ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƢƠNG VIẾT YÊN
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH BỆNH ĐƢỜNG TIÊU HÓA Ở LỢN CON
GIAI ĐOẠN 1 - 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN
BÌNH MINH - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: CHÍNH QUY
Chuyên ngành: THÚ Y
Khoa: CHĂN NUÔI THÚ Y
Khóa học: 2011 - 2016
THÁI NGUYÊN, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƢƠNG VIẾT YÊN
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH BỆNH CẦU TRÙNG VÀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN
CON DƢỚI 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN
BÌNH MINH - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ xã Phù Lưu Tế, gia
đình bác Bình và bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày
tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Dƣơng Viết Yên
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái .................................................... 33
Bảng 4.2: Lịch sát trùng trại lợn nái ............................................................... 41
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 42
Bảng 4.4. Tình hình bệnh tiêu hóa ở lơn con tại Trại từ tháng 6 đến tháng 9
năm 2015 ............................................................................................... 43
Bảng 4.5: Tình hình mắc bệnh đường tiêu hóa ở lợn theo lứa tuổi ................ 44
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh đường tiêu hóa theo tháng .................... 47
Bảng 4.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh tiêu hóa theo tình trạng vệ sinh .... 50
Bảng 4.8. Kết quả kiểm tra một số triệu chứng lâm sàn và bệnh tích ở lơn con
mắc bệnh tiêu hóa ................................................................................. 51
Bảng 4.9. Tỉ lệ lợn con chết do mắc bệnh đường tiêu hóa ............................. 53
Bảng 4.10. Phác đồ điều trị hai lô thí nghiệm ................................................. 56
Bảng 4.11. Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn bằng hai loại thuốc CP
Nor 100 và Nova Amcoli ...................................................................... 56
Bảng 4.12. Phác đồ điều trị cầu trùng bằng 3 loại thuốc ................................ 57
CT
:
Cầu trùng
Nxb
:
Nhà xuất bản
Pp
:
powerpoint
Ctv
:
Cộng tác viên
TB
:
Trung bình
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và cơ sở thực tiễn .......................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh lý lợn con ........................................................................ 3
2.1.2. Hội chứng tiểu chảy ở lợn sau khi sinh đến 21 ngày tuổi ....................... 6
2.1.2.1. Nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy từ 1 - 21 ngày tuổi .................. 6
2.1.2.2. Cơ chế và hậu quả của HCTC .............................................................. 8
2.1.2.3. Các biện pháp phòng và điều trị hội chứng tiêu chảy ........................ 12
2.1.3. Bệnh cầu trùng lợn con từ 1 ngày tuổi tới 21 ngày tuổi ....................... 15
2.1.3.1. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn bị bệnh cầu trùng .......... 15
2.1.3.2. Các phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng lợn ............................... 17
2.1.3.3. Phòng bệnh cầu trùng ......................................................................... 18
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 19
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 19
2.2.1.1. Hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi ........ 19
2.2.1.2. Bệnh cầu trùng lơn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi ................... 21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 25
2.2.2.1. Hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi ........ 25
v
2.2.2.2. Bệnh cầu trùng lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi ................... 26
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 31
5.1. Kết luận .................................................................................................... 59
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................
I. Tài liệu tiếng việt .............................................................................................
II. Tài liệu nước ngoài .........................................................................................
PHỤ LỤC ............................................................................................................
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế,
ngành chăn nuôi thú y cũng đã và đang phát triển khá mạnh mẽ đem lại sự
thay đổi tích cực cả về số lượng lẫn chất lượng thực phẩm cho nhu cầu trong
nước, mà còn góp phần thu ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã
hội, góp phần đưa nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển.
Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một
nghề có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta. Ngành chăn nuôi
lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở
vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm
cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu.
Tuy nhiên, với số lượng các đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng
nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục của các yếu tố khác như:
thời tiết, khí hậu, đất đai, không khí, nguồn nước,… nên vấn đề dịch bệnh có
những biến đổi khó lường đặc biệt là bệnh ở đường tiêu hóa lợn sẽ ngày càng
tăng lên. Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi
dưỡng, cùng với việc sử dụng vaccine phòng bệnh và sử dụng các loại kháng
sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý.
2.1.1. Đặc điểm sinh lý lợn con
Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo,
chức năng hệ tiêu hóa và miễn dịch. Lợn con trước một tháng tuổi không có
HCL tự do trong dịch vị vì lúc này lượng acid tiết ra và nhanh chóng liên kết
với dịch nhầy. Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày ruột ở lợn con. Hơn nữa vì thiếu acid HCl nên pepsinogen tiết ra không trở
thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới
dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein
chưa được tiêu hóa).
Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa
hoàn chỉnh. Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng
1%. Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và
thải nhiệt. Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt
khi thời tiết thay đổi thất thường.
Theo Cù Xuân Dần và cs (1996) [8], lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến
ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 là đột ngột giảm thấp trong khi nhu
cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên. Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà
thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên
suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress.
Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là
do thiếu sắt. Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp. Khi ra
ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể
non yêu cầu. Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40 - 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn
4
con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ. Vì vậy, cần bổ sung thêm ít
nhất là 200 - 250mg/con để lợn tránh thiếu máu. Trong sữa mẹ không chỉ
thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu,
tổng hợp và hoạt hóa một số enzym. Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể
Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng
lên. Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng. Để khắc phục tình
trạng này cần tập cho lợn ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng, có tác
dụng kích thích tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa: Sự phát triển
của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa.
* Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt
Lợn con sơ sinh cơ năng điều tiết chưa ổn định do:
+ Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ thấp nên không có
khả năng chống rét.
+ Hệ thần kinh điều tiết chưa hoàn chỉnh do não chưa phát triển.
+ Diện tích bề mặt cơ thể chênh lệch cao so với khối lượng nên lợn con
dễ bị mất nhiệt.
Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con phụ thuộc vào môi trường:
Nếu nhiệt độ môi trường thấp thì thân nhiệt hạ nhanh, tuổi lợn con càng ít, tốc
độ hạ thân nhiệt càng nhiều (khối lượng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng
điều tiết thân nhiệt).
Sau 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt lợn con tương đối hoàn chỉnh.
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ
thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Các chất lạ có thể là mầm
bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ
quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh. Trong hệ thống tiêu hóa của
lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho
quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng
6
kém. Do vậy, các mầm bệnh như E. coli, salmonella… dễ dàng xâm nhập vào
cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh.
+ Vi khuẩn E. coli gây lên thường gặp nhất là bệnh phân trắng ở lợn
con. Ngoài ra còn gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và các loài vật nuôi khác.
+ Clostridium perfringens type C gây viêm ruột hoại tử và xuất huyết ở
lợn.
+ Cầu trực khuẩn Amip gây bệnh kiết lỵ ở lợn, bê nghé…
+ Do vi khuẩn Salmonella gây ra: Salmonella cholesrasuis và
Samonella typhumuriumlaf hai tác nhân gây tiêu chảy cho lợn con sau cai sữa
và vỗ béo (Lava.A, 1997) [33].
Ngoài ra còn rất nhiều vi khuẩn gây nên tiêu chảy ở lợn
- Nguyên nhân do ký sinh trùng gây ra như: Cầu trùng, sán lá ruột lợn,
giun đũa, giun lươn, giun kết hạt… Trứng của chúng tồn tại trong phân, nước
tiểu và lây nhiễm vào nguồn thức ăn, nước uống, đặc biệt là các loại rau trồng
dưới nước. Khi vào trong cơ thể gặp điều kiện thuận lợi chúng biến thái, phát
triển thành ký sinh trùng gây bệnh.
- Do thức ăn, nước uống: Thức ăn bị ôi, mốc, thiếu dinh dưỡng, khẩu
phần ăn không cân đối. Thức ăn dể lâu ngày, bảo quản không tốt, nhất là nhiễm
các loại vi sinh vật gây tiêu chảy như E. coli, Salmonella spp, nấm mốc. Thức ăn
giàu đạm, chất béo hoặc ăn quá nhiều dễ gây tiêu chảy.
Nước uống thiếu, không sạch, nhiễm bẩn, nhiễm hóa chất, thuốc trừ
sâu, các kim loại nặng…
- Do độc tố: Aflattoxin, nhiễm hóa chất, thuốc trừ sâu…
- Do dinh dưỡng: Thiếu vitamin B1, B2, B12... Thiếu khoáng như thiếu
Fe, Cu... cũng là nguyên nhân dẫn đến vật nuôi bị tiêu chảy, bị rối loạn trao
đổi chất.
Như vậy chúng ta có thể thấy được có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu
chảy cho vật nuôi. Điều này là đòi hỏi các nhà chăn nuôi cần nắm được để có
biện pháp phòng trị và chăm sóc tốt mới đem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.
8
9
* Bệnh tích đại thể
Những lợn khi chết mổ khám thấy có một số biểu hiện bệnh lý ở các cơ
quan bộ phận của cơ thể. Dạ dày, ruột, gan, lách, tim, phổi.
Bệnh tích ở dạ dày có những biểu hiện như: chướng hơi, thức ăn chưa
tiêu hóa hết.
Bệnh tích ở ruột: Chướng hơi, thức ăn chưa tiêu, có màu vàng hoặc đỏ
thẫm có thể có xuất huyết điểm ở thành ruột.
Gan, lách, thận đều sưng và xung huyết.
Bên cạnh những triệu chứng, bệnh tích chung thì tùy theo nguyên nhân
khác nhau lại có những biểu hiên bệnh tích khác nhau.
* Hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình bệnh
lý sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể. Tuy nhiên khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra,
cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung đó
là sự mất nước, rối loạn cân bằng acid - bazơ (Lê Minh Chí, 1995) [4].
Theo Vũ Triệu An (1978) [1], tùy theo viêm ruột cấp hay mãn tính mà
hậu quả có khác nhau.
- Mất nước do tiêu chảy
+ Trong cơ thể nước chiếm khoảng 50% - 70% trọng lượng cơ thể,
được phân bố ở hai khu vực chính là trong tế bào và ngoại tế bào.
+ Nhu cầu nước của cơ thể rất lớn, nếu cơ thể hết mỡ, đường và một
nửa protit trong mô bào, thể trọng giảm 40% thì con vật vẫn còn sống, nhưng
nếu con vật mất 10% nước trong cơ thể thì con vật sẽ chết (Trần Cừ,1975)
[3]. Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn nước uống và được thải ra ngoài
theo nước tiểu, theo phân, mồ hôi, hơi thở. Quá trình hấp thu và cân bằng
nước trong cơ thể khỏe mạnh thường ổn định (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [31].
11
giảm, nước đi từ khu vực ngoại bào (chỗ mà áp lực thẩm thấu hạ) vào khu
vực nội bào. Cả 3 loại mất nước này đều gây nên những hậu quả bệnh lý.
- Rối loạn cân bằng acid - base
Các phản ứng sinh hóa trong cơ thể đòi hỏi pH hằng định của môi
trường, trong khi đó quá trình chuyển hóa luôn luôn sản xuất ra các acid. Để
duy trì pH trong phạm vi 7,35 - 7,85 một quá trình kiềm hóa nhằm trung hòa
độ acid được tiến hành, pH máu thay đổi rất ít (trong khoảng 0,1 - 0,2), nếu
vượt quá 0,3 trong thời gian dài cơ thể bị trúng độc toan hoặc kiềm (Vũ Triệu
An, 1978) [1].
Phản ứng của máu thường ổn định bởi trong máu có các hệ đệm cùng
với các hoạt động của các cơ quan điều hòa phản ứng của máu như phổi, thận.
Hệ đệm được hình thành hoàn toàn ngay trong những tháng đầu ngay
khi gia súc sinh ra. Nó gồm những đôi đệm trong huyết tương và hồng cầu.
(Acid hữu cơ gồm: Acid lactic, Acid piruvic và những yếu tố khác).
Trong các đôi đệm trên thì đôi đệm quan trọng nhất là đôi đệm hồng cầu. Đây
là hệ đệm lớn nhất nên sự trung hòa acid trong máu chủ yếu là NaHCO3 quyết
định. Cũng vì vậy người ta đo hàm lượng muối bicacbonat chứa trong 100ml
máu để biểu thị lượng kiềm dự trữ.
Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn toan - kiềm dựa vào đánh giá
sự thay đổi trong hệ thống bicacbonat - acid cacbonic là hệ đệm chủ yếu của
dịch ngoại bào. Vì các hệ đệm nội bào và ngoại bào có liên quan đến nhau về
chức năng nên việc đo hệ bicacbonat huyết tương sẽ cung cấp thông tin hữu
ích về các hệ đệm cacbonat thường được mô tả dưới dạng phương trình
Henderson - Hasselbatch:
pH = pK + log
+ pH của acid cacbonic là 0,1
Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn
đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, việc đảm bảo tốt vệ sinh chuồng
13
nuôi, vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ
lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy.
14
+ Phòng bệnh bằng vaccine
Việc tiêm phòng vaccine là biện pháp có hiệu quả cao trong phòng các
bệnh truyền nhiễm gây tiêu chảy cho lợn, tạo miễn dịch chủ động cho gia súc.
Để phòng hội chứng tiêu chảy cho lợn con đạt hiệu quả cao thì nên kết hợp
dùng vaccine cho cả lợn con và lợn mẹ.
Nguyễn Thị Nội và cs (1989) [18], đã tiến hành nghiên cứu vaccine hỗn
hợp Salco, được chế tạo từ các chủng vi khuẩn Salmonella, E. coli và
Streptococcus để phòng tiêu chảy cho lợn.
+ Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Chế phẩm sinh học là môi trường nuôi cấy một vi sinh vật có lợi nào đó
khi đưa vào cơ thể có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích, giúp duy trì và
lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa…
Sử dụng chế phẩm sinh học Subcolac để phòng hội chứng tiêu chảy,
Subcolac là một hỗn hợp gồm 3 loại vi khuẩn sống: Bacilus subtilis,
Colibacterium và Lactobacilus. Chế phẩm subcolac được đưa vào đường tiêu
hóa để cung cấp một số men cần thiết, một số vi khuẩn có ích để lặp lại sự cân
bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột.
Dùng men vi sinh vật cho lợn uống hoặc ăn có tác dụng giảm tỷ lệ lợn
Triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh cầu trùng thay đổi tuỳ thuộc vào
tuổi của con vật, loài cầu trùng, số lượng Oocyst có mặt trong cơ thể lợn. Đại
đa số các tác giả khi nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh ở
các lứa tuổi đều thấy: Bệnh thường xảy ra ở thể cấp tính và mãn tính
- Thể bệnh cấp tính:
Thường xảy ra ở những lợn con từ sơ sinh đến dưới 2 tháng tuổi. Đặc
biệt ở lợn từ 7 - 21 ngày tuổi rất dễ bị nhiễm cầu trùng. Sau 5 - 7 ngày ủ bệnh,
lợn đột nhiên ủ rũ, mệt mỏi, hay nằm, ít bú và bỏ bú. Sau đó không lâu chúng
ỉa chảy mạnh, phân loãng hoặc nhầy, màu từ vàng đến trắng, mùi khắm và có
lẫn máu, trong trường hợp nặng máu chiếm phần lớn trong phân (Trương Văn
Dung và cs., 2002)[6].
16
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2008)[22] Quan sát kỹ lợn bệnh thấy lợn
bị chướng hơi đầy bụng, khó chịu, nôn, mất nước và có hiện tượng đau bụng,
nằm cong lưng, khó chịu khi ta gõ nhẹ hoặc sờ nắn vào bụng. Ngoài ra có con
còn có biểu hiện thần kinh như đi không vững, đi vô hướng hoặc nằm co giật.
Khi lợn con nhiễm cầu trùng có thể bị nhiễm Rotavirus, gây bệnh lợn con
phân trắng, lợn gầy sút nhanh, da khô, lông xù.
- Thể mãn tính:
Ở lợn choai và lợn trưởng thành, bệnh thường thể hiện mãn tính. Lợn
gầy rộc không tăng trọng, khi nuôi dưỡng kém có thể ỉa chảy (Nguyễn Thị
Kim Lan và cs., 2008)[22].
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009)[24], lợn mắc bệnh ở thể mãn tính,
tính thèm ăn thay đổi không lớn, tốc độ suy yếu cơ thể chậm. Lợn nái và lợn
trưởng thành tuy bị nhiễm cầu trùng nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm
sàng, do đó là nguồn tàng trữ và lây truyền mầm bệnh trong tự nhiên. Lợn có
khối lượng 40 kg khi nhiễm E.scabra sẽ gây cho lợn bị tiêu chảy nặng, lợn
có 3 phương pháp: phương pháp xét nghiệm phân trực tiếp, phương pháp
Fulleborn, phương pháp Darling (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22].
Để đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng có thể sử dụng phương pháp
định tính, hoặc phương pháp định lượng sử dụng buồng đếm Mc.Master.
+ Với lợn đã chết:
Việc chẩn đoán được tiến hành thông qua công tác mổ khám kiểm tra
bệnh tích kết hợp với soi trực tiếp: dùng phiến kính nạo niêm mạc ruột non
vùng bị hoại tử nghi là do cầu trùng rồi soi kính để tìm Oocyst cầu trùng.
(Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22].
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2008) [22]: để chẩn đoán bệnh cầu
trùng nhất thiết phải tiến hành xét nghiệm phân để tìm Oocyst cầu trùng.