SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG GIẢNG DẠY NGỮ VĂN LỚP 9
Ở TRƯỜNG THCS NGA THẠCH
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hồng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Nga Thạch
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2015
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giáo dục học sinh phát triển toàn
diện về đức - trí - thể - mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo
cũng đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
2
vận dụng vào thực tiễn chưa thật thường xuyên, nhiều nơi còn mang tính hình
thức... Riêng với trường THCS Nga Thạch, việc ứng dụng các KTDH tích cực
trong môn ngữ văn còn khá khiêm tốn, một phần do trang bị của giáo viên về
KTDH còn hạn chế, phần vì điều kiện cơ sở vật chất, khả năng của học sinh...
Từ thực tế trên, tôi mạnh dạn nêu lên một vài kinh nghiệm về "Vận dụng
một số kỹ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy Ngữ văn lớp 9 ở trường
THCS Nga Thạch” với hi vọng cùng sẻ chia kinh nghiệm, hiểu biết về KTDH
với đồng nghiệp, đồng thời để cùng nhau vận dụng vào thực tiễn dạy học nhằm
nâng cao chất lượng dạy - học môn ngữ văn.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1. Tính tích cực học tập.
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn
tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự
nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển TTC học tập là một trong
những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục.
Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát
vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri
thức. TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết tới động cơ
học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng
thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp tư
duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại, phong
cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng
động cơ học tập. TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời
các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến
của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những
vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức
trọng đối với người đứng lớp, nhất là trong bối cảnh đổi mới PPDH hiện nay ở
trường phổ thông. Rèn luyện để nâng cao năng lực này là một nhiệm vụ, một
vấn đề thật cần thiết của mỗi giáo viên, nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất
lượng dạy và học ở nhà trường.
Kỹ thuật dạy học tích cực là những KTDH có ý nghĩa đặc biệt trong việc
phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy học, kích thích tư
duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Đối với giáo viên
Theo chương trình của Bộ Giáo dục thì đến năm 2016 sẽ thực hiện thay
sách giáo khoa mới. Vì vậy việc áp dụng những phương pháp và KTDH tích cực
vào trong quá trình dạy học là hết sức cần thiết.
Hè năm 2012, Sở giáo dục đào tạo Thanh Hóa đã triển khai chuyên đề giới
thiệu một số phương pháp và KTDH tích cực. Tuy nhiên việc áp dụng các
KTDH này để phát huy TTC, sáng tạo của học sinh còn hạn chế, nhiều nơi còn
mang tính hình thức. Kiểu dạy học phổ biến trong nhiều môn học hiện nay vẫn
là giáo viên truyền thụ những nội dung được trình bày trong sách giáo khoa, học
sinh nghe và ghi nhớ một cách thụ động.
Hiện nay, việc áp dụng các KTDH tích cực vào giảng dạy còn hạn chế.
Nguyên nhân là do một số giáo viên vẫn còn có quan điểm cho rằng những
KTDH tích cực rất khó áp dụng vào giảng dạy trong thời gian 45 phút trên lớp
nên cũng rất ít sử dụng. Mặt khác cơ sở vật chất ở các trường học hầu như chưa
đáp ứng được triệt để. Sĩ số lớp học quá đông, bàn ghế, cách kê bàn trong lớp
học vẫn theo kiểu truyền thống nên khi hoạt động nhóm gặp nhiều khó khăn.
Các em phải kê bàn ghế lại tạo nên sự ồn ào, mất thời gian. Hay nếu cần sử dụng
máy chiếu thì phòng máy cố định, máy chiếu chưa đủ, lớp học thiết kế chưa
đúng quy cách nên màn hình để chưa đúng chỗ…cũng tạo khó khăn cho giáo
viên và học sinh trong quá trình di chuyển.
Thực trạng nữa mà tôi nhận thấy khi vận dụng KTDH tích cực khó tiến
hành đồng bộ ở tất cả các trường, các lớp, các giáo viên đó là do đời sống của
Không
Tham gia trả lời câu hỏi
16
8
7
Nhận xét ý kiến của bạn
15
9
7
Tự giác làm bài tập
17
8
6
Qua kết quả kiểm tra trên cho thấy: mức độ chú ý nghe giảng còn hạn
chế. Học sinh tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn còn ít, vẫn còn
học sinh chưa tự giác làm bài tập. Đồng thời, ở nhiều học sinh hoạt động giao
%
SL
%
SL
%
0
0
4
12,9
14
45,2
9
29
4
12,9
5
thành nhiệm vụ chung. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu
cầu hợp tác liên quốc gia, năng lực hợp tác sẽ trở thành một mục tiêu giáo dục
mà giáo viên phải hình thành được cho học sinh trong các giờ học.
Tôi đã áp dụng KTDH theo nhóm trong nhiều giờ dạy. Dưới đây là một số
ví dụ cụ thể mà tôi đã vận dụng đối với các bài phần Đọc - hiểu văn bản.
Ví dụ 1: - Ở bài : “Chuyện Người con gái Nam Xương”, phần cuối bài
ta có thể cho học sinh (HS) thảo luận câu :
Một con người có phẩm chất tốt đẹp, khát khao hạnh phúc gia đình như
Vũ Nương đã từ chối nhân gian. Điều đó giúp em hiểu gì về hiện thực cuộc sống
và hạnh phúc của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến ?
6
Nội dung cần đạt: Hiện thực cuộc sống áp bức bất công. Trong cuộc sống
ấy những con người bé nhỏ, đức hạnh không thể tự bảo vệ được hạnh phúc
chính đáng của mình .
Ví dụ 2: - Ở bài “ Làng”, cuối bài cho HS thảo luận câu:
Vì sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng về làng chợ
Dầu nhưng Kim Lân lại đặt tên truyện ngắn của mình là “Làng” mà không phải
là “Làng chợ Dầu ”?
Nội dung cần đạt: Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm
bao trùm, phổ biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm
với quê hương, với đất nước. Làng ở đây cũng chính là cái làng Chợ Dầu mà
ông Hai yêu như máu thịt của mình, nơi ấy với ông là niềm tin, là tình yêu và
niềm tự hào vô bờ bến, là quê hương đất nước thu nhỏ. Bởi vậy tình cảm yêu
làng, yêu nước không chỉ là tình cảm của riêng ông Hai mà còn là tình cảm
chung của những người dân Việt Nam thời kì ấy. Chủ đề của tác phẩm là viết về
lòng yêu nước của người nông dân mà làng là nơi gần gũi, gắn bó với người
nông dân, người ta không thể yêu nước nếu không yêu làng. Nhan đề “Làng”
Do đó hoạt động nhóm thực sự cần thiết trong các giờ học nói chung và giờ Ngữ
Văn nói riêng.
2. Kỹ thuật đặt câu hỏi ( Nêu vấn đề)
Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học hiện đại đáp ứng được nhiệm vụ dạy
học trong thời kỳ bùng nổ thông tin và phát triển của khoa học kĩ thuật đó là
không chỉ dạy học sinh tri thức mà còn dạy cách làm ra tri thức, không chỉ dạy
học sinh tiếp nhận ghi nhớ thông tin mà còn dạy học sinh chủ động lựa chọn
thông tin xử lý thông tin hiệu quả.
Dạy học nêu vấn đề phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại. Vận dụng
dạy học nêu vấn đề trong bộ môn Ngữ văn là phương pháp tích cực hóa các hoạt
động học tập của học sinh giúp cải thiện tình trạng học sinh chán học văn, nhằm
kích thích hứng thú học tập ở học sinh.
Dưới đây là một số ví dụ cụ thể về kỹ thuật đặt câu hỏi nêu tình huống có
vấn đề mà bản thân đã vận dụng trong phần dạy Đọc – hiểu văn bản.
- Tình huống bất ngờ:
Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng, hình ảnh
ông Sáu khi bị đạn giặc bắn trúng ngực, theo lời kể của Bác Ba “ Anh đưa tay
vào túi, móc cây lược đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu” và Bác Ba nhận xét
“chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Từ cái nhìn của ông Sáu mà có lời
nhận xét của Bác Ba.
Vậy theo em, vì sao Bác Ba có thể nhận xét như vậy?
Điều bất ngờ mà học sinh đã nhận ra là ông Sáu đang ở vào tình thế nguy
kịch đối mặt với cái chết, giờ phút cuối cùng ấy ông không đủ sức để trăng trối
lại điều gì chỉ đủ sức làm cái việc cuối cùng là “Anh đưa tay vào túi, móc cây
lược, .... nhìn tôi một hồi lâu” cái nhìn ấy của ông như muốn nói với người đồng
đội thay mình thực hiện mong ước của con bởi thế nên người đồng đội - Bác Ba
đã cảm nhận được sự bất tử của tình phụ tử thiêng liêng kiên định “chỉ có tình
cha con là không thể chết được”.
- Tình huống mâu thuẫn:
Tìm hiểu bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, giáo viên có nêu
Nói tóm lại, trong quá trình dạy học, nếu biết vận dụng tốt kĩ thuật đặt
câu hỏi, nêu vấn đề phù hợp sẽ kích thích được hứng thú học tập của học sinh;
tích cực hóa hoạt động học tập sẽ cải thiện được tình trạng chán học văn hiện
nay ở một bộ phận học sinh.
3. Kỹ thuật động não.
Động não là kỹ thuật giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh
được những ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó. Các thành viên
được cổ vũ tham gia một cách tích cực không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra
cơn lốc các ý tưởng).
Động não thường được:
- Dùng trong giai đoạn giới thiệu về một chủ đề.
- Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề.
- Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau.
Động não có thể tiến hành theo các bước sau:
- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm
hiểu trước cả lớp hoặc cả nhóm.
- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp các ý kiến ngày càng nhiều
càng tốt.
- Ghi tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy khổ to không loại trừ một ý
kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.
- Phân loại các ý kiến.
- Làm sáng tỏ các ý kiến chưa rõ ràng.
- Tổng hợp ý kiến của học sinh và rút ra kết luận.
* Một số ví dụ về sử dụng kỹ thuật động não.
Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” của tác giả Lê
Anh Trà, Giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh:
Đó là sự kết hợp tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc và nhân loại. Sau đó
giáo viên yêu cầu học sinh động não suy nghĩ về vẻ đẹp, phong cách Hồ Chí
9
Sơ đồ tư duy (SĐTD) là KTDH nhằm tổ chức và phát triển tư duy, giúp
người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não một
cách dễ dàng. Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu
quả.
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình
ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý
tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên
phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh gây ra những kích thích mạnh trên
hệ thống của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền.
Sơ đồ tư duy sử dụng trong dạy học mang lại hiệu quả cao, phát triển tư
duy lôgic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu, thay cho ghi
nhớ dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt”. Đồng thời SĐTD phù hợp với tâm sinh lí
học sinh, đơn giản, dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ dưới
dạng sơ đồ hóa kiến thức.
10
Sơ đồ tư duy có thể sử dụng trong nhiều bài học với các mức độ và nội
dung khác nhau. Về mức độ sử dụng, có thể là một phần hoặc toàn phần. Về
hoạt động sử dụng, có thể sử dụng trong phần kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài
mới, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, luyện tập củng cố và cả hoạt động chuẩn
bị bài ở nhà của học sinh hay cả trong kiểm tra thường xuyên, định kì.
Trong quá trình giảng dạy Ngữ văn 9, bản thân tôi thường sử dụng SĐTD
trong phần củng cố bài để hệ thống những nội dung cơ bản cho học sinh. Ngay
từ đầu năm học, tôi hướng dẫn học sinh cách vẽ SĐTD. Sau đó yêu cầu mỗi học
sinh phải có 1 quyển vở riêng để vẽ SĐTD. Sau mỗi bài học, học sinh về nhà sẽ
hệ thống lại bài bằng SĐTD. Mỗi khi kiểm tra miệng, học sinh sẽ phải mang vở
SĐTD cho giáo viên kiểm tra. Cuối kỳ giáo viên sẽ thu vở SĐTD để chấm lấy
điểm kiểm tra thường xuyên. Tôi đã sử dụng SĐTD trong các hoạt động dạy học
Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh tự lập được SĐTD để hệ thống kiến
thức của bài học
* Sử dung SĐTD để hệ thống kiến thức, củng cố bài học
Ví dụ: Sau khi học xong văn bản “ Nghị luận trong văn bản tự sự”, giáo
viên yêu cầu học sinh hệ thống kiến thức nội dung bài học bằng SĐTD. Giáo
viên ghi cụm từ khóa lên giữa bảng phụ “Nghị luận trong văn bản tự sự”, rồi gọi
12
một em xung phong lên bảng vẽ. Học sinh sẽ dễ dàng vẽ được SĐTD theo nội
dung yêu cầu.
Giáo viên sử dụng máy chiếu để chiếu hình ảnh minh họa đã chuẩn bị cho
học sinh quan sát. Đây là hình ảnh minh họa của giáo viên:
Tóm lại, với những ưu điểm riêng, kỹ thuật dạy học sử dụng SĐTD đã
trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học
sinh.Việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học giúp các em học tập một cách
chủ động, tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một
cách sôi nổi. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng em
không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên SĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động
những điều đã học trước đó vào việc chọn lọc các ý để ghi), mà còn thể hiện
được khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc),
sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Sơ đồ tư duy còn là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả trong hoạt động
nhóm bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể. Mỗi thành viên
đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học.
Sử dụng SĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ
ràng và hệ thống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn. Chỉ cần nhìn
vào SĐTD, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội
1
Nhận xét ý kiến của bạn
24
5
2
Tự giác làm bài tập
27
3
1
* Kết quả khảo sát chất lượng giữa học kì II:
Loại
Số HS
31
Giỏi
Khá
Trung bình
35,5
13
41,9
4
12,9
0
0
Như vậy, so với chất lượng khảo sát đầu năm, tôi nhận thấy một thực tế
đó là trong các giờ học phần lớn các em đã tham gia hoạt động một cách sôi nổi,
tích cực hơn; động cơ, thái độ học tập đối với bộ môn Ngữ văn đã có nhiều
chuyển biến rõ rệt. Số học sinh thường xuyên tham gia trả lời câu hỏi xây dựng
bài, nhận xét ý kiến của bạn cũng như ý thức tự giác học bài và làm bài tập ở lớp
và ở nhà đã tăng lên. Số học sinh chưa dám mạnh dạn phát biểu ý kiến hoặc
nhận xét ý kiến của bạn chỉ còn một vài em. Chất lượng học sinh giỏi tăng 9,7%,
loại khá tăng 12,9%, loại yếu giảm 16,1%, không còn học sinh kém. Đây chính
là kết quả có được từ việc không ngừng vận dụng đổi mới các phương pháp và
KTDH tích cực của bản thân trong quá trình dạy học.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
14
2. Đề xuất:
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận dụng các KTDH tích cực có hiệu
quả nhằm phát huy được vai trò tích cực và chủ động học tập của học sinh, nhà
trường cần đầu tư mua sắm thêm trang, thiết bị như máy chiếu đa năng lắp đặt
tại các phòng học; giá đỡ, móc treo tranh ảnh; bàn ghế phải phù hợp…
Với khoảng thời gian chưa nhiều cho nên những ý tưởng mà tôi trình bày ở
trên có lẽ cũng còn nhiều hạn chế, nhưng thực tế đó là những gì tôi đã làm, đã áp
dụng, đã trăn trở rất nhiều trong 2 năm qua. rất mong muốn nhận được sự góp ý
15
chân tình của đồng nghiệp, các nhà quản lý giáo dục về những vấn đề mà tôi đã
trao đổi ở trên.
Xin chân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2015
CAM KẾT KHÔNG COPY
Người viết
Nguyễn Thị Hồng
PHẦN PHỤ LỤC
16
Một số hình ảnh về hoạt động học tập của học sinh lớp 9B trường THCS
Nga Thạch năm học 2014 – 2015 trong các giờ học Ngữ văn.