TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MÌNH VỀ QUY LUẬT RA ĐỜI CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VÀ SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO TRONG THÀNH LẬP
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng
cộng sản Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người luôn gắn bó
chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc ta. Tuy đã đi xa
nhưng Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một di sản vô
cùng quý giá - đó là tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong hệ thống tư tưởng ấy, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam là một bộ phận quan trọng
trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người về con đường cách mạng Việt
Nam. Đó là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của C.Mác, Ph. Ănghen
và nhất là những nguyên lý về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân của
Lênin, trên cơ sở mảnh đất hiện thực là cách mạng Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã tạo bước ngoặt cho cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân đối với giai cấp tư sản. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin
thâm nhập vào phong trào công nhân làm cho phong trào phát triển từ tự phát
sang tự giác. Giai cấp công nhân ngày càng giác ngộ, thấy rõ sứ mệnh lịch sử
của mình. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử cao cả ấy, giai cấp công nhân phải
tổ chức ra chính đảng của mình, bao gồm những người ưu tú nhất của giai
cấp, để lãnh đạo phong trào đi đến thắng lợi cuối cùng. Thực tiễn phát triển
phong trào công nhân trong những năm 20 của thế kỷ XX cho thấy, sau khi
chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào phong trào công nhân đã dẫn tới sự ra
đời Âu, châu Mỹ latinh. Từ thực tế đó, Lênin đã khai quát: “Chủ nghĩa MácLênin kết hợp với phong trào công nhân đã dẫn đến sự ra đời của các đảng
cộng sản”. Đây là quy luật chung dẫn đến sự ra đời của một Đảng cộng sản.
Để sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trải qua một
quá trình nghiên cứu, khảo nghiệm, tìm tòi con đường con đường cứu nước
cho cách mạng Việt Nam. Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin tìm thấy con đường
2
cứu nước cho cách mạng Việt Nam, Người đã sớm ý thức về sự cần thiết phải
22,3
3
Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, luận điểm này của Người đã được
thực tiễn cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. Để hiểu rừ luận điểm đúng đắn và sáng tạo
của Người về các thành tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cần tìm
hiểu để thấy rõ thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam trước khi Đảng cộng
sản Việt Nam ra đời.
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về
đường lối cứu nước.
Quá trỡnh đấu tranh dựng nước và giữ nước trong hàng ngàn năm đó hun
đúc nên truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường, cần cù lao động, đoàn
kết thống nhất... của dân tộc Việt Nam. Đây là truyền thống vô cùng quý báu
của dân tộc ta. Trong 12 thế kỷ, đất nước Việt Nam đó trải qua 14 cuộc kháng
chiến giữ nước và hàng trăm cuộc khởi nghĩa giành độc lập với quy mô lớn,
thời gian dài. Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn luôn khắc sâu những chiến công
hiển hách không bao giờ phai mờ. Đó là chiến thắng oanh liệt đánh bại quân
xâm lược Mông Nguyên thế kỷ XIII - một thế lực hùng mạnh nhất thế giới
hồi đó. Đó là cuộc kháng chiến 10 năm giành lại độc lập thông qua cuộc
kháng chiến chống quân Minh xâm lược hồi thế kỷ XV. Đó là kỳ tích của
quân Tây Sơn, đứng đầu là Nguyễn Huệ, đánh đổ tập đoàn thống trị phản
động ở Đàng trong và Đàng ngoài, đập tan đội quân gồm 50.000 quân Xiêm
xâm lược ở Rạch Gầm – Xoài Mút và 200.000 quân Thanh ở Thăng Long hồi
thế kỷ XVIII....
Dân tộc, đất nước, con người Việt Nam có truyền thống như vậy, nhưng Việt
Nam lại phải rơi vào cảnh nước mất, nhà tan, bị chủ nghĩa thực dân Pháp đèn nén,
áp bức hơn 80 năm (1858-1945), nguyên nhân đó bắt nguồn từ đâu?
thuộc địa. Đầu thế kỷ XX, số lượng giai cấp công nhân Việt Nam có khoảng
trên 200.000 người. Số lượng đó là đáng khích lệ, song nó chưa trở thành một
giai cấp có ý thức tự giác rừ rệt về giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc.
Như vậy, xã hội Việt nam đầu thế kỷ XX nổi nên những đặc điểm chủ
yếu là: giai cấp phong kiến đó lỗi thời, phản động; giai cấp tư sản đang hỡnh
thành, rất yếu ớt; giai cấp vô sản đó hỡnh thành nhưng chưa đủ sức đảm
đương sự nghiệp lónh đạo cách mạng.
5
Trong lúc đó, chủ nghĩa thực dân Pháp - với đặc trưng là tư bản tài chính
cho vay - đẩy mạnh quá trỡnh khai thỏc, búc lột nhõn dõn Việt Nam. Quỏ trỡnh
mà chỳng gọi là “khai hoỏ văn minh” thực chất là bũn rỳt sức lực, tài lực của
một nước thuộc địa để nuôi sống thế lực thực dân cá mập. Dưới sự áp bức của
thực dân, phong kiến, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực. Trong hoàn cảnh đó,
phong trào yêu nước chống Pháp nổ ra mạnh mẽ.
Phong trào Cần Vương: nổ ra ngay từ khi Pháp xâm lược Việt Nam năm
1858 đến khi phong trào Cần Vương bị thất bại kéo dài 37 năm, phong trào
giải phóng dân tộc vẫn nằm trong phạm trù phong kiến (Cần Vương có nghĩa
là ủng hộ nhà vua để giành lại đất nước). Tuy anh dũng có thừa, nhưng tất cả
các cuộc đấu tranh yêu nước của phong trào Cần Vương đều bị thất bại.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phong trào Cần Vương,
nhưng nguyên nhân sâu xa chính là do hệ tư tưởng phong kiến đó lỗi thời,
kỡm hóm, làm chậm đà phát triển của dân tộc không biết bao nhiêu thế kỷ.
Bậc chí sĩ yêu nước Lương Văn Can viết những dũng chua chát: “Lều chừng
hại ta, tóc bạc da mồi mới biết”. Chứng tỏ rằng tư tưởng Nho giáo, hệ tư
tưởng phong kiến đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đó làm chậm bước tiến
của dân tộc. Thất bại của phong trào Cần Vương chính là cái mốc đánh dấu sự
phá sản hoàn toàn không có gỡ cứu vón nổi của hệ tư tưởng phong kiến.
Trước sự thất bại của phng trào Cần Vương, những người yêu nước có
dân Pháp bắt giam Phan Bội Châu. Về sau, nhà cách mạng nhiệt thành Phan
Bội Châu tổng kết trong một cuốn hồi ký của mỡnh:
“Than ôi! Lịch sử của tôi là lịch sử một trăm thất bại không một thành
công ... Tôi chỉ mong gặp được người anh hùng vô danh không khác gỡ đói
mong cơm, khát mong nước vậy”. Phan Bội Châu đã mong muốn có một con
đường khác có hiệu quả hơn, nhưng đó muộn.
Tóm lại, các con đường cứu nước đó đều bị bế tắc. Đó là sự phá sản của
con đường cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản. Mà vào đầu thế kỷ, hệ tư tưởng
tư sản đó trở nên phản động, mặc dù đối với các nước Châu Á hệ tư tưởng đó
là cũn mới mẻ.
Khi nhận xét về các con đường cứu nước của hai cụ Phan Hồ Chí Minh
cho rằng:
7
“Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương... chẳng
khác gỡ đến xin giặc rủ lũng thương”.
“Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy
hiểm, chẳng khác gỡ “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.
Trước sự bế tắc của phong trào cứu nước mặc dù rất khâm phục tinh thần
yêu nước của các vị tiền bối, nhưng Nguyễn Ái Quốc không đi theo con
đường của các Cụ, Người đã đi tỡm con đường khác. Sau này Nguyễn Ái
Quốc đó kể lại: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước
khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng
ta”. Bản thân Nguyễn Ái Quốc đó từ chối con đường Đông Du sang Nhật
Bản. Nguyễn Ái Quốc đó đến các nước phương Tây không phải để cầu viện
mà để tỡm đường đi cho dân tộc bởi vỡ độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh
phúc cho đồng bào là lẽ sống của Người.
Trong thời gian từ năm 1911 đến năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đó đi đến
nhiều nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Âu. Với ý chí kiên cường và
sản Pháp.
Trong cuốn “Đường cách mệnh”, sau 5 năm diễn ra sự kiện trọng đại ấy,
Nguyễn Ái Quốc khẳng định dứt khoát:
“Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đó thành công, và thành
công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do thật. Cách
mạng Nga đó đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công nông các
nước và các dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả
đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”. Người cho rằng: “Bây giờ học
thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn
nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”1.
Chính chủ nghĩa Mác-Lênin là một nhân tố quan trọng soi sáng con đường
cứu nước Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đó tiếp thụ chủ nghĩa Mỏc-Lờnin, tỡm
cỏch truyền bỏ về Việt Nam để hỡnh thành một Đảng Cộng sản. Sau này, Hồ
Chí Minh có nói về ý nghĩa của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin đối với cách mạng Việt
Nam: ở Việt Nam và ở phương Đông ngày xưa có câu chuyện chiếc cẩm nang
thần kỳ. Khi người ta gặp tai nạn, người ta mở cẩm nang ra thỡ thấy ngay được
cách giải quyết. Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin cũng giống như
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, T.2, tr.280.
9
chiếc cẩm nang thần kỳ. Hơn tác dụng của chiếc cẩm nang thần kỳ, chủ nghĩa
Mác-Lênin cũn là “mặt trời soi sỏng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối
cùng, đi tới chủ nghĩa xó hội và chủ nghĩa cộng sản”.
Chủ nghĩa yêu nước là nhân tố đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa
Mác-Lênin, đến với chủ nghĩa cộng sản. Sau này, Hồ Chí Minh kể lại:
“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng
sản, đó đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xó hội trờn phạm vi toàn thế giới, là thời đại quy
định xu thế độc lập dân tộc đi liền với phát triển lên chủ nghĩa xó hội. Giai
cấp đứng trung tâm của thời đại này là giai cấp công nhân, một giai cấp quyết
định nội dung căn bản, phương hướng phát triển chính của thời đại ấy” 1, Hồ
Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận rừ được vấn đề trọng đại đó.
Người khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng
nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận
cỏch mạng tiờn phong và kinh nghiệm của phong trào vụ sản quốc tế, giai cấp
cụng nhõn ta đó tỏ ra là người lónh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất
của nhân dân Việt Nam”2. Trong điều kiện đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt
Nam không thể giành thắng lợi được nếu không có được phong trào công
nhân kết hợp với phong trào yêu nước, dưới ánh sáng soi đường của chủ
nghĩa Mác - Lênin, một học thuyết mang bản chất cách mạng và khoa học của
thời đại chúng ta.
Nguyễn Ái Quốc là người dũng cảm vượt qua những hạn chế của những
người yêu nước đương thời để tỡm đến học thuyết Mác - Lênin. Người luôn
trăn trở giữa : một bên là chủ nghĩa thực dân tàn bạo, xảo quyệt, thối nát, đầy
rẫy chiến tranh, đói nghèo, chết chóc, không đưa lại độc lập, tự do, không đưa
lại quyền sống cho dân tộc và cho con người; một bên là tư tưởng nhân đạo của
chủ nghĩa Mác - Lênin, là tư tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng xó hội, giải
phúng con người. Chủ nghĩa nhân đạo Mác - Lênin không chỉ thể hiện trên lời
nói mà cũn trong thực tế: một nước Nga cách mạng đó làm cuộc Cỏch mạng
thỏng Mười năm 1917 đưa lại quyền lợi cho tất cả nhân dân lao động và tận
tỡnh giỳp đỡ các nước thuộc địa tranh giành độc lập, đưa lại hạnh phúc cho
đồng bào.
1
. V.I.Lênin, Toàn tập. Nxb Sự thât, H, 1963, tập 21. tr. 157.
. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, T.2, tr.9..
phong trào yêu nước phát triển. Tổ chức này là tổ chức yêu nước, tiêu biểu
cho phong trào yêu nước mang màu sắc cộng sản chủ nghĩa.
Tờ báo bằng tiếng Pháp Le Paria (Người cùng khổ), báo Thanh niên ở
Quảng Châu (Trung Quốc), các tác phẩm khác của Nguyễn Ái Quốc như Bản
12
án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh…, đó đóng vai trũ quan trọng
truyền bỏ những vấn đề cơ bản của học thuyết Mác - Lênin vào phong trào
công nhân, phong trào yêu nước. Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc nhận định:
“Người Đông Dương giấu một cái gỡ đang sôi sục, đang gầm thét và sẽ
bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”.
Từ năm 1924 trở đi, phong trào cách mạng Việt Nam có bước phát
triển mạnh. Các tổ chức yêu nước ra đời liờn tiếp: tổ chức Tõm tõm xó (ra đời
năm 1923), đảng Phục Việt (ra đời năm 1925), sau đổi là Tân Việt cách mạng
đảng, đảng Thanh niên (ra đời năm 1926), Việt Nam quốc dân đảng (ra đời
năm 1927)… Sự xuất hiện các tổ chức trên đây làm lan tỏa một không khí sục
sôi đấu tranh yêu nước dưới nhiều màu sắc khác nhau, chủ yếu phong trào
yêu nước đó tập hợp đông đảo tầng lớp trí thức. Màu sắc chủ yếu của các
phong trào yêu nước do các tổ chức trên đây là tiểu tư sản.
Hồ Chí Minh đánh giá cao phong trào yêu nước Việt Nam, đưa nó vào
trong một tổng thể khăng khít các thành tố cho sự ra đời của chính Đảng
Cộng sản Việt Nam. Phong trào yêu nước là cái trường tồn trong lịch sử dân
tộc Việt Nam. Phong trào yêu nước là yếu tố có trước so với phong trào công
nhân, trước cả khi giai cấp công nhân Việt Nam ra đời vào những năm 20 của
thế kỷ XX. Phong trào yêu nước ở Việt Nam thực sự đóng vai trũ quan trọng
thỳc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhất là khi giai cấp
công nhân mới ra đời; mặt khác nó kết hợp được với phong trào cụng nhõn
bởi vỡ giữa hai phong trào này cú điểm cơ bản tương đồng là mục tiêu giải
phóng dân tộc. Đó cũng là xuất phát từ đặc điểm của xó hội Việt Nam khi
theo xu hướng cách mạng vô sản. Các năm 1927, 1928, hàng loạt cỏc cuộc
bói cụng của phong trào cụng nhõn lần lượt nổ ra với quy mô có những cuộc
có hàng nghỡn người tham gia. Những cuộc bói cụng đó thường nổ ra ở các
khu công nghiệp: đồn điền cao su Phú Riềng, nhà máy xi măng Hải Phũng,
nhà mỏy sợi Nam Định, nhà máy xe lửa ở Trường Thi, nhà máy Avia ở Hà
Nội, v.v..
Từ đầu từ năm 1928, Việt Nam cách mạng thanh niên thực hiện chủ
trương “vô sản hóa”. Đây là phong trào cực kỳ quan trọng để vừa truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, vừa xây dựng củng cố lập
trường của các hội viên tiêu biểu có xu hướng cộng sản của tổ chức Thanh
14
niên. Cuối năm 1929 đầu năm 1930, phong trào công nhân đó phỏt triển tới
mức tự giỏc, tức là giữa chủ nghĩa Mỏc - Lờnin và phong trào cụng nhõn ở
Việt Nam đó kết hợp được với nhau.
Phong trào cụng nhõn phỏt triển thỡ phong trào yờu nước nói chung
càng cao, trong khi đó những phong trào chịu ảnh hưởng của giai cấp tư sản
bị hạn chế dần.
Vấn đề đó dẫn tới sự ra đời các tổ chức cộng sản. Tháng 6 năm 1929,
Đông Dương cộng sản đảng ra đời ở miền Bắc, An Nam cộng sản đảng ra đời
ở miền Nam vào tháng 10 năm 1929, Đông Dương cộng sản liên đoàn ra đời
ở miền Trung vào tháng 1 năm 1930.
Nguyễn Ái Quốc đã nhận lónh trỏch nhiệm rất lớn lao là đứng ra hợp
nhất các tổ chức cộng sản để hỡnh thành một chính đảng cộng sản duy nhất
ở Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1930: Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ những dẫn chứng lịch sử trên, chúng ta thấy: quan điểm về sự hỡnh
thành một đảng cộng sản ở Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa quán
triệt đầy đủ học thuyết Lênin về đảng cộng sản, vừa phù hợp với hoàn cảnh
một nước thuộc địa lạc hậu, chậm phát triển, nơi có truyền thống đấu tranh
và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng nó lên một tầm cao mới.
Luận điểm chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu
năm 1930 là viên ngọc sáng trong hệ thống các luận điểm cơ bản của Hồ Chí
Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.