Luận án tiến sĩ Đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 40

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

ễNG TH HNG

ĐảM BảO AN SINH Xã HộI
TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh : Kinh t chớnh tr
Mó s
: 62 31 01 01

tóm tắt Luận án tiến sĩ kinh tế

Hà Nội - 2015


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ
khi tái lập đến nay, Hà Nội vẫn giữ vững là đầu tàu trong phát triển kinh tế xã hội và là “điểm sáng” trong giải quyết các vấn đề về an sinh xã hội. Tuy
nhiên, đánh giá khách quan phải thấy, việc đảm bảo an sinh xã hội cho
người dân còn khá nhiều hạn chế: Là thủ đô nhưng số hộ nghèo còn cao,
công tác giảm nghèo còn thiếu tính bền vững, số hộ tái nghèo còn chiếm tỷ
lệ cao; giá cả hàng hóa tiêu dùng cho người dân ngày càng đắt so với mức
thu nhập trung bình của người dân; …So với thủ đô của một số nước đang
phát triển, thủ đô Hà Nội còn nhiều hạn chế trong việc hoạch định chính
sách mang tính chất chiến lược, vĩ mô cho quá trình phát triển bền vững, hội
nhập toàn diện với khu vực thế giới. Vì vậy, làm gì và làm thế nào để thành
phố Hà Nội đảm bảo an sinh xã hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền
vững cả về xã hội và bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển thủ đô văn

Luận án nghiên cứu đảm bảo an sinh xã hội ở thành phố - trực thuộc
Trung ương, là thành phố đặc biệt - Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
+ Luận án nghiên cứu đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố
Hà Nội xét trên các phương diện hoạt động nhiệm vụ, yêu cầu của đảm bảo
an sinh xã hội.
+ Đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội có nội dung
rộng lớn. Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu đảm bảo an sinh xã hội với ba
trụ cột chính: bảo hiểm xã hội, thị trường lao động và trợ giúp xã hội, xóa
đói giảm nghèo.
+ Luận án đi sâu nghiên cứu các điều kiện đảm bảo an sinh xã hội trên
địa bàn thành phố Hà Nội trên ba trụ cột chính nêu trên và tập trung nghiên
cứu về: cơ chế, chính sách, nguồn lực tài chính và nguồn lực con người…
góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đối tượng
thụ hưởng an sinh xã hội là dân cư trên địa bàn thành phố Hà Nội; những tác
động của cơ chế, chính sách đến đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là các
chính sách về an sinh xã hội như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, giáo dục đào tạo, giải quyết việc làm, đất đai…
- Về không gian: Luận án nghiên cứu đảm bảo an sinh xã hội trên địa
bàn thành phố Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu phạm vi mẫu 500 phiếu điều
tra bảng hỏi đối với người dân ở 5 quận (Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hà
Đông; Cầu Giấy); 5 huyện (Ba Vì, Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Từ
Liêm) và 100 phiếu để điều tra đội ngũ cán bộ ở một số quận huyện, xã
phường trên địa bàn thành phố Hà Nội (Hoàn Kiếm, Từ Liêm, Đan Phượng,
Ba Vì và Hoài Đức) để điều tra nghiên cứu phục vụ cho đánh giá thực trạng
đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu vấn đề đảm bảo an sinh xã hội trên
địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến nay. Các số liệu thống kê, phân
tích chủ yếu trong 5 năm gần đây và dự báo những yêu cầu đảm bảo an sinh xã

địa bàn thành phố Hà Nội.
- Phân tích đúng đắn, xác thực, khoa học về thực trạng đảm bảo an
sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: Những kết quả đạt
được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đảm bảo tốt
an sinh xã hội, góp phần phát triển bền vững về kinh tế - xã hội trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án được kết cấu thành 04 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ
ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI

1.1.1. Nghiên cứu về đảm bảo an sinh xã hội của một số quốc gia
trên thế giới
1.1.1.1. Những nghiên cứu của các học giả ngoài nước
Tác giả James Midgley trong cuốn sách “Basis of social security in
Asia: mutual aid, micro-insurance and social security” (Cơ sở an sinh xã


4

hội ở châu Á: Viện trợ lẫn nhau, bảo hiểm vi mô và an sinh xã hội) công bố
tháng Hai năm 2011. Tác phẩm “Social Security, Medicare & Government
Pensions” (2012) (an sinh xã hội, chăm sóc y tế và trợ cấp chính phủ) của
Joseph Matthews Attorney đi sâu bàn về lợi ích và hệ thống chăm sóc y tế, nhà
ở xã hội, tiền lương hưu, chính sách cho những người có công với đất nước và
cách thức để đảm bảo bảo hiểm y tế tốt nhất. Trong công trình “Đảm bảo an

tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động An sinh xã hội” của tác giả Lương Tuấn
Anh. “An sinh xã hội ở Việt Nam Lũy tiến đến mức nào?” của nhóm tác giả


5

Martin Evans, Ian Gough, Susan Harkness, Andrew McKay, Đào Thanh
Huyền và Đỗ Lê Thu Ngọc. “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới chính sách
đảm bảo xã hội trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do tác giả Đỗ Minh Cương thực hiện. “Chính
sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn Văn Chiều.
- Hội thảo, hội nghị khoa học bàn về an sinh xã hội
Hội thảo quốc tế về “An sinh xã hội cho khu vực phi chính thức: Vấn
đề và triển vọng” đã được tổ chức trong hai ngày 28-29/3/2012 tại Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam. Hội thảo trao đổi về các chủ đề xoay quanh 2
trục chính là: i) Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam và ii) Lao động khu vực
phi chính thức và các vấn đề về an sinh xã hội của khu vực này. Hai nội
dung chính này được trao đổi và thảo luận trong 6 phiên họp: Phiên “Những
vấn đề lý luận, chính sách về an sinh xã hội”. Viện Khoa học Lao động và
Xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) tổ chức Hội thảo tham vấn
"Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an an sinh xã hội)…
1.1.2.3. Luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế ngành Quản lý kinh tế “Chính sách an sinh xã
hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công
nghiệp (Nghiên cứu tại Bắc Ninh)” của tác giả Nguyễn Văn Nhường. Luận
án tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Văn Chiều “Chính sách an sinh xã
hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở
Việt Nam”. Luận án “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam” của tác giả Mai Ngọc Anh. “Nghiên cứu hiệu quả Báo chí

Nội với các biện pháp trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” của
Nguyễn Thế Quang. “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn: Các
giải pháp tạo thêm việc làm” của TS. Nguyễn Tiệp. “Một số giải pháp tạo việc
làm gắn với giải quyết các vấn đề xã hội tại Hà Nội” của TS. Nguyễn Tiệp.
1.2. NHẬN XÉT CHUNG VỀ NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ
NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG KHOẢNG
TRỐNG CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN VỀ ĐẢM BẢO AN
SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.2.1. Nhận xét chung về những công trình khoa học đã nghiên
cứu có liên quan đến đề tài luận án
Hầu hết các công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích rõ cơ sở lý
luận về khái niệm, vai trò của an sinh xã hội. Các công trình đã cho tác giả
có có cái nhìn toàn diện về cấu trúc, mô hình của an sinh xã hội, hướng
nghiên cứu an sinh xã hội đưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, tùy thuộc
mục đích, nhiệm vụ và chuyên môn, lĩnh vực nghiên cứu. Góp phần đưa ra
những luận cứ, luận chứng thuyết phục về thực trạng an sinh xã hội đối với
người dân (nhất là đối tượng yếu thế trong xã hội) hiện nay. Trên cơ sở nghiên
cứu thực trạng, các công trình khoa học đã phân tích các nguyên nhân
(khách quan, chủ quan, chủ yếu, thứ yếu) tác động đến quá trình thực hiện,
triển khai an sinh xã hội trong thời gian qua.
Mặc dù đạt được những kết quả đáng thuyết phục nhưng trên thực tế,
vẫn còn những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu, đó là: Thứ nhất,
bản chất của “Đảm bảo an sinh xã hội” và “Đảm bảo an sinh xã hội cho người
dân thành phố” chưa được giải quyết một cách có hệ thống thấu đáo; Thứ hai,
cấu trúc của an sinh xã hội hiện vẫn còn chưa thống nhất, xuất hiện những
khái niệm mới thuộc trụ cột của an sinh xã hội nhiều công trình khoa học,


7

quan đến mục đích của đề tài; nghiên cứu tầm quan trọng của việc giải đảm
bảo an sinh xã hội trên địa bàn thủ đô Hà Nội thủ đô đảm bảo phát triển bền
vững; đánh giá khoa học thực trạng việc đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn
thủ đô Hà Nội; phương hướng và giải pháp toàn diện để đẩy mạnh và hiệu
quả của vấn đề. Đây chính là xuất phát điểm của việc nghiên cứu chuyên đề
tổng quan.


8

Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢM BẢO AN
SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ

2.1.1. Khái niệm
2.1.1.1. An sinh xã hội và những trụ cột cơ bản
* Khái niệm an sinh xã hội
Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của các tổ chức, các nhà khoa
học trong và ngoài nước, theo tác giả: An sinh xã hội là việc Nhà nước và xã
hội sử dụng các công cụ, biện pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc
phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu
nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp,
thương tật, tuổi già; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các
gia đình đông con.
Với cách tiếp cận trên đây, cấu trúc của an sinh xã hội bao gồm: Các
chính sách, chương trình mang tính chất phòng ngừa rủi ro; Các chính sách,
chương trình mang tính chất giảm thiểu rủi ro và các chính sách, chương

điều kiện nhằm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà
nước và của địa phương trong quá trình đảm bảo an sinh xã hội cho người dân.
Thứ hai, chủ thể thụ hưởng của việc đảm bảo an sinh xã hội trên địa
bàn thành phố là những người dân yếu thế, chịu nhiều rủi ro do yếu tố khách
quan mang lại. Đây là những đối tượng thành phố cần phải huy động các
điều kiện cần thiết để đảm bảo tốt nhất cuộc sống cho họ.
Thứ ba, chủ thể tham gia vào việc đảm bảo an sinh xã hội là Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội, cá nhân và bản thân đối tượng được thụ
hưởng. Việc huy động nguồn lực cho đảm bảo an sinh xã hội được tiến hành
theo hình thức xã hội hóa.
Thứ tư, mục tiêu quan trọng của việc đảm bảo an sinh xã hội trên địa
bàn thành phố là nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội
gắn với việc bảo vệ môi trường cho thành phố trong quá trình hội nhập, phát
triển kinh tế.
2.1.2. Đặc điểm của đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố
- Đối tượng thụ hưởng an sinh xã hội trên địa bàn thành phố rất đa
dạng và phong phú do đó, khả năng bao phủ của các chính sách an sinh xã
hội đến tất cả các thành viên trong xã hội là rất khó khăn.
- Chủ thể tham gia đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố chủ
yếu là Nhà nước và các tổ chức xã hội.
- Lực lượng thực thi (tổ chức bộ máy nghiên cứu, hoạch định chính
sách và theo dõi hoạt động trong lĩnh vực đảm bảo an sinh xã hội) ở địa bàn
thành phố thường đảm bảo tốt hơn chất lượng so với lực lượng thực thi ở
những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.
-Nguồn lực tài chính đảm bảo an sinh xã hội ở thành phố mặc dù được
quan tâm hơn so với những địa phương khác song vẫn còn gặp nhiều khó
khăn trong quá trình huy động và giải ngân.
-Chính sách đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố thường bị
lạc hậu nhanh hơn các địa bàn khác do tác động của quá trình phát triển khu
công nghiệp, khu chế xuất và đô thị lớn.

- Sự hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ cán bộ ảnh hưởng
đến hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố
- Khả năng “tự an sinh” của người dân là yếu tố trực tiếp, quan trọng
nhất quyết định đến đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố
2.3. KINH NGHIỆM ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.3.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và địa phương
Việt Nam trong việc đảm bảo an sinh xã hội
2.3.1.1. Kinh nghiệm đảm bảo an sinh xã hội của một số nước trên
thế giới
 Kinh nghiệm đảm bảo an sinh xã hội của Trung Quốc
 Kinh nghiệm về đảm bảo an sinh xã hội từ Ấn Độ.
2.3.1.2. Kinh nghiệm đảm bảo an sinh xã hội của một số địa phương
trong nước
 Kinh nghiệm từ việc đảm bảo an sinh xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh
* Kinh nghiệm đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng


11

2.3.2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra về đảm bảo an sinh xã hội
cho Thành phố Hà Nội
Thứ nhất, chỉ đạo và tổ chức thực thi đồng bộ, hiệu quả các chính sách
đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội; Thứ hai, xây dựng,
ban hành các quy định đặc thù về đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành
phố với tư cách là Thủ đô; Thứ ba, huy động, phát triển và tổ chức các lực
lượng tham gia bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố, đặc biệt đẩy
mạnh khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đóng góp vào hệ thống an
sinh xã hội trên địa bàn thành phố; Thứ tư, huy động, phân bố và sử dụng

12

vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17
huyện ngoại thành. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm
2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km².
3.1.2. Điều kiện kinh tế - kỹ thuật
Là trung tâm chính trị của cả nước, Hà Nội được ưu tiên đầu tư phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội và là nơi có môi trường đầu tư hấp dẫn hàng
đầu của đất nước. Nhiều tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp trong và ngoài
nước đã và đang mong muốn đầu tư vào Hà Nội. Trong hơn 5 năm qua, kể
từ khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính kinh tế Hà Nội vẫn tăng trưởng
liên tục với tốc độ cao. Tốc độ tăng trưởng GDP của Hà Nội qua các giai
đoạn đều cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước khoảng 4%.
Nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hà
Nội triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội phát triển kinh tế theo cơ cấu mạnh về dịch
vụ, du lịch. Tuy nhiên trong lĩnh vực công nghiệp, thành phố đã xây hoàn
chỉnh 9 khu công nghiệp, 11 cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Số cơ sở sản xuất
công nghiệp trên địa bàn ngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao so với
các địa phương trong cả nước (Năm 2005, số cơ sở sản xuất công nghiệp
trên địa bàn thành phố là 83 479 cơ sở, đến năm 2012, tăng lên thành 94 682
cơ sở).
3.1.3. Điều kiện xã hội
Về dân số: Hà Nội là nơi có nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác
đến công tác, lập nghiệp. Năm 2011, tổng dân số Hà Nội đạt xấp xỉ 6,9 triệu
người, chiếm 7,8% dân số toàn quốc. Thời kỳ 2008 - 2012 tốc độ tăng dân
số bình quân hàng năm đạt 3,7%, cao nhơn rất nhiều so với tốc độ tăng dân
số toàn quốc. Về giáo dục: Năm 2009, Hà Nội có 677 trường tiểu học, 581
trường trung học cơ sở và 186 trường trung học phổ thông với 27.552 lớp
học, 982.579 học sinh. Về nhà ở cho người dân: Là thủ đô của một quốc gia

lao động và người dân được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả
- Việc thực hiện vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Thành phố Hà Nội
Sau khi sáp nhập Hà Tây về thành phố Hà Nội, tỷ lệ hộ nghèo có xu
hướng tăng lên. Nhất là, ở khu vực nông thôn ngoại thành số hộ được ra
khỏi danh sách người nghèo (thoát nghèo) nhưng thiếu bền vững. Hiện nay,
số hộ nghèo 148.148 hộ, chiếm 9,6% tổng số hộ chung toàn thành phố
(trong đó có 2.008 hộ nghèo thuộc diện chính sách người có công, 21.831 hộ
nghèo có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, có 11.250 hộ có
người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, gia đình không có khả năng thoát
nghèo, 2.826 hộ nghèo có thành viên là người dân tộc thiểu số, 49.257 hộ
nghèo có chủ hộ là nữ).
- Giải quyết việc việc làm (thị trường lao động) cho người lao động ở
Thành phố Hà Nội thời gian quan
Sau khi nhập tỉnh (Hà Nội - Hà Tây) dưới tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế, Hà Nội gặp nhiều khó khăn song đối với chỉ tiêu về công tác
lao động việc làm đã đạt được một số thành tựu như sau: Một là, chủ chương
giải quyết việc làm cho lao động được thành phố Hà Nội triển khai đồng bộ
và kịp thời; Hai là, tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, đặc biệt
là lao động di cư từ các vùng miền khác lên thành phố Hà Nội làm ăn, học
tập và sinh sống; Ba là, công tác tuyên truyền về việc làm và xuất khẩu lao
động bước đầu được triển khai sâu rộng, hiệu quả; Bốn là, công tác đào tạo,
mô hình đào tạo, trung tâm dạy nghề được mở rộng; Năm là, nhiều địa


14

phương trú trọng ngành nghề truyền thống, giữ gìn bản sắc dân tộc của từng
địa phương.
3.2.2. Việc thực hiện các điều kiện đảm bảo an sinh xã hội trên địa
bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến nay

hoặc rất quan trọng, trong khi đó có 60% cho rằng quan trọng và rất quan
trọng. Có thể thấy, kết quả thu được có sự chênh lệch khác nhau ở mức độ
(1) và (2), còn cơ bản đều trên 50% khẳng định tầm quan trọng của việc đảm


15

bảo an sinh xã hội đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế
quốc tế trên địa bàn thành phố.
* Nhận thức của cán bộ, người dân về đảm bảo an sinh xã hội đối với
công bằng xã hội và phát huy giá trị nhân văn của dân tộc
Tác giả Luận án đã đưa ra câu hỏi điều tra nghiên cứu: Ông (Bà) hãy
đánh giá về tầm quan trọng của việc đảm bảo an sinh xã hội đối với công
bằng xã hội và phát huy giá trị nhân văn của dân tộc ở địa phương?. Câu
hỏi này, đã thu được kết quả điều tra nghiên nghiên cứu như sau: Về phía
đội ngũ cán bộ an sinh xã hội và các cấp Đảng, chính quyền đều nhấn mạnh
đến tầm quan trọng đặc biệt việc đảm bảo an sinh xã hội đến việc công bằng
và phát huy giá trị nhân đạo, nhân văn của dân tộc (94% ý kiến được hỏi cho
rằng: Việc đảm bảo an sinh xã hội quan trọng và rất quan trọng đối trong
việc đảm bảo công bằng xã hội và phát huy giá trị truyền thống nhân văn của
dân tộc). Về phía người dân, do chưa nhận thức đầy đủ về khái niệm, cấu
trúc, chức năng của an sinh xã hội nên còn 8% cho rằng nội dung tiêu chí
này không quan trọng hoặc ít quan trọng. Song vẫn có 69% ý kiến người dân
được điều tra cho rằng quan trọng và rất quan trọng.
3.2.2.2. Thực trạng nguồn lực tài chính đảm bảo an sinh xã hội trên
địa bàn Thành phố Hà Nội
Năm 2012, tổng dân số thành phố Hà Nội đạt 6,96 triệu người, chiếm
7,84% tổng dân số toàn quốc, tăng thêm 0,71 triệu người so với năm 2008.
Giai đoạn 2008-2012, tốc độ tăng dân số bình quân mỗi năm đạt 2,3%, cao
hơn rất nhiều so với tốc độ tăng dân số của toàn quốc. Xét về tốc độ tăng

Về thu bảo hiểm xã hội: Năm 2012, tổng thu quỹ bảo hiểm xã hội đạt
15.333 tỷ đồng, tăng gấp 3,2 lần so với năm 2008 (4.184,25 tỷ đồng). Về
cân đối thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội: Mặc dù thu quỹ bảo hiểm xã hội có
xu hướng tăng nhanh cùng với xu hướng tăng lực lượng lao động tham gia
bảo hiểm xã hội, song do mức chi quỹ bảo hiểm xã hội tăng nhanh hơn thu
quỹ bảo hiểm xã hội, nên tỷ lệ chi/thu càng gia tăng, từ khoảng 69% năm
2008 lên 76,2% vào năm 2012, cho thấy nguy cơ bất ổn về quỹ rất lớn.
* Nguồn lực tài chính đảm bảo thực hiện chính sách trợ giúp xã hội
Thời kỳ 2008-2012 nguồn ngân sách đầu tư thực hiện chính sách trợ giúp
xã hội của thành phố Hà Nội có xu hướng tăng mạnh, đạt tốc độ tăng bình
quân 51,3%/năm, tuy nhiên năm 2012 mức đầu tư đạt 1.045 tỷ đồng, giảm
nhiều so với năm 2011 (83,7 tỷ đồng). Trong đó, chủ yếu là từ ngân sách thành
phố Hà Nội (chiếm hơn 90% trong tổng ngân sách đầu tư), đạt tốc độ tăng bình
quân 51,8%/năm và ngân sách xã hội hóa huy động từ các nguồn khác đạt tốc
độ tăng bình quân 42,9%/năm. Ngân sách chi cho trợ cấp xã hội thường xuyên
và đột xuất năm 2012 đạt 719,7 tỷ đồng, tăng 6,7 lần so với năm 2008 (108 tỷ
đồng) và tốc độ tăng bình quân thời kỳ 2008-2012 đạt 60,7%/năm (trợ cấp xã
hội thường xuyên) và 59,3% (trợ cấp xã hội đột xuất).
3.2.2.3. Thực trạng về các chủ trương, chính sách đảm bảo cho
chương trình an sinh xã hội Thành phố Hà Nội
Trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ,
chính quyền thành phố Hà Nội vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể trên
địa bàn thành phố, trong phương hướng phát triển thủ đô giai đoạn 2010 2015, Nghị quyết đại hội Đại biểu lần thứ XV Đảng bộ thành phố Hà Nội
đã nhấn mạnh: Phát triển kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, hài hòa
với phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống
nhân dân, làm động lực thúc đẩy phát triển Vùng Thủ đô. Để đạt được
được Phương hướng nêu trên, các Nghị quyết Đại biểu lần thứ XV Đảng
bộ thành phố đã nêu ra cụ thể chủ trương trong từng lĩnh vực cụ thể: Về



Đến 31/12/2008 bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội có 40 đơn vị trực
thuộc, trong đó 11 phòng nghiệp vụ, 29 bảo hiểm xã hội quận, huyện, thành
phố; với 956 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó 329 cán bộ, công chức,
viên chức làm việc tại văn phòng bảo hiểm xã hội thành phố, 627 cán bộ,
công chức, viên chức làm việc tại bảo hiểm xã hội quận, huyện. Thực hiện
Nghị định 94/2008/NĐ - CP của Chính Phủ và Quyết định số 4969/QĐ - bảo
hiểm xã hội ngày 10/11/2008 của bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm xã
hội thành phố đã sắp xếp ổn định tổ chức, cán bộ 5 theo cơ cấu 10 phòng
nghiệp vụ để hoạt động có hiệu quả ngay từ những ngày đầu năm 2009. Đến
31/12/2009, bảo hiểm xã hội thành phố có 40 đơn vị trực thuộc, với 936 cán


18

bộ công chức viên chức trong đó có 324 làm việc tại văn phòng, 612 cán bộ
công chức, viên chức làm việc tại bảo hiểm xã hội huyện.
* Chất lượng đội ngũ cán bộ thực thực hiện chính sách an sinh xã hội
Với câu hỏi điều tra về chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ trong
lĩnh vực an sinh xã hội cấp cơ sở: Đánh giá của Ông/Bà về đội ngũ cán bộ
hoạt động trong lĩnh vực lao động - xã hội ở địa phương? Với kết quả thu
được sau câu hỏi trên như sau, ta thấy rằng: Về trình độ chuyên môn của
đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực Lao động - Xã hội ở mức độ trung bình chiếm
tỷ lệ cao 62%, mức độ đánh giá tốt và rất tốt chiếm 23%. Trong khi đó vẫn
còn 4% cán bộ được đánh giá là yếu và kém. Kết quả thu được như trên cho
thấy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực này ở
mức độ trung bình là chủ yếu. Về thái độ với nhân dân, tinh thần trách
nhiệm với công việc: Chủ yếu chỉ được người dân đánh giá ở mức độ trung
bình với 62%, tốt và rất tốt chiếm 41%. Điều đó cho thấy đa số cán bộ chính
sách có trách nhiệm với công việc, luốn chú ý duy trì mối quan hệ tốt với
quần chúng nhân dân.

hộ nghèo và cận nghèo. Phần lớn hộ gia đình dành khoản thu nhập còn dư để
đầu tư cho sản xuất kinh doanh (51,9%). Có 27,3% hộ gia đình có thói quen
tiết kiệm dưới hình thức tiết kiệm dự phòng tại nhà, hoặc gửi tiết kiệm tại
ngân hàng. Chỉ có 7,3% hộ gia đình lựa chọn mua bảo hiểm để đề phòng
những trường hợp rủi ro mất thu nhập.
3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG

3.3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, việc đảm bảo an sinh xã hội ở thành phố Hà Nội đã tạo động
lực quan trọng cho sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, việc huy động nguồn lực tài chính cho việc đảm bảo an sinh
xã hội cho người dân ngày càng được mở rộng và hiệu quả
Thứ ba, đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng tăng
nhanh về số lượng và chất lượng
Thứ tư, công tác tuyên truyền về việc đảm bảo an sinh xã hội cho người
dân trên địa bàn thành phố được đẩy mạnh, đa dạng với nhiều phương thức
và biện pháp khác nhau.
Thứ năm, đời sống nhân dân được nâng cao tạo sự công bằng, ổn định
trong đời sống nhân dân và xã hội
3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quá trình đảm bảo an sinh xã
hội cho người dân Thành phố Hà Nội
Một là, Chủ chương, chính sách của Đảng bộ, chính quyền thành phố Hà
Nội về đảm bảo an sinh xã hội cho người dân (nhất là người dân nghèo, người
dân yếu thế…)
Hai là, nguồn lực thực hiện an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn Hà
Nội còn nhiều hạn chế đặc biệt là nguồn lực thực hiện cho các vùng sâu, vùng
xa gặp nhiều khó khăn (huyện Ba Vì; huyện Phú Xuyên; Huyện Ứng Hòa…).
Ba là, công tác tuyên truyền, phổ biến về nội dung và yêu cầu của
chính sách an sinh xã hội của thành phố chưa đầy đủ, kịp thời và rõ ràng đối

4.1.1. Dự báo và quan điểm đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn
Thành phố Hà Nội
4.1.1.1. Dự báo về các điều kiện nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho
người dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2020
thành phố Hà Nội đã nghiên cứu, dự báo các nhóm đối tượng được thụ
hưởng an sinh xã hội thời kỳ 2011-2020:
* Dự báo đối tượng chính sách thị trường lao động (giải quyết việc làm)
Hàng năm, số người đến độ tuổi lao động thành phố Hà Nội tăng
nhanh, năm 2011 số người trong độ tuổi lao động khoảng 4,338 triệu người
và đến năm 2015 sẽ là 4,667 triệu người. Như vậy, bình quân tăng hàng năm
khoảng 90.000 người. Với mức tăng như vậy, mỗi năm thành phố có khoảng
180.000 - 200.000 lao động chưa có việc làm. Đồng thời, cầu lao động hàng
năm dao động khoảng 175.000 - 280.000 người.
* Dự báo đối tượng chính sách bảo hiểm xã hội
Phấn đấu mở rộng và tăng nhanh số lao động tham gia bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp, đạt và vượt


21

chỉ tiêu kế hoạch thu bảo hiểm xã hội Việt Nam giao. Đẩy mạnh phát triển,
mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đến năm 2020:
Đạt trên 55% số người trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm xã hội; Đạt
trên 45% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Đạt trên 85%
dân số tham gia bảo hiểm y tế.
* Dự báo đối tượng chính sách trợ giúp xã hội
Đối với 9 nhóm đối tượng thuộc diện nhận trợ giúp xã hội thường xuyên
theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP: đến năm 2015 có khoảng 1,54 triệu người và
đến năm 2020 có 1,7 triệu người. Tổng số đối tượng hưởng trợ giúp xã hội (cả
thường xuyên và đột xuất) đến năm 2015 khoảng 1,84 triệu người, chiếm 2%

22

bảo hiểm xã hội ở thành phố Hà Nội sẽ tăng lên 314 người, trong đó số
lượng cán bộ có trình độ đại học và trên đại học sẽ tăng lên 97%, trình độ
cao đẳng, trung cấp còn 3%.
* Dự báo về khả năng tự “an sinh” của người dân
Số lao động có thể tham gia vào thị trường lao động đến năm 2015 là
4,667 triệu người, trung bình mỗi năm tăng 90.000. Như vậy, dự báo đến
năm 2020, thành phố sẽ có 9,167 triệu người lao động. Chất lượng nguồn
lao động thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng về trình độ văn hoá, chuyên
môn kỹ thuật, trình độ quản lý, khả năng áp dụng những thành tựu khoa học
kỹ thuật vào sản xuất ngày càng tăng cao phù hợp với phát triển nền kinh tế
tri thức và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô.
4.1.1.2. Quan điểm phát triển hệ thống an sinh xã hội trên địa bàn
Thành phố Hà Nội
Thứ nhất, đảm bảo an sinh xã hội phải gắn với tăng trưởng, phát triển
kinh tế của thành phố Hà Nội
Thứ hai, đảm bảo an sinh xã hội phải bao phủ cho mọi đối tượng được
thụ hưởng trên toàn thành phố
Thứ ba, chính sách và đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa
bàn thành phố Hà Nội phải phù hợp với điều kiện, khả năng thực tế sau khi
sát nhập, đồng thời phải có lộ trình, bước đi phù hợp
Thứ tư, Hà Nội cần phát huy tối đa các nguồn lực để đảm bảo an sinh
xã hội cho người dân thông qua công tác “xã hội hóa”
Thứ năm, để đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn thành
phố Hà Nội phải chú trọng vào công tác xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán
bộ chính sách xã hội
Thứ sáu, việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân phải làm cho đời
sống vật chất và tinh thần của đối tượng thụ hưởng được ổn định và khá hơn
trước, phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành

4.2. GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI

4.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức
chính trị, đoàn thể xã hội và người dân tham gia tích cực vào việc đảm
bảo an sinh xã hội
4.2.2. Đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội,
đảm bảo an sinh xã hội cho người dân ngay từng bước và từng chính
sách phát triển của Thành phố Hà Nội
4.2.3. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính đảm bảo
an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội
4.2.4. Tăng cường khả năng tự “an sinh” của đối tượng thụ hưởng
trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
4.2.5. Đổi mới và từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách đảm
bảo an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội
4.2.6. Từng bước xây dựng và phát triển các lực lượng tham gia
bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Tiểu kết chương 4
Trên cơ đánh giá tình hình kinh tế - xã hội mang tính chất đặc thù của
thành phố Hà Nội, do mới sát nhập tỉnh còn nhiều khó khăn, là thủ đô nhưng
số dân sống trong vùng nông thôn, thuộc hộ nghèo còn cao. Những điều kiện


24

để đảm bảo an sinh xã hội cho người dân còn yếu. Việc đưa ra những quan
điểm, phương hướng cho việc phát huy các điều kiện đảm bảo an sinh xã hội
ở thành phố là hết sức quan trọng, luận án bước đầu đã nghiên cứu và căn cứ
trên tình hình các điều kiện trong thời gian và đã đưa ra các dự đoán về
nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, khả năng tự “an sinh” của người dân…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status