LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, phòng Sau đại học, Ban
chủ nhiệm khoa Toán trường Đại học Tây Bắc, các cán bộ, giảng viên trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa
học và thực hiện thành công việc nghiên cứu, hoàn thiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Bùi Duy Hưng, người đã
trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu trường THPH Phan
Đình Giót đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và viết
luận văn. Xin cám ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu đề tài
và hoàn thiện luận văn, song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong quý thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp quan tâm góp ý kiến để luận
văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cám ơn!
Sơn La, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Phan Thị Hồng Liên
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV
Giáo viên
HS
1.1.1. Dạy học phân hóa là gì ? ........................................................................... 6
1.1.2. Tư tưởng chủ đạo của dạy học phân hóa ................................................. 6
1.2. Dạy học giải bài tập toán ........................................................................... 8
1.2.1. Vai trò của bài tập toán.............................................................................. 8
1.2.2. Dạy học phương pháp giải bài toán theo 4 bước của Pôlia .................10
1.2.3. Bài tập phân bậc trong dạy học giải toán..............................................11
1.3. Thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông và việc phân hóa trong
dạy học giải bài tập toán.................................................................................. 16
1.3.1. Điều tra thực tiễn dạy học và dạy học phân hóa ở lớp 10 THPT ........16
1.3.2. Kết quả điều tra thực tiễn ........................................................................17
1.3.3. Đánh giá về dạy học môn Toán ở trường phổ thông và việc phân hóa
trong dạy học giải bài tập toán ...........................................................................18
Chương 2: BIỆN PHÁP THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TẬP PHÂN BẬC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG "PHƯƠNG PHÁP
TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG" ............................................................. 20
2.1. Nguyên tắc và biện pháp thiết kế hệ thống bài tập phân bậc chương
phương pháp tọa độ trong mặt phẳng.............................................................. 20
2.1.1. Nguyên tắc thiết kế ..................................................................................20
2.1.2. Quy trình thiết kế bài tập phân bậc ........................................................20
2.1.3. Những lưu ý khi thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phân bậc trong
dạy học chương phương pháp tọa độ trong mặt phẳng. ..................................22
2.2. Hệ thống bài tập phân hóa chương "Phương pháp tọa độ trong mặt
phẳng" ở lớp 10 THPT. ................................................................................... 28
2.2.1. Bài tập phân bậc về viết phương trình đường thẳng ............................28
1
2.2.2. Bài tập phân bậc về khoảng cách, vị trí tương đối và góc của đường
thẳng ...................................................................................................................35
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đào tạo đã có nhiều chủ
trương đẩy mạnh hoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức với nhiều biện
pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.
Mặt khác, ngoài việc thực hiện đúng chuẩn kiến thức, kỹ năng của
chương trình, giáo viên phải cân đối giữa truyền thụ kiến thức với rèn luyện
kỹ năng cho học sinh trong quá trình giảng dạy. Giáo viên không được lạm
dụng đọc - chép, mà phải hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng tư duy, kỹ
năng tự học.
Căn cứ theo trình độ mà nêu những yêu cầu sát hợp trong việc thực hiện
chương trình, soạn giáo án và hệ thống bài tập. Mỗi bài giảng cần có những
phần thích ứng với từng đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu.
Có thang bậc đánh giá, cho điểm cụ thể cho từng loại đối tượng, căn cứ vào
mức khởi điểm. Vì nếu áp dụng theo một công thức chung cho cả lớp sẽ không
thấy được nỗ lực của những em yếu kém và không tạo động lực cho những em
khá, giỏi. Vô hình chung sự đánh giá đồng loạt là không công bằng.
Hiện nay ở các trường phổ thông, quan điểm phân hoá trong dạy học
chưa được quan tâm đúng mức. Giáo viên chưa được trang bị đầy đủ những
hiểu biết và kỹ năng dạy học phân hóa, chưa thực sự coi trọng yêu cầu phân
hoá trong dạy học. Đa số các giờ học vẫn được tiến hành đồng loạt áp dụng
như nhau cho mọi đối tượng học sinh, các câu hỏi bài tập đưa ra cho mọi đối
tượng học sinh đều có chung một mức độ khó - dễ. Do đó không phát huy
được tính tối đa năng lực cá nhân của học sinh, chưa kích thích được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức, dẫn đến
chất lượng giờ dạy không cao, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục.
3
Vấn đề dạy học sao cho mọi học sinh đều nhận được sự quan tâm thích
- Nghiên cứu lý luận về dạy học phân hóa, sự cần thiết của dạy học
phân hóa trong dạy học phổ thông.
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học chương phương pháp tọa độ trong mặt
phẳng ở lớp 10 một số trường THPH tỉnh Điện Biên.
- Thiết kế hệ thống bài tập có phân bậc, đề xuất những biện pháp sử
dụng chúng trong dạy học chương "phương pháp tọa độ trong mặt phẳng" ở
lớp 10 trung học phổ thông.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của hệ
thống các bài toán và các biện pháp đề xuất trong dạy học ở lớp 10 trung học
phổ thông tỉnh Điện Biên
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp điều tra, quan sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập phân bậc và điều khiển phân hóa
quá trình luyện tập, thực hành của học sinh khi dạy học giải các bài tập
chương phương pháp tọa độ trong mặt phẳng thì chất lượng dạy học nội dung
này sẽ được nâng cao.
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cở sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phân bậc
trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng”
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
5
1.
- Đối sử đặc biệt ngay trong giờ học đồng loạt dựa trên trình độ phát
triển chung của cả lớp.
- Phân hóa dưới sự giúp đỡ của thầy, với vai trò của người thầy thì học
sinh yếu kém cần được giúp đỡ nhiều hơn học sinh khá giỏi.
- Phân hóa bài tập về nhà theo số lượng bài tập, theo nội dung bài tập,theo
yêu cầu về tính độc lập cho học sinh khá giỏi. Ngoài bài tập ra chung cho cả lớp,
cần ra riêng bài tập cho HS yếu kém và ra riêng bài tập cho HS khá giỏi.
- Phân hóa trong việc kiểm tra đánh giá học sinh: Trong quá trình kiểm tra
đánh giá, có thể yêu cầu cao hơn đối với HS khá giỏi, hạ thấp yêu cầu với HS
yếu, kém ở một mức độ nào đó.
* Phân hóa về tổ chức (còn gọi là phân hóa ngoài) tức là hình thành
những nhóm học ngoại khóa, bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS yếu kém,... theo
một chương trình riêng.
Hoạt động ngoại khóa là những hoạt động giáo dục đa dạng nằm ngoài
chương trình và kế hoạch nội khóa, với mục đích nhằm hỗ trợ việc dạy học
nội khóa như: gây hứng thú học tập môn toán cho học sinh, mở rộng đào sâu
kiến thức tạo điều kiện gắn nội dung lý thuyết với thực tế, gắn liền với đời
sống xã hội, học đi đôi với hành, rèn luyện cho học sinh cách thức làm việc
tập thể, tạo điều kiện phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu.
Bồi dưỡng học sinh giỏi:
Trong quá trình học tập bộ môn, có những học sinh có những kiến thức,
kỹ năng và tư duy vượt trội so với các học sinh khác, có khả năng hoàn thành
nhiệm vụ môn học một cách dễ dàng. Đó là những học sinh giỏi bộ môn đó.
Việc bồi dưỡng học sinh giỏi một mặt được tiến hành trong những giờ học
đồng loạt bằng những biện pháp phân hóa, mặt khác được thực hiện bằng
cách bồi dưỡng tách riêng trên nguyên tắc tự nguyện.
7
Thứ hai, trên bình diện nội dung dạy học, những bài tập toán học là giá
mang hoạt động liên hệ với những nội dung nhất định, một phương tiện cài
đặt nội dung để hoàn chỉnh hay bổ sung cho những tri thức nào đó đã được
trình bày trong phần lý thuyết.
Thứ ba, trên bình diện phương pháp dạy học, bài tập toán học là giá
mang hoạt động để người học kiến tạo những tri thức nhất định và trên cơ sở
đó thực hiện các mục tiêu dạy học khác. Khai thác tốt những bài tập như vậy
sẽ góp phần tổ chức cho học sinh tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự
giác, tích cực, chủ động và sáng tạo.
Trong thực tiễn dạy học, bài tập được sử dụng với những dụng ý khác
nhau về phương pháp dạy học: Đảm bao trình độ xuất phát, gợi động cơ, làm
việc với nội dung mới, củng cố hoặc kiểm tra… Đặc biệt là về mặt kiểm tra,
bài tập là phương tiện để đánh giá mức độ kết quả dạy và học, khả năng làm
việc độc lập và trình độ phát triển của học sinh… Một bài tập cụ thể có thể
nhằm vào một hay nhiều dụng ý trên.
Môn toán có khả năng to lớn giúp học sinh phát các năng lực trí tuệ
như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đặc biệt hóa, khái quát hóa… Rèn luyện
những phẩm chất, đức tính của người lao động mới như: tính cẩn thận, chính
xác, tính kỷ luật, khoa học sáng tạo…
“Ở trường phổ thông, dạy toán là dạy hoạt động toán học. Đối với học
sinh có thể xem giải toán là hoạt động chủ yếu của hoạt động toán học. Các
bài tập toán ở trường phổ thông là một phương tiện rất có hiệu quả và không
thể thay thế được trong việc giúp học sinh nắm tri thức, phát triển tư duy, hình
thành kỹ năng, kỹ sảo, ứng dụng toán học vào thực tiễn. Hoạt động giải bài
tập toán là điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học toán ở trường phổ
thông. Vì vậy tổ chức có hiệu quả việc dạy giải bài tập toán học có vai trò
quyết định đối với chất lượng dạy học toán” ( Nguyễn Bá Kim [7]).
9
đó những kiến thức gần gũi hơn cả với dữ kiện của bài toán rồi mò mẫm, dự
đoán kết quả xét vài khả năng có thể xảy ra, kể cả trường hợp đặc biệt.
Kiểm tra lời giải bằng cách xem lại kĩ từng bước thực hiện hoặc đặc biệt hóa
kết quả tìm được hoặc đối chiếu kết quả với một số tri thức có liên quan…
Tìm tòi những cách giải khác, so sánh chúng để chọn được cách giải
hợp lí. Sau đó xét một bài toán tương tự hoặc khái quát hóa bài toán đã cho”
(theo G. Polia [15]) .
Bước 3: Thực hiện chương trình giải.
Bước 4: Kiển tra và nghiên cứu lời giải.
- Kiểm tra lại kết quả xem lại các lập luận trong quá trình giải
- Nhìn lại toàn bộ các bước giải, rút ra chi thức phương pháp để giải một
loại bài toán nào đó.
- Tìm thêm các cách giải khác (nếu có thể)
- Khải thác kết quả có thể có của bài toán
- Đề xuất bài toán tương tự, bài toán đặc biệt hoạc khái quát hóa bài toán.
Công việc kiểm tra lời giải của một bài toán có ý nghĩa quan trọng.
Trong nhiều trường hợp, sự kết thúc của bài toán này lại mở đầu cho một
bài toán khác. Vì vậy “cần phải luyện tập cho học sinh có một thói quen kiểm tra
lại bài toán, xét xem có sai lầm hay thiếu sót gì không nhất là những bài toán có
đặt điều kiện, hoặc bài toán đòi hỏi phải có biện luận. Việc kiểm tra lại lời giải
yêu cầu học sinh thực hiện một cách thường xuyên” ( theo G. Polia [15]) .
1.2.3 Bài tập phân bậc trong dạy học giải toán
1.2.3.1 Thế nào là hệ thống bài tập phân bậc
Ta hiểu hệ thống bài tập phân bậc bao gồm các bài toán được chia theo
từng chủ đề, được sắp xếp tăng dần về mức độ phức tạp, mức độ khó. Có thể
chia các bài toán ra làm ba mức độ sau đây:
11
Giáo viên xác định mục tiêu bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ từ
việc phân tích nội dung, chương trình SGK của bài dạy, …
Bước 3- Xác định nội dung kiến thức có thể mã hóa thành các câu hỏi và
bài tập
Với việc phân tích nội dung cơ bản, trọng tâm của SGK. Giáo viên có
thể phân ra thành nhiều phần kiến thức, chia nhỏ các nội dung. Trên cơ sở đó
có thể mã hóa thành các bài tập
Bước 4- Diễn đạt các nội dung kiến thức thành các câu hỏi và bài tập
Kỹ năng thiết kế bài tập phân hóa
- Giáo viên có thể sáng tạo được từ một bài tập (một nội dung kiến
thức trong SGK) nhằm khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng và năng lực tư
duy cho các đối tượng học sinh thông qua những dạng bài tập “nguyên mẫu”,
những bài tập có “quan hệ gần”, “quan hệ xa”, nhằm đáp ứng yêu cầu cụ thể
của từng tiết học và đáp ứng nhu cầu các đối tượng học sinh.
- Việc xây dựng các bài tập phân hóa phù hợp với các đối tượng học
sinh cần phải được biên soạn một cách công phu khoa học.
- Giáo viên cũng có thể tạo ra những tình huống khác nhau từ một bài
tập cụ thể để phù hợp với các đối tượng học sinh.
Bước 5- Sắp xếp các câu hỏi và bài tập phân hóa theo hệ thống
Sau khi thiết kế các bài tập, giáo viên nên sắp xếp theo một hệ thống
tương ứng nội dung (theo chức năng dạy học) để sao cho khi học sinh trả lời
câu hỏi và bài tập theo thứ tự đã sắp xếp thì học sinh sẽ lĩnh hội được toàn bộ
nội dung kiến thức theo tiến trình của bài học.
13
Có thể tóm tắt quy trình thiết kế nội dung bài tập như sau :
thức, kĩ năng);
- Xác định rõ các nội dung cơ bản của bài học;
- Chuẩn bị các hoạt động sư phạm tương ứng (trong đó việc lựa chọn các
phương pháp dạy học, lựa chọn phương tiện dạy học, hệ thống câu hỏi, BT
phân hóa … hết sức quan trọng).
Với sự chuẩn bị như vậy, GV giao nhiệm vụ, tổ chức, điều khiển hoạt
động học tập của HS, HS tự giác chiếm lĩnh kiến thức. Giờ học được diễn
biến theo tiến trình:
Hoạt động 1: GV giao nhiệm vụ cho HS bằng cách giao cho mỗi đối
tượng một câu hỏi hoặc BT thích hợp (tất nhiên có hạn chế thời gian).
Hoạt động 2: GV theo dõi hoạt động của HS và giải đáp các thắc mắc
cũng như đưa ra những hướng dẫn cho mỗi đối tượng hoặc gợi ý nếu cần thiết,
HS độc lập làm bài hoặc hợp tác với nhau trong nhóm để giải quyết nhiệm vụ
của nhóm.
Hoạt động 3: Kiểm tra, đánh giá kết quả công việc sau khoảng thời
gian cho phép. Cổ vũ, khuyến khích những HS làm đúng, nhanh (cho điểm
tốt, mời chữa BT cho cả lớp). Còn với những HS chưa hoàn thành nhiệm vụ
thì cần học tập lời giải của bạn và tự điều chỉnh. GV cần chú ý giúp HS lấp
được chỗ hổng trong kiến thức của họ.
Hoạt động 4: GV kết luận, chuẩn hoá kiến thức. Thông qua hoạt động
này giúp HS nắm được tri thức và tri thức phương pháp. Các hoạt động được
diễn ra và lặp lại cho đến khi hoạt động nhận thức đã được thực hiện. GV phải
căn cứ vào diễn biến thực tế của tiết học mà điều chỉnh các hoạt động sao cho
15
phù hợp và sử dụng các phương tiện dạy học khác nhau để tác động đến quá
trình nhận thức khác nhau ở HS
1.3 Thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông và việc phân hóa
trong dạy học giải bài tập toán.
* Sinh viên sư phạm chưa được đào tạo một cách bài bản về kĩ năng
dạy học phân hóa.
* Sĩ số lớp còn quá đông, gây khó khăn cho quá trình dạy học phân hóa.
1.3.2 Kết quả điều tra thực tiễn
Qua điều tra bằng phiếu và trao đổi trực tiếp với giáo viên chúng tôi thấy
việc dạy môn Toán ở trường THPT Phan Đình giót còn có một số vấn đề sau:
- Giáo viên dạy học chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, chỉ giảng
giải, làm mẫu,... Giáo viên tập trung vào việc truyền đạt kiến thức sẵn có
trong SGK và lệ thuộc nhiều vào tài liệu đó.
- Học sinh chủ yếu là nghe giảng, việc làm các bài tập chủ yếu dựa vào
sự dẫn dắt của giáo viên. Do đó học sinh còn thụ động chưa chủ động khám
phá kiến thức.
- Hiện tượng dạy học đồng loạt, bình quân diễn ra khá phổ biến. Rất
nhiều giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện những hoạt động như nhau, cùng
thực hiện những bài tập giống nhau.
- Trong quá trình soạn giáo án, phần lớn giáo viên chưa chú trọng đến
nội dung kiến thức dành riêng cho từng đối tượng học sinh yếu và học sinh
khá giỏi.
- Phần lớn giáo viên chưa soạn được hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa.
- Việc kiểm tra và đánh giá học sinh chưa đáp ứng được yêu cầu phân
hóa, chưa thực sự sát với đối tượng học sinh. Vì vậy thông tin phản hồi mà
giáo viên cần biết được khả năng, mức độ nhận thức của học sinh qua kiểm
tra, đánh giá chưa thực sự chính xác.
17
1.3.3 Đánh giá về dạy học môn Toán ở trường phổ thông và việc phân hóa
trong dạy học giải bài tập toán
1.3.3.1 Thuận lợi
- Tổ bộ môn toán luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của ban
- Có thể xuất hiện những biểu lộ mất tự tin hay mặc cảm về tâm lí đối
với HS đầu cấp khi bị xếp vào nhóm yếu, kém cũng như tâm lí lo lắng của
phụ huynh HS.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về
dạy học phân hóa:
* Dạy học phân hóa là cần thiết và là xu hướng tất yếu trong đổi mới nội
dung và phương pháp dạy học môn toán.
* Dạy học phương pháp giải bài toán theo Polia
* Dạy học phân hóa trong bài tập toán với quy trình xây dựng hệ thống bài
tập phân hóa, biện pháp dạy học phân hóa.
* Thực trạng dạy học phân hóa đối với môn Toán ở cấp học trung học phổ
thông ở nước ta hiện nay còn rất nhiều hạn chế, yếu kém cần khắc phục. Cần
thiết phải có hệ thống bài tập phân bậc để dạy học môn toán.
19
2. Chương 2: BIỆN PHÁP THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP PHÂN BẬC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
3. "PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG"
2.1 Nguyên tắc và biện pháp thiết kế hệ thống bài tập phân bậc chương
phương pháp tọa độ trong mặt phẳng.
2.1.1 Nguyên tắc thiết kế
Các nguyên tắc chung khi xây dựng câu hỏi và bài tập phân bậc là:
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, chính xác của nội dung
+ Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc và phát huy tính tích cực của học sinh
+ Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
+ Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Tóm lại : Khi xây dựng các bài tập phân hóa phải dựa trên các nguyên tắc cơ
dựng hệ thống bài tập phân hóa cho phù hợp theo các mức độ tương ứng với
học sinh có học lực yếu, trung bình và học sinh khá giỏi.
Ví dụ: Ta có thể đề xuất một số bài tập phân hóa của bài phương trình
đường thẳng như sau:
Bài 1A. Hãy tìm một điểm có tọa độ xác định và một véc tơ chỉ phương của
x 5 6t
y 2 8t
đường thẳng có phương trình tham số
Bài 2A.Lập phương trình tham số của đường thẳng d biết d đi qua điểm
M(2;1) và có véc tơ chỉ phương u (3; 4)
Bài 3B. Viết phương trình tổng quát của đường thẳng AB biết A(1;3), B(-2;1)
Bài 4C. Lập phương trình tổng quát của đường thẳng cao AH và trung tuyến
AM của tam giác ABC biết A(-1;2), B(2;-4), C(-2;1).
2.1.2.4 Sắp xếp các bài toán theo ba mức độ
Bài mang chữ A là mức độ dễ dành cho học sinh có học lực yếu, bài
mang chữ B mức trung bình dành cho học sinh có học lực trung bình, bài
mang chữ C mức độ khó dành cho học sinh có học lực khá, giỏi.
21
2.1.2.5 Đề xuất những gợi ý về việc sử dụng các nhóm bài toán đã xây dựng
Đối sử cá biệt trong những pha dạy học đồng loạt, tổ chức những pha
dạy học phân hóa, phân hóa bài tập về nhà, bồi dưỡng học khá giỏi và phụ
đạo cho học sinh yếu kém. Kiểm tra bài cũ, cho HS thảo luận theo nhóm để
làm bài tập phân hóa ...
2.1.3 Những lưu ý khi thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phân bậc trong
dạy học chương phương pháp tọa độ trong mặt phẳng.
trong giờ học. Tuỳ thuộc vào từng tiết học cụ thể, vào mục đích dạy học GV
có thể chia HS thành các nhóm theo 2 cách:
- Chia nhóm theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy: Trong mỗi
nhóm, HS có năng lực nhận thức và năng lực tư duy tương đối giống nhau.
Theo cách này, HS được chia thành 3 nhóm: nhóm khá giỏi, nhóm trung bình
và nhóm yếu kém.
- Chia nhóm hỗn hợp: Trong mỗi nhóm có đầy đủ các đối tượng HS
khá, giỏi, trung bình, khá.
2.1.3.2 Soạn câu hỏi và bài tập phân hoá
Bài tập phân hóa được hiểu là những bài tập có ý đồ để những học sinh
khác nhau có thể tiến hành những hoạt động khác nhau, tùy vào năng lực của
mỗi học sinh.
Hiệu quả đạt được của mỗi học sinh sau tiết học phụ thuộc vào rất
nhiều vào giáo viên. Việc soạn và sử dụng hệ thống bài tập phân hóa của giáo
viên tốt sẽ đem lại hiệu quả cho từng tiết học và tạo được thách thức về mặt
trí tuệ cho học sinh. Để soạn được hệ thống bài tập phân hóa tốt nhằm nâng
cao hiệu quả giờ dạy học cần chú ý một số điểm sau:
- Xây dựng được nhiều bài tập phân hóa càng tốt, càng phân hóa thành
nhiều mức độ càng tốt. Sau đó lựa chọn bài tập phù hợp cho từng đối tượng
học sinh.
23