ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
VŨ ANH ĐIỆP
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN THẾ GIỚI DI ĐỘNG (MWG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
VŨ ANH ĐIỆP
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN THẾ GIỚI DI ĐỘNG (MWG)
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐỖ MINH CƢƠNG
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ......................................................................................... iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ ................................................................................................ iii
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP .............................................................................4
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................. 4
1.2. Cơ sở lý luận chung về VHDN ................................................................... 6
1.2.1. Một số nội dung về VHDN ...................................................................6
1.2.2. Tác động của VHDN tới sự phát triển của doanh nghiệp .................11
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát triển VHDN ..12
1.2.4. Công cụ nhận dạng mô hình VHDN (OCAI) .....................................26
CHƢƠNG 2 : PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ...............32
2.1. Quy trình nghiên cứu ................................................................................. 32
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 32
2.2. Mô hình nghiên cứu................................................................................... 34
2.2.1. Mô hình 3 cấp độ biểu hiện văn hóa của Edgar H. Shein .................34
2.2.2. Công cụ nhận dạng loại hình VHDN (OCAI) ....................................35
CHƢƠNG 3: VHDN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THẾ GIỚI DI ĐỘNG ................42
3.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động .................................. 42
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển ........................................................42
3.1.2. Tình hình kinh doanh .........................................................................42
3.2. Đánh giá thực trạng VHDN tại Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động ....... 43
3.2.1. Đánh giá ban đầu về VHDN tại TGDĐ .............................................43
3.2.2. Công cụ nhận dạng loại hình VHDN (OCAI) ....................................52
3.2.3. Đánh giá VHDN tại TGDĐ................................................................56
CHƢƠNG 4 - ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VHDN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN THẾ GIỚI DI ĐỘNG .......................................................................60
Thế giới Di động
3
HĐQT
Hội đồng quản trị
4
MWG
Công ty Cổ phần Thế giới Di động
5
VH
Văn hóa
VHDN
Văn hóa doanh nghiệp
VHKD
Văn hóa kinh doanh
i
Kết quả khảo sát mô hình văn hóa doanh nghiệp
4
Bảng 3.2
hiện tại và kỳ vọng tƣơng lai tại chi nhánh miền
Bắc – Công ty Cổ phần Thế giới Di động.
ii
53
DANH MỤC CÁC HÌNH
Nội dung
STT
Hình
1
Hình 3.1
Logo Công ty Cổ phần Thế giới Di động
45
2
Sơ đồ
1
Sơ đồ 2.1
2
Sơ đồ 2.2
3
Sơ đồ 3.1
Nội dung
Quy trình nghiên cứu của đề tài
Bốn loại hình văn hóa doanh nghiệp theo Cameron và
Quinn
Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần Thế giới Di động
iii
Trang
32
35
44
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2.1. Mục đích
Từ cơ sở lý luận chung về VHDN luận văn thực hiện việc đánh giá đƣợc hiện
trạng văn hóa doanh nghiệp tại MWG, từ đó tìm ra đƣợc các giải pháp nhằm phát
triển văn hóa doanh nghiệp tại MWG.
2.2. Nhiệm vụ
Một là, tổng hợp chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có để xây dựng cơ sở lý
luận về văn hóa doanh nghiệp của đề tài.
Hai là, nghiên cứu, khảo sát thực trạng về văn hóa doanh nghiệp và công tác
quản trị xây dựng văn hóa doanh nghiệp của MWG.
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng quản trị và hoàn thiện
văn hóa doanh nghiệp của MWG.
3. Câu hỏi nghiên cứu
1. Văn hóa doanh nghiệp tại MWG trong thời gian qua nhƣ thế nào?
2. Công việc quản trị quá trình xây dựng và triển khai văn hóa doanh nghiệp
tại MWG đã đƣợc thực hiện ra sao?
3. Quản trị công việc này thế nào để hoàn thiện và phát triển văn hóa doanh
nghiệp của MWG trong giai đoạn hiện nay?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Công tác quản trị việc xây dựng VHDN của MWG.
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp
của MWG giai đoạn 2012-2015.
- Phạm vi không gian: Chi nhánh miền Bắc Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động.
- Phạm vi mẫu nghiên cứu: Do quy mô công ty lớn (15.000 nhân viên) nên
mẫu nghiên cứu sẽ chọn khoảng 300 ngƣời, trong phạm vi Chi nhánh miền bắc của
Công ty.
5. Những đóng góp của đề tài
1. Tổng hợp những vấn đề lý luận liên quan đến quản trị VHDN trong doanh
nghiệp tại Việt Nam giai đoạn hiện nay.
2
nhận thức đƣợc tầm quan trọng của văn hóa trong phát triển kinh tế. Năm 1995, chúng
ta có Hội thảo “Văn hóa và kinh doanh” do Trung tâm Khoa học xã hội – Nhân văn
quốc gia cùng Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam phối hợp tổ chức.
Đến năm 2001, Ban Tƣ tƣởng – Văn hóa Trung ƣơng phối hợp với Bộ Văn
hóa – Thông tin và viện Quản trị Doanh nghiệp xuất bản cuốn sách “Văn hóa và
kinh doanh”. Trong cuốn sách này tác giả không đề cập đến văn hóa doanh nghiệp
mà chỉ nói đến văn hóa trong kinh doanh, quan hệ giữa văn hóa với kinh doanh.
Đây chỉ là những ý kiến gợi mở để chúng ta có thể tham khảo, đồng thời bƣớc đầu
làm cơ sở cho việc xây dựng lý luận về hình thành VHDN.
Trong cuốn sách “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh”, Nxb Chính trị
quốc gia 2001, Đỗ Minh Cƣơng đã đƣa ra định nghĩa về Văn hóa kinh doanh, Văn
hóa doanh nghiệp và bƣớc đầu trình bày về hệ thống vấn đề này với mục đích áp
dụng vào quản trị các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, là một chuyên khảo mở
đầu một hƣớng nghiên cứu mới. Tác giả chƣa đƣa ra đƣợc các lý thuyết và mô hình
về mô hình VHDN cụ thể của thế giới và việc ứng dụng nó trong công việc quản trị
VHDN ở Việt Nam.
4
Năm 2003, tác giả Trần Quốc Dân đã cho ra đời cuốn sách “Tinh thần doanh
nghiệp giá trị định hƣớng của kinh doanh Việt Nam”. Tác giả xác định tinh thần
doanh nghiệp chính là giá trị định hƣớng của văn hóa kinh doanh Việt Nam. Nhƣ
vậy tác giả mới chỉ đi sâu nghiên cứu một số yếu tố trong văn hóa doanh nghiệp đó
là “Tinh thần”. Ngoài ra có nhiều bài viết liên quan đến VHDN, đƣợc đăng rải rác
trên các trên các tạp chí khoa học. Nổi bật hơn cả là bài bàn về Văn hóa và Văn hóa
kinh doanh của GS. TS Hoàng Vinh, đăng trong “Thông tin Văn hóa và Phát triển”
của Khoa Văn hóa XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tháng 8 năm
2004, GS. TS Hoàng Vinh đã đƣa ra một quan niệm, muốn xây dựng thuật ngữ
“Văn hóa kinh doanh”.
Tiếp theo đó, tác giả Nguyễn Mạnh Quân xuất bản cuốn sách “Đạo đức kinh
critical review of concept and definitions [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê
phán các khái niệm và định nghĩa], trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định
nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đƣa ra ở nhiều nƣớc khác nhau. Điều này
cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp (A.L.Kroeber và Kluckhohn, 1952).
Năm 1871, E.B. Tylor đƣa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa
rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm
lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”.
Ở Việt Nam, văn hóa cũng đƣợc định nghĩa rất khác nhau. Hồ Chí Minh cho
rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí
Minh, Nhật ký trong tù, 1943).
Theo định nghĩa của UNESCO đƣợc thông qua trong bản tuyên bố những
chính sách về văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng 7
tới ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mê-hi-cô:
“Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm
xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ
bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng.
6
Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm
cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán
và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý
thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem
xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và
sáng tạo nên những công trình mới mẻ , những công trình vƣợt trội bản thân.”
doanh nghiệp nhƣ: Các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, nghi thức…
của doanh nghiệp nhƣng chƣa đề cập đến nhân tố vật chất - nhân tố quan trọng của
văn hoá doanh nghiệp.
Do đó, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống
nghiên cứu lôgic về văn hoá và văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp có thể
đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố văn
hoá được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh
doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”.
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa phổ biến
và đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ
chức Edgar H. Schein: “Văn hoá công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà
các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ
và xử lí các vấn đề với môi trường xung quanh”.
1.2.1.3. Các cấp độ của VHDN
Theo Edgar H. Schein, cấu trúc của một hệ thống văn hoá doanh nghiệp có
thể chia thành ba cấp độ khác nhau. Thuật ngữ “cấp độ” dùng để chỉ mức độ có thể
cảm nhận đƣợc của các giá trị văn hoá doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu
hình của các giá trị văn hoá đó. Đây là cách tiếp cận độc đáo, đi từ hiện tƣợng đến
bản chất của một nền văn hoá, giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc
những bộ phận cấu thành của nền văn hoá đó.
Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp
Bao gồm tất cả những hiện tƣợng và sự vật mà một ngƣời có thể nhìn, nghe
và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hoá xa lạ nhƣ:
- Kiến trúc, cách bài trí; công nghệ, sản phẩm.
- Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp.
- Các văn bản qui định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp.
- Lễ nghi và lễ hội hàng năm.
- Các biểu tƣợng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp.
9
10
là thứ yếu. Trong khi đó văn hoá phƣơng Tây lại quan niệm: Ngƣời phụ nữ có
quyền tự do cá nhân và không phải chịu sự ràng buộc quá khắt khe vào lễ giáo
truyền thống.
Để hình thành đƣợc các quan niệm chung, một cộng đồng văn hoá (ở bất kì
cấp độ nào) phải trải qua quá trình hoạt động lâu dài, va chạm và xử lí nhiều tình
huống thực tiễn. Chính vì vậy, một khi đã hình thành, các quan niệm sẽ rất khó bị
thay đổi. Không phải vô lí mà hàng chục năm nay, bình đẳng nam - nữ vẫn đang là
một mục tiêu mà nhiều quốc gia, không chỉ ở châu Á hƣớng tới. Quan niệm “trọng
nam khinh nữ” vốn đã trở thành quan niệm chung của nhiều nền văn hoá, nhiều cấp
độ văn hoá. Xã hội ngày càng văn minh, con ngƣời có trình độ học vấn ngày càng
cao, hầu nhƣ ai cũng đƣợc nghe và có thể nói về bình quyền, nhƣng khi sinh con,
nhiều ông bố bà mẹ vẫn “mong con trai hơn”; khi xét thăng chức cho nhân viên,
giữa hai ngƣời một nam, một nữ thì ông chủ vẫn thích chọn ngƣời nam hơn vì “vấn
đề sức khoẻ, thời gian cho công việc…”. Những hiện tƣợng này chính là xuất phát
từ quan niệm ẩn, đã tồn tại bao đời nay và không thể thay đổi nhanh chóng (dù là
khoảng thời gian hàng chục năm).
Một khi trong tổ chức đã hình thành đƣợc quan niệm chung, tức là các thành viên
cùng nhau chia sẻ và hành động theo đúng quan niệm chung đó, họ sẽ rất khó chấp nhận
những hành vi đi ngƣợc lại. Ví dụ, cùng một vấn đề trả lƣơng cho ngƣời lao động, các
công ty Mĩ và nhiều nƣớc châu Âu thƣờng có chung quan niệm trả theo năng lực. Chính
vì vậy, một ngƣời lao động trẻ mới vào nghề có thể nhận đƣợc mức lƣơng rất cao nếu họ
thực sự có tài. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp châu Á, trong đó có Việt Nam, lại chia
sẻ chung quan niệm: Trả theo thâm niên, ngƣời lao động thƣờng đƣợc đánh giá và trả
lƣơng tăng dần theo thâm niên cống hiến cho doanh nghiệp. Một ngƣời lao động trẻ rất
khó có thể nhận đƣợc mức lƣơng cao ngay từ đầu.
1.2.2. Tác động của VHDN tới sự phát triển của doanh nghiệp
VHDN quyết định sự trƣờng tồn của doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp
doanh của mỗi nƣớc. Hoạt động sản xuất - kinh doanh của từng cá nhân, từng tổ
chức, từng doanh nghiệp trong xã hội đều phải chịu sự quy định, sự tác động của
môi trƣờng thể chế, phải tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục hành chính, sự quản lý
của Nhà nƣớc về kinh tế. Do vậy, có thể nói, thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể
chế hành chính, thể chế văn hóa, các chính sách của Chính phủ, hệ thống pháp
12
chế,… là những yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng kinh doanh và qua đó
ảnh hƣởng sâu sắc tới việc hình thành và phát triển văn hóa kinh doanh. Sự ổn định
chính trị đƣợc coi là một tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của daonh
nghiệp. Sự bình ổn của hệ thống chính trị biểu hiện qua các yếu tố pháp luật, ngoại
giao, hệ thống chính sách, v.v… sẽ tạo điều kiệ tốt cho hoạt động kinh doanh, tạo
sự ổn định của doanh nghiệp và tạo điều kiện cho sự phát triển văn hóa kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh là một bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội. Vì
vậy, sự phản chiếu của văn hóa dân tộc , văn hóa xã hội lên nền văn hóa kinh doanh
là một điều tất yếu. Mỗi cá nhân trong 1 nền văn hóa kinh doanh đều phụ thuộc vào
một nền văn hóa dân tộc cụ thể, với một phần tuân theo các giá trị văn hóa dân tộc
cụ thể, với một phần nhân cách tuân theo các giá trị văn hóa dân tộc. Mức độ coi
trọng tính cá nhân hay tính tập thể, khoảng cách phân cấp xã hội, tính linh hoạt
chuyển đổi giữa các tầng lớp xã hội, tính đối lập giữa nam quyền và nữ quyền, tính
thận trọng,… là những nhân tố của văn hóa xã hội tác động mạnh mẽ đến văn hóa
kinh doanh. Hoạt động kinh doanh luôn tồn tại trong một môi trƣờng xã hội nhất
định nên nhất thiết nó phải chịu ảnh hƣởng của văn hóa xã hội. Các yếu tố của nền
văn hóa xã hội nhƣ hệ giá trị, tập tục, thói quen, nghi lễ, lối sống, tƣ tƣởng tôn giáo,
cơ cấu dân số, thu nhập của dân chúng, vai trò của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã
hội,… đều tác động mạnh mẽ đến hoạt động của doanh nghiệp.
Văn hóa truyền thống dân tộc
Các giá trị, niềm tin này chịu ảnh hƣởng rất lớn bởi môi trƣờng văn hóa, xã
hội nơi doanh nghiệp hoạt động. Chúng không thể đi ngƣợc lại những giá trị truyền
Do định hƣớng giá trị và chuẩn mực văn hóa giữa các nƣớc có khác nhau bởi
điều kiện địa lý, kinh tế, lịch sử.. khác nhau. Nên khi các sản phẩm văn hóa du
nhập vào một nƣớc khác thƣờng đƣợc tiếp nhận dƣới một lăng kính khác, khiến giá
trị đích thực của nó thƣờng không đƣợc nguyên vẹn. Bên cạnh đó, xu hƣớng tiếp
nhận văn hóa bên ngoài nếu quá mạnh lại trong thế bị động sẽ chứa đựng nguy cơ
làm suy yếu các giá trị văn hóa truyền thống, đòi hỏi các doanh nghiệp phải gìn giữ
đƣợc tính độc đáo, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là nền tảng cho
sự hình thành và phát triển VHDN. Với cách hiểu thứ hai, dựa trên cùng các yếu tố
nền tảng văn hóa truyền thống dân tộc, các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để áp
14
dụng thành công văn hóa du nhập hơn. Tuy nhiên, phát huy những yếu tố văn hóa
riêng, khác biệt luôn là điều các doanh nghiệp hƣớng tới để tạo ra bản sắc riêng, để
phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.
1.2.3.2. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Văn hóa doanh nghiệp đƣợc đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống bắt đầu từ
nƣớc Mỹ, sau đó đƣợc Nhật Bản xây dựng và phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, văn
hóa doanh nghiệp phải bám sâu vào nền văn hóa của mỗi dân tộc, ngƣời ta đã hình
thành khái niệm văn hóa giao thoa, theo đó, các công ty đa quốc gia luôn biết kết
hợp lợi ích của mình với văn hóa doanh nghiệp của nƣớc chủ nhà. Văn hóa của
quốc gia này muốn bén rễ vào một quốc gia khác, một dân tộc khác mà không ăn
khớp với bản sắc văn hóa dân tộc nƣớc đó tất sẽ bị văn hóa bản địa bài xích, gạt bỏ.
Vì thế, văn hóa doanh nghiệp của xí nghiệp dứt khoát phải coi bản sắc văn hóa dân
tộc bản địa là cơ sở để phát triển. Bản chất của văn hóa doanh nghiệp là đối nội
phải tăng cƣờng tiềm lực, qui tụ đƣợc sức sáng tạo của công nhân viên chức, khích
lệ họ hăng say lao động, tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, đối ngoại phải đƣợc xã hội sở tại chấp nhận. Cả hai mặt này đều liên quan đến văn hóa dân tộc bản
địa, liên quan tới quan niệm giá trị, đặc trƣng hành vi của dân tộc đó. Nếu doanh
nghiệp biết xây dựng văn hóa doanh nghiệp trên cơ sở bản sắc văn hóa mà họ đang
sống thì họ sẽ thành công, còn nếu chỉ biết mô hình văn hóa doanh nghiệp nƣớc
Mặc dù đa số ngƣời Mỹ là ngƣời Anh và ngƣời châu Âu di cƣ, nhƣng khi sang lục
địa mới, họ đã nuôi dƣỡng trong mình chí tiến thủ mạnh mẽ, tinh thần chú trọng
thực tế cộng với tinh thần trách nhiệm nghiêm túc. Tất cả những điều đó đã tạo ra
một bản sắc văn hóa mới - bản sắc văn hóa Mỹ. Ngƣời Mỹ cho rằng, ai cũng có
quyền đƣợc hƣởng cuộc sống tự do, hạnh phúc bằng sức lao động chính đáng của
họ. Bản sắc văn hóa làm cho ngƣời ta học đƣợc chữ tín trong khế ƣớc và tất cả mọi
ngƣời đều bình đẳng về cơ hội phát triển: ai nhanh hơn, thức thời hơn, giỏi cạnh
tranh hơn thì ngƣời đó giành đƣợc thắng lợi. Có thể nói, ý thức suy tôn tự do, chú
trọng hiệu quả thực tế, phƣơng hƣớng, khuyến khích phấn đấu cá nhân đã trở thành
nhịp điệu chung của văn hóa doanh nghiệp nƣớc Mỹ. Đó là những bài học kinh
nghiệm quý báu cho Việt Nam chúng ta trong quá trình tạo dựng văn hóa doanh
nghiệp trong thời kỳ hội nhập.
16