LUẬN án TIẾN sĩ đổi mới CÔNG tác GIÁO dục lý LUẬN CHO đội NGŨ cán bộ CHỦ CHỐT cấp xã ở các TỈNH KHU vực NAM bộ - Pdf 40

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ cán bộ chủ chốt là những người có vai trò hết sức quan trọng
trong các tổ chức Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội. Vì vậy,
đội ngũ cán bộ này phải là những người thật sự tiêu biểu, có lập trường giai cấp
và bản lĩnh chính trị kiên định; có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ học vấn,
năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao. Trong công
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, công tác giáo dục, bồi dưỡng cán bộ đang
đứng trước những thử thách mới. Đúng như Đảng ta đã nhận định: "Trong
điều kiện cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với bên ngoài,
cán bộ, đảng viên hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của nhiều nhân tố
rất phức tạp, kể cả những hoạt động chống phá Đảng, vấn đề giữ vững bản
chất giai cấp công nhân của Đảng đứng trước những thử thách mới" [10, tr.
137]. Trong tình hình thực tế hiện nay "không ít cán bộ đảng viên phai nhạt
lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, sức chiến đấu của một
bộ phận tổ chức cơ sở Đảng suy yếu" [10, tr. 67]. Vì vậy, nâng cao bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực cho cán bộ chủ chốt theo yêu cầu
giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng là một trong những vấn đề
quan trọng và cấp bách hiện nay.
Để thực hiện được yêu cầu này, Đảng ta chỉ rõ: "Mọi cán bộ, đảng
viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạch thường xuyên
học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động
thực tiễn" [10, tr. 140]. Nghị quyết BCHTW 6 (lần 2) khóa VIII cũng đã nêu
cụ thể một trong những nhiệm vụ nhằm củng cố, chỉnh đốn Đảng, làm cho
Đảng trong sạch, vững mạnh là phải: "Đổi mới công tác giáo dục trong Đảng
và trong xã hội về chủ nghĩa Mác - Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước" [12, tr. 27].


hiện tại chưa đáp ứng được, còn yếu và hạn chế trên nhiều mặt. Hạn chế cơ


3

bản của đội ngũ này biểu hiện trên các mặt: trình độ nhận thức chính trị, năng
lực tổ chức quản lý, năng lực chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Nhiều cán bộ được
đề bạt, bổ sung vào những cương vị chủ chốt, nhưng chưa qua bồi dưỡng, đào
tạo cơ bản về chuyên môn cũng như lý luận chính trị. Vì vậy, khi xử lý công
việc họ còn tùy tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa, không đúng với đường lối, lập
trường quan điểm giai cấp của Đảng. Để khắc phục tình trạng trên, phải giải
quyết nhiều khâu, song khâu cấp bách nhất hiện nay, như Đảng ta đã xác
định, đó là phải đổi mới, tăng cường hơn nữa công tác giáo dục lý luận chính
trị nhằm nâng cao nhận thức chính trị, giữ vững bản chất giai cấp công nhân
của Đảng cho đội ngũ này trong quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở địa
phương.
Xác định đúng vị trí vai trò của giáo dục lý luận chính trị đối với việc
nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ cho cán bộ chủ chốt cấp xã;
đánh giá đúng thực trạng của công tác này đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để đổi
mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục lý luận chính trị của các trường chính trị tỉnh ở khu vực
Nam Bộ là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Công tác giáo dục lý luận chính trị được Đảng ta xác định là trọng tâm
của công tác tư tưởng của Đảng ta hiện nay. Vì vậy, đã có nhiều công trình
khoa học đề cập đến vấn đề này như:
- Đề tài: "Đổi mới tư duy lý luận ứng dụng vào việc đổi mới nội dung,
chương trình bài giảng và giáo trình giảng dạy lý luận Mác - Lênin, theo yêu
cầu đổi mới về giáo dục lý luận Mác - Lênin trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn

giảng viên lý luận - chính trị các trường đại học và cao đẳng" (nghiệm thu
năm 1994) đã đề xuất một khung chương trình tổng thể đào tạo giảng viên các


5

bộ môn lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam cho các trường đại học và cao đẳng. Đồng thời, đề tài cũng đã đánh
giá một cách khái quát năng lực đào tạo của các trường trong hệ thống Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thực trạng, xu hướng biến đổi đội ngũ
cán bộ giảng dạy các môn học này.
Liên quan đến đề tài của luận án còn có những công trình, đề tài
nghiên cứu về công tác cán bộ như: Đề tài cấp Nhà nước KX.05.11, trong đó
Phân viện Thành Phố Hồ Chí Minh tham gia nhánh đề tài: "Cơ cấu tiêu
chuẩn cán bộ cấp quận, huyện và cơ sở các tỉnh Nam Bộ". Ngoài ra, còn một
số các bài viết khác về giáo dục lý luận chính trị dưới các góc độ khác nhau
được đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
Tuy nhiên, do giới hạn về mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu và đối tượng khảo sát, các đề tài và công trình nghiên cứu nói trên
chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, dưới góc độ CNXHKH đối với
công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã các tỉnh
khu vực Nam Bộ như là một bộ phận hợp thành của động lực xã hội - chính
trị của cách mạng XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới hiện
nay. Do đó, có thể khẳng định rằng, công tác giáo dục lý luận chính trị cho
cán bộ chủ chốt cấp xã ở các tỉnh khu vực Nam Bộ chưa được thực sự quan
tâm và đang còn là một khoảng trống khoa học cần được nghiên cứu một cách
có hệ thống và đầy đủ hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích của luận án
Nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về công tác giáo dục lý

- Cơ sở lý luận của đề tài: Học thuyết Mác - Lênin về vai trò của lý
luận đối với hoạt động thực tiễn; tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận
chính trị cho cán bộ.


7

- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với những phương pháp
nghiên cứu khoa học cụ thể: phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội
học.
Ngoài ra, luận án rất coi trọng các phương pháp nghiên cứu tài liệu
đối với các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp tỉnh và các chuyên đề
khoa học về vấn đề này.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần làm rõ hơn vai trò và những nét đặc thù của giáo dục lý
luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã ở các tỉnh
khu vực Nam Bộ.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp xã ở các tỉnh khu vực Nam Bộ hiện nay.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp,
hình thức giáo dục lý luận chính trị đối với các trường chính trị tỉnh thuộc khu
vực Nam Bộ trước yêu cầu đổi mới, CNH, HĐH đất nước.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Góp phần vào nhiệm vụ đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo
dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã ở các
tỉnh khu vực Nam Bộ.
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu, giảng dạy về Chủ nghĩa xã hội khoa học (CNXHKH), Xây
dựng Đảng, Xã hội học v.v..., nhất là việc cải tiến nội dung, chương trình

với hoạt động thực tiễn, như Lênin đã từng khẳng định: "Không có lý luận
cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng" [29, tr. 30]. Hay cụ
thể hóa hơn về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra: "Không có
lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" [38, tr. 234]. Vai trò của lý luận
đối với hoạt động thực tiễn thể hiện rất rõ:
- Giúp con người nhận thức đúng đắn thế giới khách quan, xã hội, có
định hướng đúng trong hoạt động thực tiễn.
Hoạt động thực tiễn là dạng hoạt động đặc biệt của con người tác động
vào thế giới khách quan nhằm cải tạo, biến đổi nó phục vụ cho con người,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội. Để hoạt động này có hiệu quả, con
người cần phải nhận thức đúng đắn thế giới khách quan cùng với những quy
luật vận động nội tại của nó, trên cơ sở đó hướng sự vận động đi theo đúng
quỹ đạo thúc đẩy xã hội phát triển. Lý luận khoa học đã trang bị đầy đủ những


12

tri thức cần thiết cho con người để thực hiện điều này.
- Có khả năng dự báo, đưa ra những phương hướng, giải pháp hiệu
quả cho hoạt động thực tiễn.
Lý luận khoa học với việc nghiên cứu, phát hiện ra xu hướng vận
động phát triển của các sự vật, hiện tượng không những giúp con người nhận
thức được quy luật vận động của thế giới khách quan, của xã hội mà còn có
khả năng dự báo, vạch ra những phương hướng, biện pháp để thực hiện việc
cải tạo, biến đổi nó đi theo những mục tiêu đã định nhằm phục vụ cho lợi ích
của con người, của xã hội. Vì vậy, lý luận không chỉ giúp con người nhận
thức được thế giới, mà còn giúp con người cải tạo thế giới, thực hiện hoạt
động thực tiễn một cách hiệu quả. Với ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng nói: "Lý luận như cái kim chỉ Nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta
trong công việc thực tế" [38, tr. 233].

Được xây dựng trên cơ sở tiếp thu một cách chọn lọc những tinh túy
của các khoa học triết học, kinh tế chính trị học cổ điển và chủ nghĩa xã hội
không tưởng cùng với sự tổng kết kinh nghiệm từ phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân thế giới, sự ra đời của chủ nghĩa Mác là một biến chuyển
cách mạng vĩ đại trong khoa học về tự nhiên và xã hội.
Đánh giá về học thuyết của Mác, Ăngghen khẳng định, Mác đã nêu ra
hai phát hiện vĩ đại nhất, đó là: quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết về
giá trị thặng dư. Bằng phát hiện thứ nhất, Mác đã thực hiện một cuộc cách
mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới, chỉ ra quy luật phát triển
của xã hội loài người. Với phát hiện thứ hai, Mác đã vạch rõ quy luật riêng
biệt của sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội
tư bản nói chung. Toàn bộ học thuyết tư tưởng của Mác cấu thành ba bộ phận:
triết học, kinh tế chính trị học và CNXHKH, dựa trên cơ sở khoa học là phép
duy vật biện chứng, hay nói như Lênin, phép biện chứng duy vật chính là
linh hồn của chủ nghĩa Mác. Chính vì vậy, học thuyết của Mác không chỉ


14

giải thích thế giới một cách khoa học, đúng đắn mà còn có khả năng cải tạo
thế giới. Đánh giá về những giá trị của học thuyết Mác, Lênin đã khẳng định:
"… lý luận đó là lý luận lần đầu tiên đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng
thành khoa học; lý luận đó đã dựng lên những cơ sở vững chắc cho khoa học ấy
và vạch rõ con đường mà chúng ta cần phải theo" [28, tr. 230], "Lý luận đó đã
chỉ rõ nhiệm vụ thật sự của một Đảng xã hội chủ nghĩa cách mạng… là tổ
chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và lãnh đạo cuộc đấu tranh
đó mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành lấy chính quyền và tổ chức
xã hội XHCN" [28, tr. 231].
Với sức mạnh khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác luôn tìm thấy
sức sống, sức sáng tạo của mình trong đời sống thực tiễn cách mạng và không

1.1.2.2. Giáo dục lý luận chính trị và chất lượng, hiệu quả của quá
trình này
Để chủ nghĩa Mác - Lênin được tuyên truyền sâu rộng trong Đảng,
trong quần chúng, phải tiến hành việc giáo dục lý luận chính trị. Đây là công
việc hàng đầu của các Đảng cộng sản nhằm thực hiện thành công mục tiêu
xây dựng CNXH, CNCS trên đất nước mình.
Giáo dục là một "quá trình đào tạo con người một cách có mục đích,
nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động
sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội
những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người." [55, tr. 120].
Giáo dục lý luận chính trị là một bộ phận nằm trong sự nghiệp giáo
dục đó, nó trực tiếp truyền thụ và trang bị cho người học thế giới quan Mác Lênin, nhân sinh quan, đạo đức cách mạng. Từ thế giới quan, nhân sinh quan
cách mạng đó, người học có khả năng tư duy khoa học, có năng lực sáng tạo
trong trong hoạt động thực tiễn, củng cố lòng tin vào lý tưởng, mục tiêu cách
mạng, vào đường lối của Đảng.
Do đó, giáo dục lý luận chính trị là quá trình đào tạo, bồi dưỡng
nhằm hình thành cho người học thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng
sản chủ nghĩa thông qua việc truyền thụ những nguyên lý lý luận của chủ


16

nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở đó, giúp cho người học có tư duy khoa học,
đạo đức cách mạng, năng lực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn.
Để đạt được những yêu cầu giáo dục trên, giáo dục lý luận chính trị
phải đảm bảo truyền thụ cho người học những tri thức khoa học sau:
- Lý luận Mác - Lênin (bao gồm ba bộ môn cơ bản: Triết học, Kinh tế
chính trị học, CNXHKH).
- Các môn lý luận chính trị cơ bản: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử
Đảng, Xây dựng Đảng, Nhà nước pháp luật.

lượng giáo dục quyết định hiệu quả giáo dục. Hiệu quả giáo dục là sự thể hiện
chất lượng giáo dục. Không thể nói chất lượng giáo dục tốt, khi đào tạo ra
một đội ngũ cán bộ chỉ có bằng cấp mà hạn chế, yếu kém trong năng lực công
tác. Vì vậy có thể nói, chất lượng giáo dục là điều kiện, còn hiệu quả giáo dục
mới là mục đích của giáo dục. Vì vậy giáo dục lý luận chính trị cũng như giáo
dục nói chung, không phải chỉ được đánh giá bằng chất lượng đơn thuần, mà
phải bằng hiệu quả giáo dục. Hay nói khác đi, hiệu quả chính là thước đo
quan trọng nhất của chất lượng giáo dục và giáo dục lý luận chính trị. Nói đến
tầm quan trọng của hiệu quả giáo dục, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Lý luận cốt để
áp dụng vào công việc thực tế, lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý
luận suông" [38, tr. 234].
1.1.3. Giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt - yêu cầu
quan trọng hàng đầu đối với mỗi Đảng cộng sản
1.1.3.1. Về sự cần thiết phải giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ
Giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt là yêu cầu cơ bản quan
trọng hàng đầu đối với mỗi Đảng cộng sản. Hồ Chí Minh đã nói: "Cán bộ là
cái gốc của công việc" [38, tr. 269]. Do đó, họ cần phải được học tập lý luận
chính trị. Chỉ trên cơ sở được học tập, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin họ
mới có đầy đủ năng lực trí tuệ, hiểu biết một cách sâu sắc đường lối của


18

Đảng, chủ trương, chính sách của Chính phủ, phổ biến, truyền đạt rộng rãi
trong quần chúng nhân dân, hướng dẫn quần chúng nhân dân thực hiện một
cách có hiệu quả. Không những thế việc học tập lý luận chính trị còn giúp cán
bộ rèn luyện, hình thành cho mình bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách
mạng, hoàn thành những mục tiêu cách mạng của Đảng.
Về sự cần thiết phải giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt, Mác - Ăngghen cũng đã từng đề cập đến. Các ông chỉ rõ sự cần thiết đó

vô sản "... sẽ có khả năng đảm nhận vai trò lãnh đạo nhờ sự hơn hẳn về lý
luận và kinh nghiệm thực tiễn của mình" [25, tr. 484] và "… sự thờ ơ đối với
mọi lý luận, một trong những nguyên nhân chủ yếu giải thích tại sao phong
trào công nhân Anh tiến rất chậm, mặc dầu tổ chức tuyệt vời của một số công
đoàn cá biệt" [33, tr. 632].
- Bên cạnh việc tăng cường học tập, nghiên cứu lý luận, những cán bộ
lãnh đạo của Đảng còn cần phải phổ biến cho quần chúng nhân dân những
vấn đề mà mình đã rút ra được từ việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác,
đưa lý luận đó vào trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt đối với những người
làm công tác tư tưởng. Như Lênin đã nói:
Không thể là một nhà lãnh đạo tư tưởng mà lại không làm
công tác lý luận.., cũng như không thể là một nhà lãnh đạo tư
tưởng mà lại không hướng công tác đó theo những nhu cầu của sự
nghiệp, mà lại không tuyên truyền trong công nhân những kết luận
của lý luận đó và không giúp đỡ họ tổ chức nhau lại [26, tr. 382].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng đã hết sức quan tâm, chú trọng đến công
tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ. Người coi đây là điều kiện tiên
quyết đảm bảo cho Đảng vững mạnh, cho cách mạng giành được thắng lợi. Hồ
Chí Minh đã khẳng định: "... Đảng muốn vững thì phải lấy chủ nghĩa Mác
làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải làm theo chủ nghĩa
ấy" [37, tr. 259]. Chính vì vậy, để chuẩn bị cho việc thực hiện truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã cho mở lớp bồi dưỡng lý
luận chính trị cho cán bộ. Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc) với cuốn


20

sách giáo khoa lý luận đầu tiên - tác phẩm "Đường Kách mệnh" do chính
mình biên soạn, Người đã tổ chức lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ,
những hạt giống của cách mạng Việt Nam. Bằng những hạt giống này, với

chính trị của mình thì Đảng phải tự trang bị cho mình lý luận Mác - Lênin,
một lý luận cách mạng khoa học; Đảng phải giáo dục mỗi cán bộ, đảng viên
của Đảng quán triệt, nắm vững những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa đó và thực
hành nó trong hoạt động thực tiễn. Với tinh thần đó, Đảng ta đã xác định rất
rõ mục tiêu của công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng là:
- Phải coi việc nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin cho cán bộ,
đảng viên là một việc làm thường xuyên của Đảng.
Đảng ta xác định phải tăng cường giáo dục lý luận Mác - Lênin cho
cán bộ, đảng viên. "Bởi vì lý luận Mác - Lênin soi đường cho toàn Đảng
trong công tác lãnh đạo cách mạng" [2, tr. 154]. Mặt khác, tăng cường giáo
dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên còn mang một ý nghĩa hết sức
quan trọng là nhằm củng cố khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng, như Đại
hội III đã xác định: "Việc nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin trong cán bộ
và đảng viên là điều kiện chủ yếu để tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong
Đảng, làm cho sự đoàn kết ấy có cơ sở khoa học thực sự vững chắc" [2, tr.
154]. Đoàn kết thống nhất trong Đảng là yếu tố quyết định sự sinh tồn của
một Đảng. Sự đoàn kết đó chỉ thật sự được tăng cường trên cơ sở thống nhất
về tư tưởng và nó chỉ thực sự bền chặt khi được xác lập trên cơ sở khoa học.
Do đó để có sự thống nhất về tư tưởng, phải nâng cao trình độ lý luận chính
trị trong toàn Đảng. Đó là điều kiện cơ bản để củng cố tăng cường sự đoàn kết
thống nhất trong Đảng. Mỗi cán bộ đảng viên phải "... thấy rõ rằng thái độ
của mình đối việc học tập và nghiên cứu lý luận Mác - Lênin chính là một
vấn đề thuộc về tính Đảng, một vấn đề có quan hệ đến sinh mạng của Đảng"
[4, tr. 154].
Ngoài mục tiêu cơ bản trên, công tác giáo dục lý luận của Đảng còn


22

nhằm đến một mục tiêu hết sức quan trọng đó là nâng cao năng lực, trình độ


bộ ở các chức vụ. Với tinh thần của Nghị quyết 210, Nghị quyết 23 của
BCHTW (khóa III) đã cụ thể hóa và xác định mục tiêu đến năm 1980 về học
tập lý luận đối với mỗi loại cán bộ, trong đó qui định rất rõ:
Đại bộ phận cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý cao cấp, trung
cấp, phải học xong chương trình lý luận cao cấp, đại bộ phận cán
bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý sơ cấp học xong chương trình lý
luận trung cấp. Tất cả cán bộ cơ sở học xong chương trình sơ cấp
và một bộ phận học xong chương trình trung cấp [5, tr. 22].
Các quyết định tiếp theo của Đảng về công tác giáo dục chính trị, như
Quyết định số 15 (ngày 2/1/1983) của Ban Bí thư (khóa V) "Về công tác các
trường Đảng", Quyết định số 30 (ngày 8/12 /1983) "Về tăng cường công tác
giáo dục lý luận chính trị tại chức cho cán bộ, đảng viên" đều là sự cụ thể hóa
và tiếp tục hoàn chỉnh, phát triển cao hơn tinh thần của các nghị quyết trên
với mục tiêu không ngừng nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta càng coi trọng hơn công tác nghiên
cứu lý luận, cũng như giáo dục lý luận chính trị trong Đảng, Đảng coi đây là
một điều kiện quan trọng để hoàn thành những nhiệm vụ chính trị khó khăn,
phức tạp trong giai đoạn này. Nghị quyết 01 của BCT "Về công tác lý luận
trong giai đoạn hiện nay" (ngày 28/3/1992) đã khẳng định rất rõ: "Chưa bao
giờ thực tiễn đặt ra những đòi hỏi bức xúc đối với công tác lý luận như hiện
nay… lý luận thực sự khoa học là cơ sở để nâng cao vai trò tiên phong lãnh
đạo của Đảng trong hoạt động thực tiễn, là cơ sở để giáo dục lý tưởng, nâng
cao niềm tin" [8, tr. 26] và đặt ra yêu cầu:
Các cấp ủy Đảng phải thật sự coi trọng lý luận, thường
xuyên tổng kết thực tiễn, đúc kết lý luận, tăng cường giáo dục để
nâng cao trình độ lý luận cho đảng viên theo kịp yêu cầu của công
cuộc đổi mới. Bản thân cán bộ lãnh đạo phải có chế độ thường
xuyên học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ lý luận [8, tr. 27].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status