LUẬN văn THẠC sĩ bước đầu tìm HIỂU tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN ở các QUỐC GIA ĐÔNG bắc á và VIỆT NAM - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-----o0o-----

ĐINH VĂN NGHĨA

Bước đầu tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên ở các quốc gia đông bắc á và việt nam

Chuyên ngành : Lịch sử thế giới
Mã số

: 60.22.50

Luận văn thạc sĩ: khoa học lịch sử

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS: Lương Thị Thoa

Hà nội – 2005

1


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời
sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ xã hội, được hình thành trong quá trình lịch
sử-văn hoá. Trên thế giới có hàng nghìn loại hình tín ngưỡng khác nhau, nhưng hiếm
thấy có tín ngưỡng nào lại chứa đựng đạo lý sâu sắc như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Thông thường một tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có yếu tố tâm linh làm nền tảng,

lập cuộc sống ngày nay của mọi gia đình và làng xóm” [63;97]. Vì thế, đây là hình
thức tín ngưỡng luôn được các thể chế chính quyền từ xưa đến nay trân trọng và
thừa nhận, dù với những mức độ khác nhau.
Không chỉ ở Việt Nam, thờ cúng tổ tiên từ lâu cũng đã trở thành một trong
những nội dung quan trọng trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của cư dân các quốc
gia Đông Bắc á. ở Trung Quốc, khi bước sang xã hội có giai cấp và nhà nước, tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên phát triển rất mạnh và là quốc gia điển hình về sự thờ cúng
tổ tiên. tín ngưỡng này là bộ phận cơ bản nhất của hệ thống lễ nghi tôn giáo và còn
được duy trì cho tới ngày nay, nó có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ đời sống của
người dân Trung Quốc. Còn ở Nhật Bản và Hàn Quốc, cho dù các tôn giáo bản địa
(đạo Shinto ở Nhật Bản, đạo Shaman ở Hàn Quốc) là nền tảng của đời sống tâm
linh thì thờ cúng tổ tiên vẫn có một vị trí quan trọng.
Việt Nam và các quốc gia Đông bắc á có nhiều điểm khá tương đồng về điều
kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là văn hoá. Đó là vì các quốc gia
này chịu sự ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của các hệ tư tưởng, tôn giáo có nguồn

3


gốc từ ấn Độ, Trung Quốc trong thời kỳ cổ - trung đại. Chính những nhân tố đó đã
quy định sự tương đồng trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo giữa các quốc gia Đông
Bắc á và Việt Nam mà thờ cúng tổ tiên là một ví dụ. Cho đến nay, thờ cúng tổ tiên là
tín ngưỡng phổ biến của cả một quốc gia, dân tộc chỉ còn ở Việt Nam, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Nhật Bản. Còn ở những quốc gia khác trên thế giới, tín ngưỡng này chỉ
còn được lưu giữ ở từng nhóm người, tộc người.
Từ thực tế đó, việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia Đông
Bắc á và Việt Nam là việc làm cần thiết, vì thông qua việc tìm hiểu tín ngưỡng này
sẽ giúp chúng ta thấy được nguồn gốc, thời gian xuất hiện, các hình thức thể hiện, vị
trí, vai trò và thực trạng thờ cúng tổ tiên ở mỗi quốc gia. Từ đó giúp chúng ta hiểu
hơn về diện mạo của loại hình tín ngưỡng này, cũng như bản sắc văn hoá của mỗi

quan trọng.
Bên cạnh đó, việc tìm hiểu tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia trong khu
vực và trên thế giới còn là cơ sở để bảo tồn và đổi mới tôn giáo truyền thống theo xu
thế hiện đại, nhằm bảo vệ và phát triển văn hoá truyền thống của dân tộc. Vì trong
giai đoạn hiện nay, những yếu tố văn hoá ngoại lai có điều kiện xâm nhập vào từng
nước, trong đó không ít những yếu tố không phù hợp hoặc không lành mạnh, tạo nên
một nguy cơ, một tai hoạ của sự diệt chủng văn hoá cho bất cứ dân tộc, quốc gia
nào. Trong hoàn cảnh đó, việc khôi phục nền văn hoá truyền thống vừa góp phần tạo
nên “một con đê” ngăn chặn luồng văn hoá độc hại, vừa khơi dậy đạo lý, tình nghĩa
con người Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Xuât phát từ những ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài “bước đầu tìm hiểu tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam” làm luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử vấn đề.
Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử
nhân loại và tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, việc tìm hiểu,

5


nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng đã sớm thu hút được sự quan tâm của
nhiều học giả trong và ngoài nước. Thực tế cho thấy đã có một số công trình, tác
phẩm, đi sâu vào tìm hiểu các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng trong buổi sơ khai, khi
mới xuất hiện, trong đó có đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như: cuốn “Các
hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng” của nhà dân tộc học người
Nga X.A.Tocarev, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; “Các hình thức thờ
phụng của bộ lạc” của Ngọc Anh, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2002;
“Các tôn giáo” của Paul poupard, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội, 2001; …
Các công trình trên không đề cập riêng vấn đề tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,
cũng như không phải chỉ nghiên cứu về tập quán, tín ngưỡng ở một quốc gia, một

đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Trung Quốc và Nhật Bản một cách khái
lược nhất.
Đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Hàn Quốc còn có cuốn “Tra cứu văn
hoá Hàn Quốc ” của Hwang Gwi Yeon - Trịnh Cẩm Lan, Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2002. Cuốn sách đã dành riêng một phần nói về tín ngưỡng và tôn
giáo của Hàn Quốc, trong đó có mô tả những hình thức, lễ nghi và thời điểm người
dân Hàn Quốc thờ cúng tổ tiên.
ở Việt Nam, do vị trí quan trọng hàng đầu của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
trong đời sống tinh thần, cho nên, đây là một vấn đề đã thu hút sự quan tâm chú ý
của nhiều học giả. Đã có những công trình chuyên sâu về vấn đề này như: “Phong
tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam” của Toan ánh, nhà xuất bản Văn hoá
dân tộc, Hà Nội, 2001; “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” của Trần Đăng Sinh, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “thờ cúng tổ tiên (và lễ tang, ma chay, giỗ chạp)
nên hiểu như thế nào” của Mai Thanh Hải, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội,

7


2005; v.v… Ngoài ra còn rất nhiều bài viết trong các sách, các tạp chí và những
công trình nghiên cứu, đề cập đến nội dung tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Những công
trình này cũng chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam,
chưa có sự liên hệ, so sánh loại hình tín ngưỡng này ở nước ta với các quốc gia khác,
đặc biệt là những quốc gia có nhiều điểm tương đồng với nền văn hoá Việt Nam.
Cùng với các sách trên, còn có các bài viết, bài nghiên cứu đề cập đến tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của mỗi quốc gia, ở các góc độ khác nhau trong các tạp chí
như: Tạp chí tôn giáo; Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc; Tạp chí nghiên cứu Nhật
Bản (từ 2002 là tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á); Tạp chí Văn hoá nghệ
thuật; Tạp chí tư tưởng Văn hoá; …
Nhìn chung việc tìm hiểu, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt

liệu tại một số thư viện như: Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Phòng tư
liệu khoa lịch sử của trường; Thư viện Quốc gia; Viện thông tin khoa học xã hội,
Viện nghiên cứu tôn giáo; Viện Văn hoá dân gian; Trung tâm nghiên cứu Trung
Quốc; Trung tâm nghiên cứu Đông Bắc á …
Nhìn chung luận văn dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Các sách của các tác giả trong và ngoài nước.
- Các giáo trình lịch sử có liên quan đến vấn đề.
- Các bài nghiên cứu trong các tạp chí như: Tạp chí “Nghiên cứu lịch
sử”; Tạp chí “Nghiên cứu tôn giáo”; Tạp chí “Nghiên cứu Trung Quốc”; Tạp chí
“Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á”;…
5. Phương pháp nghiên cứu.
Chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp chuyên nghành của bộ môn là
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài ra, chúng tôi cũng kết hợp các
phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích… để làm sáng tỏ
vấn đề.
6. Nội dung nghiên cứu và đóng góp của đề tài.

9


- Nội dung nghiên cứu:
Với đề tài này, chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam về các nội dung cụ thể như nguồn gốc
và thời gian xuất hiện; sự tác động và ảnh hưởng của các tôn giáo khu vực đến tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên; vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống tâm
linh của nhân dân các nước; việc thực hiện tín ngưỡng này ở mỗi quốc gia như thế
nào?
- Đóng góp của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu một cách chung nhất về bức tranh tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam, tác giả bước đầu chỉ ra những đặc

thuộc lĩnh vực“tinh thần”, tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con
người.
+ Quan điểm của thần học: Các nhà thần học như Tômát Dacanh, J.Oát,
Phôntilích, Klêmachơ, Êtôrôtcho v.v… xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái
thiêng, cái huyền bí, ở đó ẩn chứa sức mạnh siêu nhiên có thể cứu giúp con người
khỏi khổ đau và có được hạnh phúc.
+ Quan điểm thuần tuý xã hội học về tín ngưỡng: các nhà xã hội học tư sản như
Spenser, Durkheim, M.Weber,… từ giác độ xã hội học đã có những cái nhìn mới về
tín ngưỡng, tôn giáo. Emile Durkheim cho rằng, tín ngưỡng là những trạng thái tư
tưởng, nằm ở các biểu tượng và được biểu hiện thông qua các nghi lễ thờ cúng.
+ Các quan điểm khác về tín ngưỡng:

11


- E.Tylor, từ góc độ nhân loại học xem tín ngưỡng, tôn giáo là “lòng tin vào
những vật linh”, các vật linh ấy là mama hay wakan mang tính siêu nhiên và đều có
linh hồn (animé).
- W.Schmidt đi từ giác độ dân tộc học lịch sử để xem xét tín ngưỡng. Theo ông,
tín ngưỡng chẳng qua là hình thức tôn giáo nguyên sơ - tiền tôn giáo, là niềm tin vào
một vị chúa vĩ đại, vĩnh hằng, thần bí, nhân từ và sáng tạo đang ngự ở trên trời. Tín
ngưỡng là hiện tượng phổ biến, có ở giai đoạn khởi đầu của mọi dân tộc.
- Jablokov, Troibi, Đaosơn, Malinôpxki trên bình diện văn hoá học xem tín
ngưỡng, tôn giáo là một yếu tố của văn hoá, là một hiện tượng văn hoá. Trong văn
hoá nói chung có văn hoá tôn giáo. Văn hoá tôn giáo được cấu thành từ hai yếu tố
chính là ý thức tôn giáo và nghi lễ thờ cúng.
* Tóm lại: Có thể nói: “các cách tiếp cận trên về tín ngưỡng do hạn chế lịch sử
và lợi ích giai cấp đã đi đến những kết luận chưa có cơ sở khoa học”[54;18].
b. Quan điểm triết học Mác xít về tín ngưỡng.
Trước khi trình bày quan điểm triết học Mácxít về tín ngưỡng, cần điểm qua

mộ của con người và thường gắn với niềm tin tôn giáo.Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng
là khái niệm có nội hàm hẹp hơn tôn giáo, thuộc ý thức xã hội, phản ánh niềm tin, sự
ngưỡng mộ của quần chúng nhân dân vào các lực lượng siêu nhiên ít nhiều mang
mầu sắc tôn giáo.
- Nguyễn Chí Bền, từ góc độ văn hoá xem tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành
của văn hoá, được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ, thành
kính với những thế lực có ảnh hưởng trong quan hệ với con người.
- Quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về tín ngưỡng.
C.mác cho rằng: “Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn. Tất cả
những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách

13


hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy”[39;12]. Như
vậy, tín ngưỡng về bản chất, không phải là sản phẩm của thần thánh, là cái siêu
nhiên, thần bí, mà là sản phẩm của xã hội. Là một hiện tượng xã hội, không tách rời
xã hội, mang bản chất xã hội, tín ngưỡng cũng là hiện tượng thuộc đời sống tinh
thần của xã hội, chịu sự quy định của đời sống vật chất.
Trong các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, các ông đã xem sản xuất vật
chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính lịch sử, xã
hội, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo. Các ông xem tín ngưỡng, tôn giáo không tách
rời lịch sử và là một hiện tượng lịch sử, một sản phẩm của thời đại lịch sử nhất định.
Như vậy, khác hẳn các nhà triết học duy tâm lấy ý thức, tín ngưỡng, tôn giáo để
giải thích lịch sử, coi tín ngưỡng, tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch sử, là cái thần
bí, vĩnh hằng. Họ lấy sự biến thiên của tín ngưỡng, tôn giáo để phân định lịch sử.
Các nhà triết học Mácxít lấy lịch sử để giải thích tín ngưỡng, và đi đến nhận định
chung mang tính khách quan, khoa học là: tín ngưỡng cũng là một hiện tượng lịch
sử, là sự phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội của các thời đại, có quá trình hình thành,
biến đổi và có ảnh hưởng nhất định đối với tiến trình lịch sử.

nhận của chủ thể. Cũn tụn giỏo thỡ cú kết cấu phức tạp với cỏc yếu tố thế giới quan,
nhõn sinh quan, ý thức, tõm lý, tỡnh cảm, niềm tin…ở tụn giỏo, niềm tin đặc biệt
được đề cao, song cũng đũi hỏi sự lý giải mang tớnh hệ thống, lụ gớc, được xõy
dựng và củng cố trờn cơ sở thế giới quan tụn giỏo.
+ Trong cỏc yếu tố của tớn ngưỡng và tụn giỏo, cựng với niềm tin thỡ nghi lễ
cú vai trũ hết sức quan trọng. nghi lễ được thực hiện trong tớn ngưỡng mang tớnh
đơn giản. Cũn với tụn giỏo thỡ nghi lễ là yếu tố đặc biệt được coi trọng, nú mang
tớnh hệ thống, được quy định chặt chẽ bởi giỏo lý, giỏo luật, được duy trỡ thường
xuyờn, cú tổ chức và mang tớnh bắt buộc với tớn đồ.

15


Căn cứ vào những đặc trưng cơ bản của tớn ngưỡng trờn cơ sở phõn biệt sự
giống và khỏc nhau giữa tớn ngưỡng và tụn giỏo, cú thể quan niệm: tớn ngưỡng là
một bộ phận của ý thức xó hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là
hệ quả của cỏc quan hệ xó hội, được hỡnh thành trong quỏ trỡnh lịch sử - văn
hoỏ, là sự biểu hiện niềm tin dưới dạng tõm lý xó hội vào cỏi thiờng liờng thụng
qua hệ thống lễ nghi thờ cỳng của con người và cộng đồng người trong xó hội.
Thụng thường thuật ngữ tớn ngưỡng bao gồm tớn ngưỡng tụn giỏo và tớn
ngưỡng dõn gian.
Tớn ngưỡng tụn giỏo là niềm tin vào lực lượng siờu nhiờn theo những nguyờn
tắc thực hành tụn giỏo nhất định.
Tớn ngưỡng dõn gian là niềm tin vào thần linh thụng qua những nghi lễ, gắn
liền với tập tục, thúi quen truyền thống. Nú là một bộ phận của văn hoỏ dõn gian,
phản ỏnh những ước nguyện tõm linh của con người và cả cộng đồng.
Ở Việt Nam phần lớn cỏc nhà nghiờn cứu tớn ngưỡng và tụn giỏo cho rằng, tớn
ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là một loại hỡnh tớn ngưỡng dõn gian, là yếu tố thuộc đời
sống tinh thần, phản ỏnh niềm tin của con người vào hệ thống thần linh thụng qua lễ
nghi thờ cỳng, phong tục, tập quỏn truyền thống của dõn tộc.

[60;312].
- Học giả Phan Ngọc, trong sỏch “Bản sắc văn hoỏ Việt Nam” - Nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội, 2001 - lại cú một cỏch gọi khỏc khi khụng gọi thờ cỳng tổ tiờn là
tụn giỏo, tớn ngưỡng hay phong tục, mà lại gọi là chế độ: “Chế độ thờ cỳng tổ tiờn
đúng vai trũ then chốt trong việc xõy dựng đặc điểm khu biệt văn hoỏ Việt Nam là
văn hoỏ nhõn cỏch luận, đối lập với văn hoỏ phương Tõy là văn hoỏ cỏ nhõn
luận…”[22;10].
- Linh mục Lộopold Cadiốre - một người cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về
văn hoỏ và tớn ngưỡng Việt Nam - lại xếp thờ cỳng tổ tiờn vào tớn ngưỡng quỷ
thần, ụng viết: “… trong người Việt Nam, tớn ngưỡng quỷ thần (la religion des

17


esprits) gồm thờ cỳng vong hồn tổ tiờn được tụn kớnh trong mỗi gia đỡnh, vong hồn
những người bị nhiều đau khổ, sau khi chết trở nờn độc ỏc và cần phải làm dịu bớt
để họ khỏi làm hại người sống; và tất cả cỏc thần - dự gốc là người hay là sức mạnh
tự nhiờn được nhõn cỏch hoỏ - mà người Việt tụn là thần của làng xúm” [22;9].
Ở miền nam nước ta, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn được người dõn gọi với một
cỏi tờn thống nhất là đạo ụng bà. Nguyễn Đỡnh Chiểu viết:
“Thà đui mà giữ đạo nhà
Cũn hơn cú mắt ụng cha khụng thờ”.
Theo một số nhà nghiờn cứu thỡ gọi là đạo cũng được, nhưng “đạo” ở đõy
khụng cú nghĩa là một tụn giỏo như đạo Kitụ, đạo phật, đạo Ixlam, mà phải hiểu nú
như là đạo làm con, đạo làm người, đạo hiếu nghĩa…, những đạo ấy khụng thể là tụn
giỏo. trong tỏc phẩm “tớn ngưỡng và văn húa tớn ngưỡng ở Việt Nam”, tỏc giả Ngụ
Đức Thịnh viết: “ trong cụng trỡnh này, đõy đú chỳng tụi sử dụng thuật ngữ “đạo”
như đạo Mẫu, đạo tổ tiờn…”, và tỏc giả giải thớch: “khỏi niệm đạo ở đõy theo ý
nghĩa là “ con đường”, “cỏch thức” đưa con người đạt tới niềm tin vào cỏi thiờng
liờng, siờu nhiờn” [59;17].

- “Thờ”: cú ý bao hàm một hành động biểu hiện sự sựng kớnh ( bao hàm cả ý
nếu làm điều gỡ sai trỏi sợ bị quở trỏch) một đấng siờu linh như thần thỏnh, tổ tiờn,
đồng thời cũng cú nghĩa là cỏch ứng xử với bề trờn cho phải đạo như thờ vua, thờ
cha mẹ, thờ thầy, hay thờ một người mỡnh mang ơn hay mỡnh lấy làm biểu tượng
để cố noi theo. “Thờ” trong thờ cỳng tổ tiờn là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiờn, là tõm
linh, tỡnh cảm của con chỏu hướng về cội nguồn. Thờ tổ tiờn là sự thể hiện lũng
thành kớnh, biết ơn, tưởng nhớ tổ tiờn, đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự
che chở, bảo hộ, trợ giỳp của tổ tiờn.
- “Cỳng”: theo Hỏn ngữ đại từ điển (1992) thỡ “cỳng” cú thể hiểu là hiến dõng,
là tế, là cung phụng, là hiến tế, cũng cú nghĩa là vật dõng tế. Ở Việt Nam, cỳng cú
nghĩa là dõng lễ vật cho cỏc đấng siờu linh, cho người đó khuất. Cỳng ở đõy mang

19


tớnh lễ nghi, là sự thực hành một loạt động tỏc của người được quyền thờ cỳng. Đú
là hoạt động dưới dạng hành lễ, được quy định do quan niệm, phong tục, tập quỏn
của mỗi cộng đồng, dõn tộc.
Thờ và cỳng là hai yếu tố tỏc động qua lại, thống nhất với nhau trong tớn
ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn.
Sự “thờ”, “tụn thờ” chớnh là nội dung, cũn hoạt động “cỳng” là hỡnh thức biểu
đạt của nội dung thờ cỳng. ý thức tụn thờ, thành kớnh, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng
sự trợ giỳp, trỏnh sự trừng phạt của tổ tiờn là nội dung cốt lừi của tớn ngưỡng thờ
cỳng tổ tiờn. Nếu khụng cú “ thờ” mà chỉ cú “cỳng” thỡ tự bản thõn tớn ngưỡng thờ
cỳng tổ tiờn khụng cú “hồn thiờng”, khụng cú sức hấp dẫn nội tại và dễ thành nhạt
nhẽo, vụ vị, mai một. Sự “cỳng”, tuy chỉ là hỡnh thức biểu đạt, song nú tụn vẻ linh
thiờng, huyền bớ, mờ ảo, tạo nờn sức hấp dẫn, nú chớnh là hương vị, mầu sắc, keo
dớnh thoả món niềm tin tụn giỏo, đỏp ứng nhu cầu của chủ thể thờ cỳng.
- “Tổ tiờn”: theo nghĩa thụng thường là khỏi niệm để chỉ những người cú cựng
huyết thống đó mất như kỵ, cụ, ụng bà, cha mẹ…, là những người cú cụng sinh

* Nghĩa hẹp: tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là việc thờ cỳng tổ tiờn, ụng bà, cha
mẹ - những người cựng huyết thống đó mất - là những người đó cú cụng sinh thành
và nuụi dưỡng con chỏu.
Theo X.A. Tocarev: Thờ cỳng tổ tiờn, “đú là sự thờ cỳng ụng bà, cha mẹ và
những người đồng tộc đó chết và trước hết là cỏc hỡnh thức gia đỡnh - thị tộc của sự
thờ cỳng đú, tức là lũng tin rằng tổ tiờn đó chết che chở cho con chỏu đang sống, và
những lễ nghi cầu xin do cỏc thành viờn thị tộc hay gia đỡnh tiến hành nhằm thờ
phụng tổ tiờn” [60;313]. Ở đõy, Tocarev đó gạt ra ngoài những hỡnh thức, đối tượng
được thờ cỳng chung của toàn bộ lạc hoặc dõn tộc, mà chỉ bú hẹp trong phạm vi gia
đỡnh và thị tộc

21


* Nghĩa rộng: tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn khụng chỉ là thờ cỳng những người
có cùng huyết thống trong gia đình, họ tộc, mà cũn mở rộng ra cả tổ tiờn của làng
xó, đất nước, bao gồm việc thờ trời đất; thờ người cú cụng dựng nước, giữ làng, cú
cụng với cộng đồng, làng xúm; thờ các thần linh cú liờn quan đến cuộc sống thường
nhật của con người...Về điểm này, giỏo sư Đặng Nghiờm Vạn viết: “đạo thờ cỳng tổ
tiờn được hiểu theo nghĩa rộng, khụng chỉ thờ những người cú cụng sinh dưỡng đó
khuất, nghĩa là những người cú cựng huyết thống, mà thờ cả những người cú cụng
với cộng đồng làng xó, đất nước”[63;305].
Như vậy, cú thể núi tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn theo nghĩa rộng được thể hiện
qua ba cấp độ từ nhà đến nước:
Một là, trong phạm vi gia đỡnh - dũng họ thờ cha mẹ, ụng bà đến ụng tổ của
dũng họ theo huyết thống.
Hai là, trong phạm vi làng xó, thờ cỳng thành hoàng là những ụng tổ nghề,
người cú cụng khai phỏ vựng đất mới, dựng làng, lập ấp, đỏnh giặc, cứu dõn,…
được dõn làng tụn vinh, thờ phụng.
Ba là, trong phạm vi cả nước thờ những người được coi là thuỷ tổ của quốc gia,

cựng huyết thống, sống trờn cựng địa vực cư trỳ, hợp tỏc, tương trợ trong lao động
sản xuất, trong đấu tranh chống thiờn tai và chống sự xõm lấn lónh thổ của cỏc thị
tộc.
Thời kỡ đầu của xó hội nguyờn thủy cộng cụ lao động cũn hết sức thụ sơ, đơn
giản, trỡnh độ lao động sản xuất thấp, do đú năng suất lao động khụng cao. Vỡ vậy,
cuộc sống của người nguyờn thuỷ vẫn khụng cỏch xa cuộc sống của loài vật, ý thức
cỏ nhõn chưa định hỡnh, dẫn tới việc ý thức xó hội của họ cũng chỉ mang tớnh chất
bầy đàn đơn thuần.
Theo dũng chảy của thời gian, lực lượng sản xuất ngày càng phỏt triển, cựng
với nú là việc tỡm ra lửa, dựng cung tờn trong săn bắn… đó tạo ra bước thay đổi căn
bản trong ý thức người nguyờn thuỷ. Con người dần thoỏt khỏi giới hạn “ bầy đàn”

23


và mang tớnh xó hội rộng lớn. í thức của họ cũng mang tớnh xó hội - ý thức cộng
sản nguyờn thuỷ.
Thời kỡ này ý thức về tổ tiờn tụ tem giỏo là một yếu tố của ý thức cụng xó
nguyờn thuỷ, phản ỏnh sự bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiờn. Cỏc
hiện tượng của tự nhiờn như sấm, chớp, mõy, mưa, giú bóo, động đất, chỏy rừng…
luụn luụn là những điều kỡ bớ, thường xuất hiện và đe doạ cuộc sống bỡnh yờn của
họ. Và sau này, cựng với lực lượng bớ ẩn của giới tự nhiờn là lực lượng mang tớnh
xó hội luụn thống trị cuộc sống hàng ngày của họ. Ph.Ăngghen viết: “ những lực
lượng này đối lập với con người, một cỏch cũng xa lạ, lỳc đầu cũng khụng thể hiểu
được đối với họ và cũng thống trị họ với cỏi vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản thõn
những lực lượng tự nhiờn vậy”[41;437].
Sự bế tắc và bất lực của người nguyờn thuỷ trong cuộc sống hiện thực đó dẫn
họ đi tỡm sự giải thoỏt trong đời sống tinh thần. Cựng với biểu tượng về cỏc thần
linh, biểu tượng về tổ tiờn tụ tem giỏo đó xuất hiện trong thời kỡ thị tộc mẫu hệ. Chỉ
đến thời kỡ thị tộc phụ hệ, tổ tiờn gia đỡnh và thị tộc mới thực sự phổ biến: “hai

được biểu hiện bằng việc loài người đó chuyển từ kinh tế chiếm đoạt sang kinh tế
trồng trọt và chăn nuụi. Cựng với quỏ trỡnh này là việc chuyển từ vai trũ của người
phụ nữ sang vai trũ của người đàn ụng được nõng cao, lịch sử loài người bước sang
một giai đoạn mới, cao hơn- thời kỡ chế độ thị tộc phụ quyền.
Ở giai đoạn thị tộc phụ quyền, người đàn ụng bắt đầu nắm giữ quyền hành quản
lớ gia đỡnh, do họ đó cú vai trũ quan trọng trong hoạt động kinh tế. Vợ và con cỏi
họ tuyệt đối phục tựng và tụn trọng cỏi uy quyền đó được xỏc lập ấy, khụng chỉ khi
họ cũn sống mà cả khi đó chết. và phải chăng cỏc nghi thức ma chay, thờ cúng tổ
tiờn cũng chớnh là “hỡnh thức phản ỏnh hoang đường quyền hành gia trưởng trong
mỗi gia đỡnh”? [60;233].
Như vậy, cú thể xem nguyờn nhõn sõu xa dẫn tới sự hình thành tớn ngưỡng thờ
cỳng tổ tiờn là do trỡnh độ sản xuất hết sức thấp kộm của thời nguyờn thuỷ. Tớnh
hạn chế của lực lượng sản xuất kộo theo sự hạn chế trong quan hệ kộp giữa con

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status