Giáo dục giá trị di sản văn hóa cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Bắc Giang - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––

ĐỒNG THỊ THANH

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––

ĐỒNG THỊ THANH

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến TS. Lê Thùy Linh đã tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; Bộ phận Sau đại học – Phòng đào
tạo; Ban chủ nhiệm khoa Tâm lí - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái
Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Giang, Ban Giám hiệu, giáo
viên, học sinh các trường THPT Bố Hạ (huyện Yên Thế), THPT Yên Dũng 1 (huyện
Yên Dũng), THPT Việt Yên 1 (huyện Việt Yên), THPT Lục Ngạn 2 (huyện Lục
Ngạn), THPT Tân Yên 2 (huyện Tân Yên), THPT Thái Thuận (TP. Bắc Giang) đã
giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế để thực hiện luận văn.

Thái Nguyên, ngày

tháng 5 năm 2015

Tác giả

Đồng Thị Thanh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ii




MỤC LỤC
Lời cam đoan .................................................................................................................. i
Lời cảm ơn .....................................................................................................................ii

iii




1.4.4. Con đường giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT ............................................ 23
1.4.5. Phương pháp và hình thức giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT .................... 25
1.4.6. Những yếu tố tác động đến quá trình giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT ... 34
Kết luận chương 1 ........................................................................................................ 36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC GIANG ......... 37
2.1. Vài nét về khách thể khảo sát và tổ chức khảo sát ............................................... 37
2.1.1. Một vài nét về học sinh và giáo viên THPT tỉnh Bắc Giang ............................. 37
2.1.2. Tổ chức khảo sát ................................................................................................ 38
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL, GV và HS THPT tỉnh Bắc
Giang về giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT .......................................................... 39
2.2.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, HS về DSVH, các DSVH tiêu biểu
tỉnh Bắc Giang ............................................................................................................. 39
2.2.2. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về giáo dục
giá trị DSVH cho HS THPT ........................................................................................ 50
2.3. Thực trạng giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT tỉnh Bắc Giang ...................... 53
2.3.1. Thực trạng mức độ sử dụng con đường giáo dục giá trị DSVH cho HS
THPT tỉnh Bắc Giang .................................................................................................. 53
2.3.2. Thực trạng nội dung giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT tỉnh Bắc Giang .... 59
2.3.3. Thực trạng phương pháp giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT tỉnh Bắc Giang..... 62
2.3.4. Thực trạng hình thức tổ chức giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT
tỉnh Bắc Giang ............................................................................................................ 66
2.4. Những khó khăn của nhà trường, giáo viên, học sinh trong quá trình giáo dục
giá trị DSVH cho học sinh ........................................................................................... 67
2.4.1. Những khó khăn từ phía giáo viên..................................................................... 67

3.3.2. Nội dung khảo nghiệm....................................................................................... 94
3.3.3. Đối tượng tiến hành khảo nghiệm ..................................................................... 94
3.3.4. Phương pháp khảo nghiệm ................................................................................ 94
3.3.5. Kết quả khảo nghiệm ......................................................................................... 94
Kết luận chương 3 ........................................................................................................ 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ............................................................................ 99
1. Kết luận .................................................................................................................... 99
2. Khuyến nghị ...........................................................................................................100
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................101
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
v




DANH MỤC CÁC TỪ VIỆT TẮT
VIẾT TẮT

STT

VIẾT ĐẦY ĐỦ

1

BVHTT&DL

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch


7

GV

Giáo viên

8

HĐGDNGLL

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

9

HS

Học sinh

10

THCS

Trung học cơ sở

11

THPT

Trung học phổ thông


THPT tỉnh Bắc Giang ................................................................................. 54
Bảng 2.11: Thực trạng giáo dục giá trị DSVH cho HS qua các chủ đề
HĐGDNGLL .............................................................................................. 56
Bảng 2.12: Thực trạng nội dung giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT tỉnh Bắc Giang ... 61
Bảng 2.13: Thực trạng mức độ giáo dục các DSVH tiêu biểu tỉnh Bắc Giang ........... 62
Bảng 2.14: Thực trạng sử dụng phương pháp trong giáo dục giá trị DSVH cho
HS THPT .................................................................................................... 65
Bảng 2.15: Thực trạng hình thức giáo dục giá trị DSVH cho học sinh THPT tỉnh
Bắc Giang ................................................................................................... 66
Bảng 2.16: Những khó khăn GV gặp phải trong quá trình giáo dục giá trị DSVH
cho HS ........................................................................................................ 68
Bảng 2.17: Những khó khăn học sinh gặp phải trong quá trình giáo dục giá trị DSVH .. 69
Bảng 3.1: Đánh giá về mức độ phù hợp của các biện pháp giáo dục giá trị DSVH
cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang ........................................................... 95
Bảng 3.2: Đánh giá về mức độ khả thi của các biện pháp giáo dục giá trị DSVH
cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang ........................................................... 96

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
v




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
DSVH Việt Nam là những kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng các
dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời được trao truyền, kế thừa và tái
sáng tạo qua nhiều thế hệ cho tới ngày nay, đó cũng là những giá trị được sáng tạo nên
từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa nền văn minh của nhân loại. DSVH Việt Nam đặc
biệt là DSVH phi vật thể có sức sống mạnh mẽ và có những tác động, ảnh hưởng lớn

chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập và rèn luyện; góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài
năng của học sinh” [21, tr.1]. Chương trình này đã được thực hiện thí điểm trong năm
học 2012-2013 tại 07 tỉnh, thành bao gồm: Hà Nội, Bắc Giang, TP. Hồ Chí Minh,
Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ninh và Phú Thọ. Hiện nay, dưới sự chỉ đạo,
định hướng của Bộ GD&ĐT các trường phổ thông đã chủ trương tổ chức đưa DSVH
vào nhà trường thông qua các họat động giáo dục giá trị DSVH cho HS tuy nhiên quá
trình thực hiện còn nhiều bất cập, chưa nhận được sự quan tâm thích đáng từ nhiều
phía, các hoạt động vẫn mang tính hình thức, các nội dung giáo dục DSVH chưa
được vận dụng linh hoạt vào từng địa phương…Xuất phát từ lý do trên chúng tôi lựa
chọn đề tài “Giáo dục giá trị di sản văn hóa cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang”
để nghiên cứu với mong muốn qua đây có thể làm rõ hơn thực trạng giáo dục giá trị
DSVH cho HS THPT ở tỉnh Bắc Giang từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục giá
trị DSVH cho HS THPT.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT và thực trạng
giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở đó đề xuất một số
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT
tỉnh Bắc Giang.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục giá trị DSVH cho học sinh THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục giá trị DSVH cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp giáo dục giá trị DSVH cho HS trung học phổ
thông tỉnh Bắc Giang phù hợp với mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
sau năm 2015, phù hợp với đặc điểm HS, điều kiện văn hóa xã hội của địa phương,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2

chuyên gia, phương pháp phỏng vấn; sử dụng phương pháp khảo nghiệm nhằm khẳng
định tính phù hợp, khả thi của các biện pháp giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT
tỉnh Bắc Giang.
7.3. Các phương pháp khác: đề tài sử dụng các phương pháp thống kê để phân
tích định lượng và định tính các kết quả nghiên cứu thực trạng, sử dụng phần mềm
SPSS để thống kê xử lý kết quả khảo sát thực trạng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3




8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về giáo dục giá trị di sản văn hóa cho học sinh ở
trường THPT
Chƣơng 2. Thực trạng giáo dục giá trị di sản văn hóa cho học sinh THPT tỉnh
Bắc Giang
Chƣơng 3. Biện pháp giáo dục giá trị di sản văn hóa cho học sinh THPT tỉnh
Bắc Giang
Ngoài ra, luận văn còn có phần Mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Tài liệu
tham khảo và Phụ lục.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4




Chƣơng 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5




1.1.2. Nghiên cứu trong nước
* Những công trình nghiên cứu về văn hóa, di sản văn hóa và vấn đề bảo tồn và
phát huy giá trị DSVH dân tộc
Về lĩnh vực phát huy và bảo tồn các giá trị DSVH đã có nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm với nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đề cập đến việc bảo tồn và phát
huy các giá trị DSVH trên khắp mọi miền của đất nước. Trong đó phải kể đến một số
công trình tiêu biểu như sau:
- Công trình “Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long – Hà Nội”
(2010) của Nguyễn Chí Bền (chủ biên) đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn kinh
nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long, Hà Nội từ góc độ tiếp
cận văn hóa. Những nguy cơ, thách thức của công cuộc bảo tồn DSVH trong bối
cảnh đô thị hóa ở thủ đô. Qua đó đề xuất các giải pháp bảo tồn phát huy giá trị
DSVH vật thể tiêu biểu của Thăng Long – Hà nội [2]. Công trình Bảo tồn và phát
huy giá trị DSVH phi vật thể ở Thăng Long – Hà Nội của tác giả Võ Trọng Quang
tiếp cận ở góc độ bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể và nêu rõ một trong
những biện pháp hữu hiệu để giữ gìn và phát huy DSVH là cần đẩy mạnh công tác
tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác, trách nhiệm của người dân tham gia vào công
tác này [24].
- Giáo trình “Quản lý di sản văn hóa” dùng cho sinh viên cao đẳng và đại học
nghành quản lý văn hóa” của tác giả Nguyễn Thị Kim Loan đã trình bày một số vấn
đề liên quan đến lý luận về DSVH; vai trò của DSVH trong phát triển xã hội; giới
thiệu một cách hệ thống về quản lý nhà nước về DSVH [12].
- Tác giả Trần Thị Hồng Minh đã nghiên cứu về “Vấn đề giữ gìn và phát huy
di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay”. Trong công trình nghiên cứu tác giả đã

phương với bạn bè. Qua nội dung này thể hiện việc giáo dục giá trị DSVH cho HS qua
việc làm quen, bảo vệ các DSVH của địa phương mình.
Dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Bộ VHTT&DL về giáo dục DSVH trong
nhà trường đã có nhiều dự án, chương trình được thực hiện:
Trước hết phải kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Tài liệu thiết kế dạy và
học, hoạt động tập thể trong chương trình giáo dục về DSVH thế giới Mỹ Sơn” [17] và
“Giáo dục về di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn trong trường phổ thông” của phòng
GD&ĐT huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) phối hợp với Ban Quản lý Di tích và Du lịch
Mỹ Sơn thực hiện nhằm trang bị kiến thức về DSVH thế giới Mỹ Sơn cho tất cả GV để
làm nòng cốt tổ chức hoạt động giảng dạy có hiệu quả nội dung này. Toàn bộ tài liệu
này đã được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam trong năm học 2004 – 2005 nhằm nâng cao nhận thức cho HS về bảo quản, phát
huy những giá trị của DSVH thế giới tại Quảng Nam.
Cuốn “Di sản thế giới trong tay thế hệ trẻ để biết tôn vinh và hành động”
(2004, NXB Đà Nẵng) của Nguyễn Thị Lân và Nguyễn Viết Trí cung cấp nhiều
thông tin về di sản Mỹ Sơn và đề cao vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn
giữ, phát huy giá trị di sản [11].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7




Trong những năm từ 2005 đến nay đã có một số dự án về giáo dục giá trị
DSVH được triển khai thực hiện như: Xây dựng phương pháp đưa DSVH phi vật thể
của Hà Nội vào bài giảng một số môn Khoa học tự nhiên cấp THCS; Liên kết với nhà
trường trong giáo dục di sản ở bảo tàng, di tích và các điểm văn hóa nhân kỷ niệm
1000 năm Thăng Long - Hà Nội; Tăng cường năng lực tiếp cận và phản ánh thông tin
cho giới trẻ nhằm bảo tồn các giá trị DSVH thông qua các hoạt động Dự án ở Đắk
Nông và Hà Nội; Tìm hiểu bản sắc văn hóa Mường trong bảo vệ môi trường thông


Nhìn chung, các vấn đề nghiên cứu trên đã tập trung vào giáo dục cho HS về
các DSVH tiêu biểu của đất nước, thường là DSVH của Việt Nam được thế giới xếp
hạng, chưa có nhiều đề tài khai thác dưới góc độ giáo dục giá trị của các DSVH trong
nhà trường qua tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục cho HS. Có nhiều công trình
nghiên cứu về bảo tồn, phát huy giá trị DSVH tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên không có
công trình nào đề cập đến giáo dục giá trị DSVH cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang,
trên cơ sở đó tác giả lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu.
1.2. Khái niệm công cụ
1.2.1. Văn hóa
Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rất rộng, liên quan đến đời sống vật chất
và tinh thần của con người. Xuất phát từ nhiều cách tiếp cận, có những quan niệm và
cách lý giải khác nhau về văn hóa.
Quan điểm của triết học Mác - Lênin cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những
thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người - hoạt động
sản xuất vật chất và tái sản suất ra đời sống hiện thực của con người” [6, tr.136137], văn hóa là thiên nhiên thứ hai, thiên nhiên được con người cải biến. Văn hóa là
“tác phẩm của con người”, là phương thức hoạt động sống đặc thù, phương thức hoạt
động sống riêng có của con người.
Theo từ điển Triết học: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con
người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt
được trong lịch sử phát triển xã hội” [25, tr.656]. Định nghĩa này khẳng định văn hóa
được biểu hiện trong toàn bộ giá trị vật chất, giá trị tinh thần và là kết quả khách quan
của hoạt động con người. Cùng với quan điểm này tác giả Trần Ngọc Thêm đã đưa ra
định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa môi trường tự nhiên và xã hội” [19, tr.41]. Văn hóa có bốn đặc trưng cơ
bản là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Văn hoá tồn tại được là
nhờ có giáo dục, chức năng giáo dục là chức năng quan trọng của văn hoá nhờ có chức
năng này mà văn hoá đảm bảo được tính kế thừa, tính phát triển [20].
Định nghĩa văn hóa được cộng đồng thế giới sử dụng nhiều và được nhiều

những biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại cho mỗi nền văn
hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại. Là một phần của việc khẳng định cũng như
làm giàu thêm bản sắc văn hóa, là một dạng di sản nhân loại, DSVH mang lại những
đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên là nơi cất giữ kinh nghiệm của
con người. Việc bảo tồn và giới thiệu DSVH này là cốt lõi của mọi chính sách văn
hóa” [2, tr.14].
Theo điều 1, chương 1 Luật DSVH do Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2001 đã nêu rõ “DSVH quy định tại Luật này
bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [4, tr.17]. Theo cách hiểu trên thì DSVH bao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10




gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể đồng thời tương ứng với hai loại hoạt động
cơ bản của con người là hoạt động sản xuất ra các giá trị tinh thần và hoạt động sản
xuất của cải vật chất.
Theo Tác giả Hoàng Vinh nhận định DSVH là sự tổng hòa của một tập hợp
những cặp phạm trù vừa thống nhất, vừa tương phản: truyền thống - hiện đại, kế thừa
- phát triển, dân tộc - quốc tế. Những cặp phạm trù này vận động một cách hài hòa
với nhau, xoắn luyến vào nhau không tách rời” [12].
Với góc độ và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn lựa chọn khái
niệm về DSVH làm khái niệm cộng cụ của đề tài như sau:
“DSVH là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”.
Như vậy, DSVH là những giá trị văn hóa đặc biệt bền vững vì nó vượt qua
được sự thẩm định khắt khe của cả cộng đồng người trong một thời gian lịch sử lâu

những giá trị. Việc cá nhân hướng vào những giá trị này hay những giá trị khác tạo
nên định hướng giá trị của họ. Mỗi cá nhân hành xử với các chuẩn mực xã hội là
những định hướng giá trị của họ. Cụ thể, cá nhân tiến hành lựa chọn các giá trị, chuẩn
bị tâm thế, niềm tin để hiện thực hoá các giá trị của họ bằng những hành vi cụ thể.
Định hướng giá trị không chỉ là quá trình nhận thức mà còn là quá trình hành động,
điều chỉnh hành vi theo giá trị. Như vậy, định hướng giá trị bao hàm hai nội dung,
một là, sự lựa chọn một giá trị hay hệ giá trị của cá nhân hay cộng đồng; hai là, giáo
dục những giá trị cho cộng đồng, cá nhân. Định hướng giá trị có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với gia đình, xã hội và nhà trường.
Cũng theo tác giả Phạm Minh Hạc“Định hướng giá trị là một trong những
biến đổi rõ nét của đặc trưng xu hướng nhân cách và có ý nghĩa hướng dẫn hoạt
động của con người. Nó mang đậm nét tính xã hội - lịch sử chung của cộng đồng, nét
riêng của từng dân tộc, những nét đặc thù của nhóm xã hội, nhóm lứa tuổi, giới, nghề
nghiệp, tôn giáo, địa phương khác nhau”.
1.2.4. Giá trị di sản văn hóa
Trong nội hàm khái niệm DSVH (theo Luật Di sản văn hóa), giá trị giữ vai trò
nòng cốt, nó phân biệt tất cả các hiện tượng văn hóa nói chung với các hiện tượng
văn hóa được coi là di sản. DSVH phải có giá trị trên nhiều mặt khoa học, lịch sử,
văn hóa, nghệ thuật, tinh thần, vật chất. Như vậy có thể hiểu giá trị DSVH là mặt ý
nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quí, có ích của di sản văn hóa, là hệ thống những đánh
giá của xã hội về di sản trên các mặt văn hóa, lịch sử, khoa học, nghệ thuật, tinh
thần. Giá trị của DSVH là sự kết tinh giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa, truyền thống
của dân tộc, cộng đồng.
Một DSVH có thể chứa đựng nhiều giá trị khác nhau, tuy nhiên giá trị cơ bản
được quan tâm khi đánh giá về DSVH là giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12




nguyên; văn hóa kỹ thuật, còn gọi là văn hóa hành vi; văn hóa thân tộc còn gọi là văn
hóa cơ chế; văn hóa tư tưởng còn gọi là văn hóa tâm thức [12, tr.120].
+ Phân loại theo hình thái biểu hiện của DSVH: Phân loại DSVH theo cách phân
loại văn hóa của tổ chức UNESCO và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13




Việt Nam năm 2009, theo tiêu chí này DSVH được chia thành hai loại hình: DSVH vật
thể và DSVH phi vật thể.
Thứ nhất DSVH phi vật thể. Theo điều 2 của bản Công ước quốc tế về bảo vệ
DSVH phi vật thể, khái niệm DSVH phi vật thể được UNESCO hiểu là “Các tập
quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những
công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng
đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một
phần DSVH của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVH phi vật thể
được các cộng đồng và nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và
quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành
trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự
đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” [Dẫn theo 22, tr.30].
Theo Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009 nêu
rõ “DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể
và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản
sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [13].
Trong cuốn tài liệu “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông”
DSVH phi vật thể của Việt Nam được liệt kê cụ thể bao gồm:
1. Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam;

đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định. DSVH
vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt.
DSVH luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động
của con người thời đại sau.
Tại điều 4 Luật DSVH định nghĩa “DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”. [4, tr.17]
Theo tài liệu “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông” DSVH vật thể
là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. DSVH vật thể bao gồm:
1. Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học;
2. Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiên nhiên
hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến
trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học;
3. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học;
4. Cổ vật hiện được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa
học, có từ một trăm năm tuổi trở lên;
5. Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học [3].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15




Trên thực tế, sự phân biệt hai loại DSVH như trên chỉ có ý nghĩa quy ước vì
chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, khó phân biệt rạch ròi. Trong những DSVH
vật thể có chứa đựng giá trị văn hóa phi vật thể đồng thời DSVH phi vật thể được






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status