rủi ro nếu có cũng chỉ mang tính hình thức hoặc dừng ở góc độ xử lý
6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Khái niệm quản lý rủi ro doanh nghiệp (Risk Management - ERM) chính
thức xuất hiện vào đầu những năm 1950 trên thế giới. Đến năm 1963, nghiên cứu của
Robert Mehr và Bob Hedges đã tạo ra một bước ngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu về
ERM bằng việc tổng kết các quan niệm trước đây về QLRR và đưa ra một định
nghĩa mới về vấn đề này. Theo Robert và Bob, ERM là một quy trình xem xét đánh
giá toàn diện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết những nguy
cơ tiềm ẩn có thể tác động xấu đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở
đó sẽ đưa ra các giải pháp ứng phó, phòng ngừa phù hợp tương ứng với từng nguy
cơ [81]. Trên nền tảng lý thuyết này, các nghiên cứu tiếp theo tập trung vào một số
vấn đề sau:
Thứ nhất, quản lý rủi ro được thực hiện như thế nào? Nghiên cứu của Clup
(2002) đã cụ thể hóa quy trình QLRR bao gồm các bước cơ bản: nhận diện rủi ro,
phân tích đánh giá rủi ro, phân loại xếp hạng, báo cáo rủi ro, xử lý rủi ro và giám sát
rủi ro. Nghiên cứu của Standard & Poor (2008) cho rằng một quy trình QLRR
doanh nghiệp không nhằm mục tiêu loại bỏ hết các rủi ro của doanh nghiệp hoặc
thay thế cho bộ phận kiểm soát nội bộ, thực chất QLRR được xây dựng nhằm đảm
bảo khẩu vị rủi ro của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu lợi nhuận đã đề ra.
Nghiên cứu của Lisa (2002) cũng đồng thuận với quan điểm này với khái niệm
QLRR tích hợp (Intergrated risk management), trong đó nhấn mạnh đến mối quan
hệ giữa mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp; cấu trúc vốn vốn và sử dụng các
công cụ tài chính để đạt được mục tiêu rủi ro [36, 64, 87].
Thứ hai, quản lý rủi ro có tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp? Lý
thuyết M&M về quản lý rủi ro cho thấy, trong điều kiện thị trường không có thuế,
không có chi phí giao dịch, thông tin luôn sẵn có cho mọi người và không phải tốn
phí thì các quyết định tài chính không làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Vì
vậy các doanh nghiệp không cần phải quản lý rủi ro. Trong những năm 1960, dựa
trên lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư của Markowitz (1952), Treynor (1961,
giảm thiểu mức biến động dòng lợi nhuận trước thuế, từ đó giảm thiểu mức thuế
suất phải nộp và gia tăng lợi nhuận kỳ vọng sau thuế miễn là chi phí QLRR không
phải quá lớn [86].
8
- Dựa trên việc phân loại các chi phí đại diện, nghiên cứu của Jensen &
Meckling cũng chứng minh mâu thuẫn lợi ích có thể giảm thiểu bằng ERM. Việc
xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên khẩu vị rủi ro của doanh nghiệp sẽ ngăn
ngừa nhà quản lý không thực hiện một dự án kinh doanh mà rủi ro cao hơn kỳ vọng.
ERM sẽ đảm bảo để lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp được xây dựng và thực
hiện theo khả năng chấp nhận rủi ro của cả nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp
(Stulz, 2002). Ngoài ra, ERM giúp tăng cường giám sát hoạt động của nhà quản lý
bằng cách thiết lập mối tương quan giữa kết quả hoạt động của doanh nghiệp, các
quyết định của nhà quản lý và chính sách lương thưởng; đánh giá hiệu quả quản lý
của các nhà quản lý chính xác hơn dựa trên mục tiêu lợi nhuận – rủi ro, từ đó hướng
mục tiêu quản lý doanh nghiệp theo lợi ích của các cổ đông hay chủ sở hữu thực sự
của doanh nghiệp (Breeden và Viswanathan, 1998; Degeorge, Moselle và
Zeckhauser, 1996; DeMarzo và Duffie, 1995; Ljungqvist, 1994; Stulz, 1996).
- ERM cũng có thể góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp thông qua việc
kết nối hiệu quả chính sách tài chính và chính sách đầu tư trong thị trường vốn
không hoàn hảo. Trên thực tế, một doanh nghiệp áp dụng các công cụ quản lý rủi ro
có thể đảm bảo dòng tiền ổn định cho phép theo đuổi kế hoạch đầu tư tối ưu là kết
quả nghiên cứu của Chidambaran và các cộng sự năm 2001; Copeland và Copeland,
1999; Froot , Scharfstein và Stein , 1993 -1994; Lewent và Kearney 1990; Mello và
Parsons, 1999 và 2000; Minton và Schrand,1999; Moore, Culver và Masterman ,
2000; Santomero, 1995.
- Smith và Stulz (1985) là những người đầu tiên nghiên cứu về tình trạng kiệt
quệ tài chính của doanh nghiệp đã kết luận rằng một doanh nghiệp rơi vào tình
(Kleffner và các cộng sự, 2003).
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng nếu phân loại các doanh nghiệp thực hiện
ERM theo chất lượng kiểm toán (dựa vào uy tín của công ty kiểm toán được thuê),
những doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty lớn có uy tín được xem có chất
lượng kiểm toán tốt, đó cũng chính là những công ty thực hiện ERM tốt, do đó lợi
ích của ERM được phản ánh đầy đủ vào giá trị doanh nghiệp (Brian và các cộng sự
2006; Anette (2006)).
10
Các định chế tài chính thường có xu hướng thực hiện ERM đầy đủ và tốt hơn
so với các doanh nghiệp sản xuất do bản chất kinh doanh rủi ro. Ngoài ra, các định
chế tài chính thường là doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện và chịu sự giám sát
chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý. Chẳng hạn như yêu cầu về vốn theo Basel. Điều
này buộc các công ty tài chính phải thực hiện ERM thường xuyên và đầy đủ (Brian
và các cộng sự, 2006); Waweru và Kisaka (2012).
Kleffner và các cộng sự (2003) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả ERM tại Canada cho thấy quản trị doanh nghiệp đóng vai trò thiết yếu. Sự ủng
hộ của các nhà quản lý cấp cao tác động trực tiếp đến việc thực hiện ERM. Do đó,
ERM thường có mối tương quan dương với những doanh nghiệp thực hiện quản trị
doanh nghiệp (corporate governance) và ngược lại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu của
Beasley chứng minh những doanh nghiệp quản trị tốt thường có giá trị gia tăng theo
mức độ thực hiện ERM [61].
Các doanh nghiệp sẽ thực hiện tốt hơn ERM nếu có các quy định đầy đủ và
chặt chẽ về hoạt động này. Do vậy, Deloach (2004) chỉ ra sự khác biệt trong kết quả
nghiên cứu giữa các doanh nghiệp buộc phải thực hiện ERM và những doanh
nghiệp không bắt buộc phải thực hiện. Kết quả hiển nhiên những doanh nghiệp phải
thực hiện ERM theo luật cũng là những doanh nghiệp có mức biến động giá thấp
hơn. Nói cách khác ERM mang lại kết quả thực sự cho những doanh nghiệp này.
phải thực hiện ERM. Song chi phí để thực hiện ERM không phải là nhỏ. Chưa có
nghiên cứu nào lượng hóa cụ thể chi phí thực hiện ERM và lợi ích mang lại. Vì vậy
việc đánh giá hiệu quả của ERM chỉ dựa vào giá trị doanh nghiệp là chưa đầy đủ và
đôi khi mang tính lý thuyết. Đối với doanh nghiệp không bắt buộc phải thực hiện
ERM, để khuyến khích họ cần phải chỉ rõ lợi ích của ERM cao hơn so với chi phí
bỏ ra bằng con số cụ thể.
Năm là, về phương pháp nghiên cứu, hạn chế chính hiện nay là thước đo
đánh giá mức độ thực hiện ERM.
Tại Việt Nam, Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các CTCK
hiện nay đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới các góc độ và
mục tiêu nghiên cứu khác nhau. Tác giả Lê Công Điền trong luận văn thạc sỹ kinh
tế năm 2010 với đề tài “Quản lý rủi ro tại các Công ty cổ phần chứng khoán ở Việt
12
Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, đã đánh giá thực trạng quản lý rủi ro
của các công ty chứng khoán trên cơ sở trình bày quy trình từng nghiệp vụ như môi
giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, kế toán tài chính, qua đó đề cập các rủi ro phát
sinh của từng nghiệp vụ này. Trên cơ sở đó, nêu các biện pháp kiểm soát rủi ro mà
các CTCK hiện nay đang áp dụng làm nền tảng đề ra các giải pháp hoàn hiện quản
lý rủi ro tại CTCK [11].
Đề tài luận văn đã chỉ rõ các loại rủi ro riêng lẻ (rủi ro phi hệ thống) mà các
công ty chứng khoán có thể gặp phải, từ đó phân tích, đánh giá và đưa ra các biện
pháp phù hợp nhằm hạn chế những loại rủi ro này. Tuy nhiên, luận văn chưa đánh
giá chi tiết và cụ thể các rủi ro hệ thống mà công ty chứng khoán có thể gặp phải
cũng như tác động chéo giữa các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty.
Luận văn cũng chưa làm rõ thực trạng xử lý rủi ro, các công cụ, biện pháp phòng hộ
rủi ro tại các công ty chứng khoán. Ngoài ra, luận văn cũng chưa hệ thống hóa các
loại rủi ro và mức độ tác động của từng loại rủi ro đến hoạt động kinh doanh của
thống các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện này.
Nhận diện và phân tích mức độ rủi ro của từng loại rủi ro theo hai nhóm (rủi
ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống) trong hoạt động kinh doanh của các công ty
chứng khoán Việt Nam tồn tại dưới hình thức là công ty cổ phần thông qua nghiên
cứu khảo sát thực nghiệm. Đồng thời, đánh giá mức độ thực hiện QLRR tại các
CTCK ở Việt Nam. Trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân cũng như các yếu tố ảnh
hưởng đến việc thực hiện này.
Trên cơ sở định hướng hoạt động của thị trường chứng khoán cũng như của
các công ty chứng khoán trong giai đoạn tới, kết hợp với những đánh giá nêu trên,
đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của các CTCK, từ đó giúp công ty gia tăng giá trị, vị trí trên thị trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án không đi sâu vào khía cạnh quản trị doanh nghiệp mà tập trung vào
khía cạnh kỹ thuật của QLRR bao gồm nghiên cứu các loại rủi ro, quy trình quản lý
rủi ro và mức độ thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK tồn
tại dưới hình thức là công ty cổ phần.
14
Phạm vi nghiên cứu là nhóm các công ty cổ phần chứng khoán Việt Nam,
bao gồm cả công ty chưa niêm yết và đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến 31/12/2013,
kết hợp với việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của CTCK ở một số nước trên thế giới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, luận án sử dụng các phương pháp
phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh, quy nạp vấn đề. Trên cơ sở phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá và làm sáng tỏ các vấn
đề thực tiễn, rút ra những điểm chủ yếu cần được giải quyết để đề xuất giải pháp,
các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, rủi ro được định nghĩa khác nhau gắn với những
nguyên tắc của lĩnh vực đó như: toán học, kinh tế, tài chính, kinh doanh.
Rủi ro gắn với xác suất: Theo quan điểm này, rủi ro là một tổ hợp những sự
ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất. Điều này cũng được đề cập đến
trong khái niệm của ISO (Tổ chức tiêu chuẩn hóa thế giới) về rủi ro, đó sự kết hợp
giữa xác suất xảy ra một sự kiện và những hậu quả tiêu cực hoặc tích cực của sự
kiện đó. Nếu xác suất mất mát là 0 thì không có rủi ro [56].
Rủi ro với đe dọa: Trong một số trường phái, rủi ro và đe dọa là hai phạm trù
riêng biệt. Đe dọa là một sự kiện có xác suất xảy ra thấp nhưng với hậu quả lớn, các
nhà phân tích khó có thể đánh giá được xác suất. Rủi ro, mặt khác, được định nghĩa
là sự kiện có xác suất xảy ra cao hơn, nhưng không có đủ thông tin để đánh giá cả
xác suất và hậu quả xảy ra [22].
Rủi ro gắn với kết quả xảy ra: Một số định nghĩa về rủi ro có xu hướng tập
trung vào các viễn cảnh suy thoái (kết quả xấu), trong khi một số khác lại mở rộng
hơn và xem xét tất cả các khả năng có thể của rủi ro (Kết quả xấu hoặc tốt). Cụ thể,
dưới góc độ kinh tế học, những nhà nghiên cứu theo quan điểm truyền thống cho
rằng rủi ro là khả năng điều gì đó xấu xảy ra: sự nguy hiểm xảy ra thiệt hại hoặc
thua lỗ. Tuy nhiên, theo trường phái hiện đại, rủi ro có thể mang lại may mắn, hiệu
16
quả, thuận lợi (kết quả tốt, còn gọi là rủi ro ngược); nhưng cũng có thể mang lại tai
họa, thiệt hại, khó khăn (kết quả xấu, còn gọi là rủi ro xuôi) [22].
Các nhà tài chính lại cho rằng rủi ro là những gì xảy ra trong tương lai không
được như mong muốn hay kỳ vọng, kết quả có thể gây tổn thất về giá trị tài sản, sự
giảm sút tỷ suất sinh lời thực tế so với lợi suất dự kiến.
Trong kinh doanh, rủi ro được quan niệm là nhân tố ảnh hưởng ngược chiều
đối với lợi nhuận kỳ vọng. Rủi ro làm giảm lợi nhuận kỳ vọng, đôi khi triệt tiêu lợi
nhuận và dẫn đến vỡ nợ, phá sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều có ý nghĩa thiết
thể ảnh hưởng đến biến động giá chứng khoán và kết quả hoạt động kinh doanh của
CTCK. Điều này tạo nên nhiều rủi ro kinh doanh tiềm ẩn mà các CTCK luôn muốn
tìm mọi cách để có thể kiểm soát. Công ty sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro gánh
chịu là hợp lý và kiểm soát được đồng thời nằm trong phạm vi khả năng các nguồn
lực tài chính của CTCK.
Hai là, luôn có sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Sự sôi động của TTCK
có thể mang lại cho CTCK khoản thu lớn từ phí môi giới cũng như chênh lệch giá
chứng khoán cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường suy giảm kéo dài, doanh thu
môi giới giảm cũng như thua lỗ từ hoạt động tự doanh có thể làm cho CTCK thua lỗ
lớn. CTCK luôn phải đứng trước bài toán ma trận rủi ro/lợi nhuận. Một quyết định
kinh doanh tốt khi công ty cân bằng được mức rủi ro có thể chấp nhận với việc đạt
được các cơ hội kinh doanh tốt. Sẽ không hiệu quả nếu CTCK sẵn sàng chấp nhận
rủi ro cao chỉ đổi lại có được các cơ hội kinh doanh hiệu quả thấp. Tuy nhiên, cũng
rất hiếm khi CTCK có được cơ hội kinh doanh tốt với một mức rủi ro thấp.
Ba là, rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp. Đặc điểm này thể hiện ở sự đa
dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
CTCK cũng như diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra.
1.1.2. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán
1.1.2.1.Theo đối tượng và hành vi kinh doanh
Một là, rủi ro của quá trình quản trị hệ thống xuất hiện do những sai lầm của
quá trình quản trị hệ thống kinh doanh chung của CTCK, không phải là rủi ro của
một thương vụ cụ thể.
18
Hai là, rủi ro đặc thù của từng nghiệp vụ kinh doanh chính như [20]:
- Rủi ro trong hoạt động môi giới chứng khoán: là rủi ro có thể xảy ra do
CTCK không kiểm tra số dư, tỷ lệ ký quỹ, kết quả là khách hàng hoặc nhà môi giới
khác có thể không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn. Bên cạnh đó CTCK
Theo cách phân loại này, rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
được chia thành rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống như sau:
19
Rủi ro hệ thống được hiểu là loại rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết
các chủ thể trong nền kinh tế trong đó có CTCK. Sự bấp bênh của môi trường kinh
tế như sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất, pháp luật, tốc độ lạm phát thay đổi là
những yếu tố tạo ra rủi ro hệ thống, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty, từ đó dẫn đến những biến động trong giá chứng khoán công ty
trên thị trường. Rủi ro hệ thống bao gồm một số rủi ro chính sau:
(1) Rủi ro thể chế và pháp luật: là rủi ro do những thay đổi trong đời sống
chính trị, các chính sách pháp luật, đặc biệt là những cú sốc, gây ảnh hưởng đến
hoạt động bình thường của CTCK. Đó có thể là sự thất bại trong việc ký một hiệp
định quan trọng, sự thay đổi nội các, sự xuất hiện hay bãi bỏ một chính sách mới, sự
thay đổi luật pháp.
(2) Rủi ro thị trường: là rủi ro phát sinh do sự biến động của thị trường như
lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và dịch vụ, cạnh tranh và các điều kiện vĩ mô của
nền kinh tế làm ảnh hưởng bất lợi đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của
công ty chứng khoán. Cụ thể:
- Rủi ro lãi suất: là những tổn thất tiềm tàng mà CTCK phải gánh chịu khi lãi
suất thị trường biến động. Khi lãi suất thị trường thay đổi, nó ảnh hưởng đến CTCK
trên hai khía cạnh: về thu nhập từ các dịch vụ trung gian tài chính như môi giới, bảo
lãnh phát hành và thu nhập từ hoạt động đầu tư của công ty vào các tài sản, chứng
khoán trên thị trường.
- Rủi ro sức mua: là biến động sức mua của dòng tiền do tác động của lạm
phát gây ra. Nếu chỉ số giá hàng tiêu dùng tăng lên, mức thu nhập đối với chứng
khoán cũng đòi hỏi phải tăng lên. Điều đó sẽ tác động đến giá của các loại trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu và cổ phiếu công ty, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh
Rủi ro đầu tư: là rủi ro đe dọa hiệu quả đầu tư kỳ vọng của từng khoản mục, danh
mục đầu tư. Rủi ro đầu tư bao gồm cả rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro
thanh khoản.
-
Rủi ro phát triển kinh doanh: là những rủi ro liên quan đến hoạt động quảng bá hình
ảnh, danh tiếng, chiến lược kinh doanh, mở rộng khách hàng, chăm sóc khách hàng,
phát triển sản phẩm …
Thứ hai là rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động
của mình. Rủi ro này nằm bên phần nguồn vốn của bảng cân đối tài sản và liên quan
đến việc sử dụng nợ của công ty. Các chỉ số tài chính thường được dùng để xác
định sự lành mạnh trong hoạt động của công ty, đặc biệt là các chỉ số nợ trên tổng
tài sản, tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản. Rủi ro này liên quan nhiều đến:
21
-
Rủi ro tín dụng: là rủi ro mà CTCK có khả năng không thu được nợ hoặc khách
hàng không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Rủi ro này nảy sinh trong quá trình cung
cấp dịch vụ ký quỹ (margin) cho khách hàng, nhiều công ty đã phải chấp nhận
khoản lỗ lớn vì nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu thị giá thấp hơn giá gốc khi khách
hàng chối bỏ trách nhiệm nộp thêm tiền vào tài khoản.
-
Rủi ro thanh khoản: đó là việc CTCK bị thiếu hụt số dư tiền hay chứng khoán trên
tài khoản để thanh toán cho các giao dịch trong ngày do cho phép khách hàng sử
như đã đề cập ở phần trên. Việc phân tích các loại rủi ro này về hình thức thường
khá độc lập nhưng trên thực tế giữa chúng lại có những mối tương quan chặt chẽ
với nhau. Chẳng hạn, khi lãi suất thị trường biến động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động đầu tư của CTCK. Trong trường hợp hoạt động đầu tư thua lỗ nhiều,
CTCK có thể rơi vào rủi ro thanh khoản khi không có khả năng thanh toán các
khoản nợ đến hạn, từ đó dẫn đến rủi ro danh tiếng và rủi ro phá sản. Chính vì mối
tương quan này, việc QLRR tại các CTCK không chỉ đơn thuần dừng ở việc quản lý
từng loại rủi ro riêng lẻ, mà cần có chiến lược QLRR một cách tổng thể và hệ thống
để đạt được hiệu quả tốt nhất [12].
1.1.3. Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh Công ty Chứng khoán
1.1.3.1. Nhóm nguyên nhân khách quan
Môi trường chính trị, xã hội. Hoạt động kinh doanh của CTCK không thể
tách rời môi trường chính trị, xã hội bởi đây vừa là tiền đề cho sự phát triển, nhưng
đôi khi lại là nhân tố tác động làm gia tăng nguy cơ rủi ro trong kinh doanh. Các
yếu tố của môi trường chính trị, xã hội có sự gắn bó chặt chẽ và tác động trực tiếp
đến hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm: thể chế chính trị, vấn đề an ninh,
trật tự an toàn xã hội, quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế của
chính phủ với các quốc gia khác trong tiến trình toàn cầu hóa, trong xu thế chính trị
mới, ý thức của công chúng trong tiết kiệm và đầu tư. Môi trường chính trị - xã hội
bất ổn là nguyên nhân gây ra nhiều rủi ro không lường trước và thường rất khó
phòng tránh bởi nó thường là những rủi ro bất khả kháng. Hậu quả của rủi ro chính
trị thường nghiêm trọng bởi đây cũng là nguyên nhân của nhiều rủi ro khác.
Môi trường kinh tế: hoạt động kinh doanh của CTCK luôn diễn ra trong bối
cảnh kinh tế cụ thể như mức độ tăng trưởng hay suy thoái, mức độ ổn định của tỷ
giá, lãi suất, lạm phát. Mỗi sự thay đổi của các yếu tố trên đều làm tăng mức độ rủi
ro trong kinh doanh và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của công ty.
23
24
chọn chính sách, mô hình, cơ chế quản lý của CTCK có thể dẫn đến kinh doanh
không hiệu quả. Những sai lầm trong lựa chọn phương thức, phương án, sản phẩm,
dịch vụ, thị trường, đối tác, kinh doanh cũng dẫn đến thất bại trong kinh doanh.
Thứ ba, sự yếu kém về năng lực quản trị kinh doanh. Năng lực quản trị kinh
doanh luôn được coi là một yếu tố đặc biệt quan trọng tác động đến hiệu quả hoạt
động kinh doanh của chủ thể kinh doanh chứng khoán. Trong điều kiện hiện nay,
dưới sức ép và tác động từ nhiều phía của môi trường kinh doanh, những yêu cầu
sản phẩm dịch vụ cung cấp ngày càng đòi hỏi phải đáp ứng được các tiêu chuẩn hết
sức khắt khe. Do vậy, nếu tổ chức kinh doanh chứng khoán không có một bộ máy
quản lý kinh doanh đủ mạnh, sẽ không khai thác và sử dụng một cách tốt nhất các
nguồn lực trong kinh doanh, không tận dụng mọi tiềm năng và cơ hội kinh doanh để
ứng phó một cách linh hoạt với những biến động của môi trường, từ đó tác động
tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Thứ tư, sự yếu kém về năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Kinh doanh chứng
khoán là một lĩnh vực đặc thù có sự chi phối lớn của năng lực chủ thể kinh doanh.
Trong kinh doanh chứng khoán, quan hệ với khách hàng có tầm quan trọng số một.
Sản phẩm càng trìu tượng thì nhân tố năng lực của chủ thể kinh doanh càng quan
trọng. Để hoạt động kinh doanh chứng khoán đạt hiệu quả đòi hỏi bản thân chủ thể
tham gia kinh doanh phải là người có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng phân
tích tốt, hiểu biết lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và TTCK mà mình hành nghề.
Trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, nhân viên không đáp ứng yêu
cầu kinh doanh sẽ là những nguyên nhân gây ra rủi ro và sự thất bại của các CTCK.
Thứ năm, thiếu tinh thần trách nhiệm, đạo đức kinh doanh. Tinh thần trách
nhiệm, đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán là yếu tố
quan trọng quyết định đến sự tin tưởng của khách hàng đối với những người làm
nghề kinh doanh chứng khoán. Các tổ chức thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng
khoán là các tổ chức cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Để thu hút khách hàng thì
yếu tố hàng đầu là phải tạo được sự tin tưởng. Bởi yếu tố đầu tiên đo lường chất
Khối nghiên cứu và khối tự doanh: các báo cáo nghiên cứu độc lập phát hành ra thị
trường có thể tạo ra sự biến động giá liên quan đến các chứng khoán mà khối tự
doanh nắm giữ đi ngược lại với kỳ vọng của nhân viên đầu tư tạo ra các khoản lỗ
cho CTCK.
-
Ngoài ra, các mẫu thuẫn trong nội bộ CTCK còn xuất phát từ động cơ làm việc của
người lao động; cách tổ chức, quản lý và văn hóa doanh nghiệp, chế độ lương
thưởng không hợp lý, lỗi lầm của người lao động, mối quan hệ, bầu không khí trong
công ty …