Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trường
Cục Môi trường
Liên Hiệp các Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam
Trung tâm Tư vấn Đầu tư Nghiên cứu
Phát triển Nông thôn Việt Nam (INCEDA)
Báo cáo kết quả
Nhiệm vụ
"Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất
quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy
hại trên địa bàn toàn quốc"
Cơ quan quản lý:
Cục Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trường.
Cơ quan thực hiện:
Trung tâm Tư vấn Đầu tư Nghiên cứu
Phát triển Nông thôn Việt nam.
Chủ nhiệm: GS.TS. Lê Doãn Diên
Phó chủ nhiệm: PTS. Nguyễn Văn Lâm
Thư ký: Lê Văn Hữu
Họ và tên
Học hàm
Học vị
Chức vụ
Cơ quan công tác
1
Lê Don Diên
GS.TS
Giám đốc
Trung tâm INCEDA
2
Lê Mỹ Xuyên
PGS.PTS
Phó giám đốc
Trung tâm INCEDA
3
6
Vũ Ngọc Lan
KS
Cán bộ nghiên cứu
Trung tâm Tư vấn
CNMT
7
Nguyễn Trung Dũng
KS
Cán bộ
Trung tâm INCEDA
8
Nguyễn Thanh Lương
KS
Cán bộ
Trung tâm INCEDA
CNMT
12
Nguyễn thị Thanh Xuyến
CN
Cán bộ
Trung tâm Tư vấn
CNMT
13
Nguyễn Hồng Minh
CN
Cán bộ
Trung tâm INCEDA
14
Nguyễn Kim Lan
TC
Cán bộ
Trung tâm INCEDA
18
Lê Tuệ Phương
KS
Cán bộ
Trung tâm INCEDA
19
Nguyễn thị Ngọc Nhung
TC
Cán bộ
Trung tâm INCEDA
20
Lê Thị Oanh
TC
Cán bộ
HCBVTV: Hãa chÊt vµ c¸c lo¹i thuèc b¶o vÖ thùc vËt
KHCN vµ MT: Khoa häc C«ng nghÖ vµ M«i trêng
ERM:
Environmental Resources Management
SIC:
Standard Industrial Classification, tiªu chuÈn ph©n
lo¹i c«ng nghiÖp.
Mở đầu
Trong lịch sử phát triển của x hội loài người đ và đang diễn ra nhiều cuộc
cách mạng khoa học, công nghệ và thông tin, trong đó có năm cuộc cách mạng lớn
nhất, quan trọng nhất, đánh dấu năm nấc thang phát triển của nhân loại.
Bằng cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và thông tin lần thứ ba, lần thứ
tư, x hội loài người đ biến từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công
nghiệp và trong ba trăm năm dưới nền văn minh công nghiệp, x hội loài ngườì đ
phát triển với một tốc độ thần kỳ, đ làm thay đổi hẳn bộ mặt của trái đất và cuộc
sống của loài người.
Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ của các tập đoàn tư bản công
nghiệp siêu quốc gia và do không có một chiến lược phát triển chung thích hợp cho
nên đồng thời cũng đ gây nên những hậu quả tiêu cực, những mối nguy cơ khôn
lường cho tương lai của hành tinh và nhân loại.
Các khu công nghiệp đ xuất hiện ở các nước công nghiệp hoá ngay từ cuối
thế kỷ thứ 19 như là một công cụ đắc lực để quản lý sự phát triển công nghiệp. Đặc
biệt các khu công nghiệp đ tăng lên một cách ồ ạt ở khắp nơi trên thế giới từ
những năm 70 của thế kỷ này, nhất là ở những nước đang diễn ra quá trình công
nghiệp hoá mạnh mẽ. Tính đến nay, trên thế giới có khoảng 13.000-21.000 khu
công nghiệp vốn đ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng nhưng đồng thời cũng
đ gây ra những hậu quả nặng nề về môi trường sống và về sức khoẻ của con người.
Hầu hết các khu công nghiệp ở trên thế giới được xây dựng và vận hành đều
sau 10 năm (2000-2010) có nghĩa là tỷ lệ tăng hàng năm sẽ là 14%.
Song song với các vấn đề ô nhiễm công nghiệp, việc xử lý và tiêu huỷ chất
thải nguy hại (hazardous waste) đang trở thành nhiệm vụ quan trọng mà nước ta sẽ
phải giải quyết. Mặc dù không có số liệu chính xác, nhưng thông qua mức tăng dân
số và các hệ số phản ánh mức độ công nghiệp hoá và hiện trạng phát triển kinh tếx hội, Liên hợp quốc đ ước tính lượng chất thải nguy hại phát sinh ở Việt Nam
mỗi năm vào khoảng 280.000 đến 640.000 tấn. Ngành công nghiệp phát triển
mạnh nhất trong những năm 1990-1998 là ngành công nghiệp hoá chất và đó cũng
là một trong những nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải nguy hại. Theo kế hoạch,
dự tính rằng tốc độ tăng trưởng của ngành hoá chất sẽ là 20% năm, duy trì trong 11
năm tới (1999-2010); điều này sẽ dẫn đến một tỷ lệ gia tăng chất thải rắn nguy hại
tương ứng.
Trong năm 1997-1998, Cục Môi trường phối hợp với các chuyên gia ERM
(Environmental Resources Management) đ tiến hành kiểm kê chất thải nguy hại
nhằm thu thập thông tin về khối lượng và bản chất của chất thải rắn nguy hại và dự
đoán khả năng phát sinh các chất thải rắn nguy hại cũng như nguồn phát sinh ra
chúng. Theo kết quả dự đoán bằng phương pháp đánh giá nhanh, lượng chất thải
rắn nguy hại ở Việt Nam vào khoảng 277.000 tấn/ năm, trong đó 30% ở miền Bắc,
10% ở miền Trung và 60% ở miền Nam.
Cần nhấn mạnh rằng việc thống kê, kiểm kê toàn bộ lượng chất thải rắn nguy
hại trên toàn quốc cho đến nay chưa được tiến hành và ở nước ta cũng chưa có hệ
thống xử lý các chất thải này (kể cả xử lý sơ cấp). Điều đó đ gây những khó khăn
trong vấn đề quản lý môi trường. Tình trạng tiêu huỷ chất thải nguy hại một cách
tuỳ tiện ở nước ta hiện nay cũng đang là một trong những nguy cơ gây ô nhiếm
môi trường. Việc chôn lấp các chất thải rắn nguy hại lẫn với các chất thải rắn bình
thường trong bi rác mở, cho bốc hơi các dung môi hữu cơ vào môi trường hoặc sử
dụng các chất thải rắn nguy hại thành nguyên liệu thứ cấp khác đều là những thực
tế hết sức bức xúc đòi hỏi chúng ta phải giải quyết.
Từ trước đến nay cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá cụ thể
nước.
Phần thứ hai. Triển khai và thực thi nhiệm vụ.
Phần thứ ba.
Kết quả và thảo luận.
Kết luận và kiến nghị.
Phần thứ nhất
Tổng quan về chất thải rắn nguy hại và tình hình
nghiên cứu về chất thải rắn nguy hại trong và ngoài nước.
Chương 1
Khái niệm về chất thải rắn nguy hại và sự phân loại
chất thải rắn nguy hại.
1.1. Khái niệm về chất thải rắn nguy hại:
Căn cứ theo các tài liệu do ERM (Environmental Resources Management) của
Anh, chất thải rắn nguy hại có thể định nghĩa một cách tóm tắt như sau:
"Chất thải rắn nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn
mòn, dễ lây nhiễm ...) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại cho môi
trường và cho sức khoẻ con người".
Nói một cách khác chất thải nguy hại là chất:
Có chứa một chất (hoặc các chất) có tính nguy hại và
Vì có những chất đó mà có thể gây nguy hại trực tiếp cho sức khoẻ con
người hoặc cho môi trường như là kết quả của sự tương tác của chúng với con
người hoặc với môi trường.
Các chất thải nguy hại được phát sinh ra từ:
Công nghiệp.
Bản chất của nguồn thải:
Đây là bản chất của vị trí, của địa điểm phát sinh ra nguồn thải.
- "Hộ gia đình".
- "Công nghiệp"
- "Thương nghiệp"
- "Bệnh viện và nơi pha chế dược phẩm"
Các nguồn thải "phi đặc thù".
Thường thường, các hệ thống phân loại chất thải bao gồm sự phân loại đối
với cái gọi là nguồn thải "phi đặc thù". Sự phân loại này tập trung vào bản chất của
các đơn vị sản sinh ra chất thải, ví dụ như:
- Chất thải từ khâu sản xuất, từ khâu pha chế hoặc từ khâu phân phối và sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp.
- Chất thải từ các nhà sản xuất, pha chế dược phẩm trong ngành y tế.
Chất thải công nghiệp.
Một số hệ thống phân loại chất thải dùng tiêu chuẩn phân loại công nghiệp
(Standard Industrial Classification - SIC) làm một thành tố của hệ thống phân loại
chất thải.
"Nguồn thải đặc thù".
Loại hệ thống phân loại này dựa trên cơ sở quá trình đặc thù của việc sản
sinh chất thải. Nó cung cấp các thông tin đặc thù về chất thải hoặc cho phép đưa ra
những kết luận rất đặc thù về bản chất của chất thải. Ví dụ như:
- "Cặn thải tại điểm sôi cao từ quá trình chưng cất Anilin".
- "Bộ phận cơ thể thải bỏ sau khi mổ xẻ hoặc phẫu thuật tử thi".
- "Chất thải sau khi xử lý nhiệt và tôi có chứa xianua".
Phân loại theo loại nguy hại.
Nhiều hệ thống phân loại chất thải nguy hại sử dụng loại nguy hại làm một
phần của hệ thống phân loại, ví dụ:
"Độc hại".
Chương 2
Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn
và chất thải rắn nguy hại trong và ngoài nước.
2.1. Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn và chất thải rắn nguy hại ở ngoài nước.
Dân số, tài nguyên, môi trường và phát triển là những vấn đề được quan tâm
nhiều nhất của x hội loài người hiện nay. Để đáp ứng được nhu cầu trong cuộc
sống, con người luôn luôn mong muốn phát triển nền kinh tế của mình.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế, công nghiệp là một nhân tố quan trọng.
Công nghiệp được định nghĩa là "Ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện
đại; công nghiệp bao gồm các xí nghiệp khai thác và chế biến nguyên vật liệu,
nhiên liệu; chế tạo công cụ lao động, khai thác rừng, sông biển, chế biến các
loại sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ...".
X hội càng phát triển đòi hỏi nền công nghiệp phải được phát triển cả về
quy mô và cả về chất lượng ở mức cao hơn. Để làm được điều này, tài nguyên thiên
nhiên sẽ bị khai thác ngày một mnh liệt hơn và quá trình chế biến cũng sẽ được
mở mang rộng với quy mô và cường độ cao hơn. Đồng thời với sự phát triển công
nghiệp, lượng phế liệu, các loại chất thải, đặc biệt là chất thải rắn nguy hại cũng sẽ
được tăng lên, đưa lại nhiều hậu quả nguy hiểm cho thiên nhiên và cho con người.
Cùng với sự gia tăng dân số, kịch bản phát triển công nghiệp cũng sẽ ngày một gay
cấn hơn.
Hiện nay công nghiệp thế giới đ phát triển đến một trình độ kỹ thuật cao và
x hội đ có một vốn tích luỹ lớn, con người cũng đ ý thức được một sự phát triển
mang tính cộng đồng và lâu dài, "một sự phát triển lâu bền của xã hội". Đó chính
là cơ sở cho sự hình thành chiến lược bảo vệ môi trường và tiến tới hình thành khái
niệm về nền sản xuất sạch mà hướng trọng điểm của nó là sản xuất sạch trong công
nghiệp. Sự chuyển nền công nghiệp từ vị trí "người gây ô nhiễm" thành vị trí
"người làm sạch và bảo vệ môi trường" là một bước tiến bộ mang tính chất cách
mạng của thời đại. Nhiều công nghệ, nhiều giải pháp kỹ thuật, nhiều luật lệ mới đ
về sự tiêu huỷ chất thải, đặc biệt là chất thải hoá học. Hệ thống nghiền nhỏ để chôn
lắp, hệ thống kiểm soát việc phù lấp, kiểm soát nơi lưu giữ, thu gom, vận chuyển,
xử lý và tiêu huỷ chất thải, nhất là chất thải rắn đ được đề cập đến một cách tỷ mỷ
trong qui chế này.
"Chất thải hoá học" đặc trưng cho các loại hoá chất độc, axit, kiềm, các chất
ăn mòn đ được chú ý một cách đặc biệt...
Trên bảng 3 đ trình bày một cách tóm tắt các hoạt động trong quản lý và hệ
thống quản lý chất thải nguy hại của các nước trong khu vực.
Trên bảng 4 đ trình bày khối lượng phát thải chất thải rắn (CTR) bình quân
theo đầu người của một số nước.
Bảng 3: Hệ thống quản lý và các hoạt động trong quản lý chất thải nguy hại
của các nước trong khu vực
Trung
Quốc
Hồng
Kông
ấn
Độ
Malaysia
Philippines
Singapore
Hàn
C
C
K
C
C
K
Liệt kê chất thải
C
K
C
C
C
C
C
K
C
C
C
K
Đăng ký vị trí
tiêu huỷ
K
C
C
C
K
C
C
C
* C: Có ; K: Không
Bảng 4:
Hamburg
Rome
1,8
0,85
0,69
Tunis
Medelin
Kano
Manila
Cairo
0,87
0,85
0,56
0,54
0,46
0,5
0,5
Jakarta
Surbaya
Bandung
Lahore
Karachi
Calcutta
Kapou
0,6
Giấy các loại
2
Gỗ các loại
3
Thuỷ tinh,
Singapore
Brunei
Malaysia
Thailand
Philippines Indonesia
Việt
Nam
28,3
26,0
25,4
18,7
7,7
sành sứ
4
Kim loại
4,8
11,0
6,0
1,9
3,3
4,0
1,0
5
Nhựa
11,8
13,0
3,0
3,2
10,0
6,8
1,0
1,1
8
Thành phần
44,4
37,0
48,6
45,5
44,5
82
50,3
T
T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Tên nước/ thành phố
Nhật Bản
Đan Mạch
Thuỵ Sỹ
Thuỵ Điển
Bỉ
Đức
7
13
44
70
46
54
50
34
18
14
19
20
9
18
10
3
100
Không rõ
10
Không rõ
Không rõ
Chôn lấp hợp
vệ sinh (%)
18
21
21
30
0
0
0
Cần nhấn mạnh rằng các nước trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều
phương pháp để xử lý chất thải rắn. Tỷ lệ xử lý chất thải rắn (%) bằng các phương
pháp đốt, chôn lấp hợp vệ sinh, xử lý sinh học v.v. đều rất khác nhau.
Như chúng ta đ thấy từ bảng 6, Nhật Bản là nước đ sử dụng phương pháp
thu hồi chất thải rắn cao nhất thế giới (chiếm 38%), sau đó đến Thuỵ Sỹ (33%),
trong lúc đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt chất thải rắn (100%). Pháp là
nước đ sử dụng phương pháp vi sinh nhiều nhất (30%) trong việc xử lý chất thải
rắn đô thị.
Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc
xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (Bangkok) (84%), Anh (83%),
Liên bang Nga (Mascơva, 80%), Tây Ban Nha (80%).
Trên hình 2 đ mô hình hoá hệ thống quản lý chất thải nói chung và chất
thải rắn nguy hại nói riêng của các nước trên thế giới.
Việc phân loại và việc xử lý chất thải rắn ở Nhật Bản đ được trình bày trên
hình 3. Như chúng ta đ thấy rõ trên hình 3, việc phân loại và việc xử lý chất thải
rắn ở Nhật Bản rất hợp lý và có thể đây là một mô hình để chúng ta nghiên cứu và
vận dụng vào thực tế ở Việt Nam.
Hình 3: Phân loại và xử lý chất thải rắn ở Nhật Bản
(Nguồn: xử lý rác và chế biến thành phân bón - Viện tư vấn Nhật Bản 1993)
Phân loại
phế thải
Giấy, rác hữu cơ,
sợi, cây, cỏ
Compost
Phân bón,
chất cải tạo
đất trồng
Lượng
xử lý
theo kế hoạch
Kim loại,
thuỷ tinh
Nghiền
Giảm thể tích
Thu hồi chất
tái chế
Chôn
Chất tái chế
Chất không
cháy được
Đá, cát, đồ
sành sứ,
gạch vụn
ước tính khoảng trên 19.000 tấn, trong đó bao gồm:
- Chất thải công nghiệp:
khoảng 10.200 tấn.
- Chất thải bệnh viện:
khoảng 250 tấn.
- Chất thải sinh hoạt:
khoảng 9.000 tấn.
Như vậy, ước tính trong vòng 20 năm qua, tổng lượng chất thải rắn có thể lên
đến 130 triệu tấn gồm:
- Chất thải công nghiệp:
60 triệu tấn.
- Chất thải bệnh viện:
6 triệu tấn.
- Chất thải sinh hoạt:
64 triệu tấn.
Với tỷ lệ thu gom hiện nay là 50% thì trong vòng 20 năm qua lượng chất
thải, trong đó có cả chất thải nguy hại còn tồn đọng trong môi trường hiện nay
khoảng 65 triệu tấn. Ngoài ra còn phải kể đến một khối lượng lớn phân bắc và nước
thải thải ra từ sinh hoạt đô thị trong vòng 20 năm qua cũng lên đến 125 triệu tấn.
Hình 4: Tổ chức quản lý chất thải rắn ở Nhật Bản
(Nguồn: xử lý rác và chế biến thành phân bón - Viện tư vấn Nhật Bản 1993)
Nhà nước
- Xây dựng
cơ sở xử lý
phế thải chung
- Xây dựng
Người
thải rác
nhà máy
Uỷ
thác
Người được uỷ thác
Cho
phép
Người xử lý
phế thải
- Hợp tác với
quận, huyện về
biện pháp
loại thải
thích hợp
Việc quản lý chất thải hiện nay trong phạm vi toàn quốc còn yếu, chủ yếu
tập trung vào các vấn đề sau đây:
Tỷ lệ thu gom rác thải chỉ mới đạt được khoảng 50% được chia ra như sau:
- Chất thải bệnh viện thu gom được khoảng 53%.
- Chất thải công nghiệp thu gom được khoảng 48%.
- Chất thải sinh hoạt thu gom được khoảng 49%.
Thành phần chất thải rắn gồm chủ yếu các loại sau đây:
- Chất hữu cơ:
thải, đặc biệt là các loại chất thải rắn nguy hại gây ra.
Trong lnh vực y tế cũng đ nghiên cứu và đề xuất được Quy chế Quản lý
chất thải y tế.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng
các loại hoá chất và thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp và ảnh hưởng
của các loại phế thải, bao bì đối với môi trường và đối với sức khoẻ của cộng đồng
cũng đ được tiến hành. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đ đề ra
nhiều Quy chế về sản xuất, đóng gói, lưu thông, phân phối, kinh doanh sử dụng các
thuốc bảo vệ thực vật và các hoá chất dùng trong nông nghiệp cũng như Quy chế
về sự tiêu huỷ các loại phế thải nhằm tránh nhiễm bẩn môi trường và không ảnh
hưởng đối với sức khoẻ của con người.
Cũng cần nhấn mạnh rằng trong năm 1997-1998 Cục Môi trường phối hợp
với các chuyên gia ERM đ tiến hành kiểm kê chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam
và đ thu được nhiều thông tin về khối lượng và bản chất của chất thải rắn nguy hại
và đ tiến hành dự toán khả năng phát sinh các chất thải rắn nguy hại cũng như
nguồn phát sinh ra chúng. Đây là những dẫn liệu hết sức quan trọng và rất quý báu
đối với quá trình thực thi nhiệm vụ này.
Đặc biệt chỉ thị số 199/TTg về những biện pháp cấp bách trong công tác
quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp và Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Quy chế Quản lý chất thải nguy hại số
155/1999/QĐ/TTg đều là những văn bản hết sức quan trọng trong việc quản lý và
xử lý chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam.
Phần thứ hai
triển khai và thực thi nhiệm vụ
Chương 3
3.3.4.2. Hệ thống xử lý chất thải rắn nguy hại trong một số ngành công nghiệp như
công nghiệp điện tử, công nghiệp hàn, công nghiệp nhuộm,, công nghiệp dệt, công
nghiệp hóa chất và công nghiệp chế biến thực phẩm.
3.4. Phạm vi nghiên cứu: Nhiệm vụ này được triển khai trong cả nước.
3.5. Phương pháp nghiên cứu. Để hoàn thành nhiệm vụ này, các phương pháp
nghiên cứu sau đây đ được áp dụng:
3.5.1. Phương pháp điều tra thống kê bằng cách gửi phiếu thăm dò đến các
tỉnh trong toàn quốc và bằng cách phỏng vấn trực tiếp những người có trách nhiệm
hoặc nhân dân ở các điểm điều tra.
3.5.2. Phương pháp đánh giá nhanh sử dụng hệ số phát thải.
3.5.3. Phương pháp khảo sát thực địa.
3.5.4. Phương pháp ngoại suy
Chương 4.
các văn bản pháp quy và kỹ thuật làm cơ sở cho việc
thống kê chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam.
Trong quá trình thực thi nhiệm vụ này, chúng tôi đ dựa vào các văn bản
pháp quy và kỹ thuật mà Nhà nước và các Bộ, các Ngành hữu quan đ ban hành từ
trước đến nay:
1. Luật BVMT, do Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành số No29-L/CTN, 10/1/1994.
2. Nghị định số 175 ngày 18/10/1994: Hướng dẫn thi hành Luật BVMT
2a. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý chất
thải nguy hại số 155/1999/QĐ-TTg
3. Luật Hàng hải Việt Nam, 30/6/1990
4. Luật Lao động, 1991
5. Luật Bảo vệ sức khỏe cộng đồng, 1991
6. Luật Dầu mỏ, 7/1993
7. Luật đất đai, 7/1993
8. Luật Khoáng sản, 20/3/1996
phi thương hàng hóa dịch vụ
14. Quyết định của Bộ TM số 96-TM/XNK, 14/1/1995: Danh mục hàng hóa cấm
xuất nhập khẩu
15. Quy định về sản xuất, đăng ký, buôn bán, tàng trữ và thải bỏ thuốc trừ sâu (ban
hành cùng với Quyết định số 100 của Bộ NNPTNT
26. Quyết định của Bộ NNPTNT số 150 NN-BVTV/QĐ, 10/3/1995 về những quy
định kiểm soát thuốc trừ sâu
27. Quyết định của Bộ trưởng Bộ KHCNMT số 229-QĐ/TDC, 25/3/1995 về tiêu
chuẩn môi trường TCVN 5937-1995: Các tiêu chuẩn chất lượng không khí xung
quanh, TCVN 5938-1895: Nồng độ cực đại cho phép của các hợp chất nguy hại
trong không khí xung quanh, TCVN 5943-1995: Tiêu chuẩn chất lượng nước ven
hồ, TCVN 5944-1995: Tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm, TCVN 5945-1995: Tiêu
chuẩn nước thải công nghiệp, TCVN 5946-1995: Tiêu chuẩn nước thải
28. Thông tư của Bộ KHCNMT số 715/MTg, 3/4/1995: Hướng dẫn về thiết lập các
Dư án đầu tư nước ngoài
29. Quyết định của Bộ NNPTNT số 252-QĐ/NN/BVTV, 17/4/1995 về đăng ký
chính thức và bổ sung đối với một số thuốc trừ sâu trong danh mục thuốc trừ sâu
được phép sử dụng và sử dụng hạn chế ở Việt Nam
30. Nghị định của Chính phủ số 27/CP, 20/4/1995: Quản lý sản xuất và sử dụng vật
liệu nổ công nghiệp
31. Thông tư của Bộ KHCNMT số 1350/TT-KCM, 2/8/1995: Hướng dẫn thi hành
Nghị quyết của Chính phủ số 02/CP, 5/1/1995 về việc buôn bán có điều kiện các
hóa chất độc, các chất phóng xạ, chất thải và bán sản phẩm kim loại và hóa chất
nguy hại trong chất thải tại thị trường trong nước
32. Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học (Dự án GEF/GBI) đ được
Chính phủ phê duyệt ngày 22/12/1995
33. Thông tư số 3370/TT-MTg, 22/12/1995 của Bộ KHCNMT: Hướng dẫn tạm thời
về khắc phục những sự cố môi trường do cháy và nổ dầu
34. Thông tư số 2262/TT-MTG, 29/12/1995 của Bộ KHCNMT: Hướng dẫn tạm
thời về khắc phục những sự cố tràn dầu