TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Môn: NGUYÊN LÝ MÁC – LÊNIN 1
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN
DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Họ tên sinh viên: Lê Kim Huệ
Lớp: A6 – TC
Giáo viên hướng dẫn: Trần Huy Quang
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Môn: NGUYÊN LÝ MÁC – LÊNIN 1
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN
DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Họ tên sinh viên: Lê Kim Huệ
Lớp: A6 – TC
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2009
3
2.1.2 Tính chất của mối liên hệ
4
2.2 Ý nghĩa phương pháp luận
5
II. Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ môi trường sinh thái
6
1. Các khái niệm liên quan
6
2. Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường
7
2.1 Vân dụng nguyên lí về mối liên hệ để giải thích mối liên hệ
giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi sinh thái
7
2.2 Biểu hiện của mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
và môi trường, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Việc bảo vệ
môi trường và gắn liền giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường đang
là một vấn đề cấp thiết đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có
Việt Nam. Vấn đề đặt ra trong đề tài mang tính thới sự đặc biệt trước hiện
trạng môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng như hiện nay. Môi trường
sinh thái là người bạn của con người. Việc con người hủy hoại môi trường
đồng nghĩa với việc hủy hoại chính cuộc sống của con người. Nghiên cứu về
mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường giúp chúng ta có
cái nhìn đúng đắn trong quá trình phát triển để xây dựng một nền kinh tế bền
vững và không hủy hoại môi trường sống của con người.
1
I. Phép biên chứng về mối liên hệ phổ biến
1. Các khái niệm liên quan
Để hiểu rõ về mối liên hệ phổ biến, chúng ta cần làm rõ một số khái
niêm về biện chứng, phép biện chứng cũng như phép biện chứng duy vật.
1.1 Biện chứng và phép biện chứng
Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác,
chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiên tượng
trong thế giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người.
Biện chứng bao gồm hai loại: biện chứng chủ quan và biện chứng khách
quan. Biện chứng khách quan là biện chứng về thế giới vật chất. Trong khi
đó biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong tư
duy của con người.
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế
giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật nhằm xây dựng hệ thống các
nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn. Như vậy phép biện
chứng thuộc về biện chứng chủ quan. Đồng thời phép biện chứng đối lập với
biến và sự phát triển, các quy luật về sự vận động, phát triển của các sự vât,
hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy, phép biện chứng duy vật cung cấp
những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức thế
giới và cải tạo thế giới. Với những đặc trưng đó, phép biện chứng giữ vai trò
tạo nên tính khoa học và cách mạng của chủ nhĩa Mác – Lênin, đồng thời nó
cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng
tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
2. Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
2.1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật được xây dựng dựa trên cơ sở một hệ thống
những nguyên lí, những phạm trù, những quy luật phản ánh đúng đắn hiện
thực. Trong đó, cùng với nguyên lí về sự phát triển thì nguyên lí về mối liên
hệ phổ biến là một nguyên lí cơ bản của phép biện chứng duy vật. Vì vậy,
Ph. Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ
biến”.
2.1.1Khái niệm về mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, một câu hỏi được đăt ra là: Các sự
vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới co mối liên hệ qua
lại, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại tách rời biệt lập với nhau? Nếu có
thì cái gì quy định mối liên hệ đó?
Trong lịch sử triết học, để trả lời cho những câu hỏi đó có nhiều quan
điểm khác nhau. Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật,
hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, không có sự phụ thuộc, ràng buộc,
quy định nhau. Nếu có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định
bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Tuy nhiên, trong số những người theo quan
điểm siêu hình, có một số cho rằng tồn tại mối liên hệ giữa các sự vật, hiện
song các hình thức liên hệ khác nhau không có khái niệm chuyển hóa cho
nhau. Để trả lời cho câu hỏi cái gì quy định mối liên hệ đó, những người
theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan đều cho
rằng cái quy định mối liên hệ là một lực lượng siêu tự nhiên hoặc ở ý thức,
trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
2.1.2 Tính chất của mối liên hệ
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có ba
tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.
- Tính khách quan của mối liên hệ được biểu hiện: Các mối liên hệ là
vốn có của sự vật, hiện tượng. Nó tồn tại độc lập, không phụ thuộc
vào ý thức của con người. Con người chỉ có thể nhận thức và vận
dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.
- Tính phổ biến của mối liên hệ được biểu hiện: Không có bất cứ một
sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các
sự vật, hiện tượng, quá trình khác. Bất kì một sự vật, hiện tượng, quá
trình nào, ở bất kì không gian nào và ở bất kì thời gian nào cũng có
mối liên hệ với sự vật, hiện tượng, quá trình khác. Đồng thời, mỗi sự
vật, hiện tượng cũng là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố
cấu thành với những mối liên hệ bên trong. Các thành phần, yếu tố
này liên hệ mật thiết với các thành phần, yếu tố khác ngay trong cùng
một sự vật, hiện tượng. Như vậy, bất kì một tồn tại nào cũng là một hệ
thống hơn nữa là một hệ thống mở, tồn tại mối liên hệ với hệ thống
khác. Mối liên hệ có trong tất cả các sự vật, hiên tượng, có trong tất cả
các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy.
4
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ được biểu hiện: Các sự vật,
hiện tượng, quá trình khác nhau về chất đều có những mối liên hệ cụ
thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau với sự tồn tại và phát triển
của nó. Mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng
trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau
trong quá trình vận động và phát triển của sự vật thì cũng có những
tính chất, vai trò khác nhau. Như vậy, không thể đồng nhất tính chất,
mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lí có hiệu quả các vấn đề của đời
sống thực tiễn. Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết
phân biệt trong mối liên hệ, phải chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên
5
bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên và lưu ý tới sự chuyển
hóa của các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật. Trong hoạt động thực
tiễn, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không
những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới
những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác, phải biết sử dụng đồng
bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu
quả cao nhất. Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu
hình.
Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú nên trong cả hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người còn phải tôn trọng quan điểm
lịch sử - cụ thể. Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta trong việc nhận
thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải chú ý đến
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và
phát triển. Tức là phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ
thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng
đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn. Như vậy trong nhận
thức và thực tiễn, không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm
phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh quan điểm chiết trung, ngụy biện.
II. Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
môi trường sinh thái
1. Các khái niệm liên quan
Kinh tế là tổng thể những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu
cầu vật chất có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa
và dịch vụ. Kinh tế cũng là hoạt động tạo ra của cải, vật chất. Nền kinh tế
cũng có mối liên hệ chặt chẽ. Môi trường sinh thái là những điều kiện tự
nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại và phát triển trong
mối quan hệ với con người. Tăng trưởng kinh tế cũng nhằm cải thiện, phát
triển đời sống của con người. Vì vậy, giữa môi trường sinh thái và tăng
trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ. Mặc dù môi trường sinh
thái được sinh ra và tồn tại trong tự nhiên nên có thể nói nó tồn tại khách
quan độc lập với ý thức con người. Tuy nhiên khi xét về sự phát triển của
môi trường thì sự phát triển ấy lại phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức của con
người. Con người có thể tác động vào môi trường sinh thái theo hai chiều
hướng: tích cực hoặc tiêu cực, tức là làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi.
Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn
toàn phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại một cách chủ quan. Môi trường
chịu tác động trực tiếp của của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào
con người. Như vậy, tăng trưởng kinh tế và môi trường có mối liên hệ với
nhau. Mối liên hệ ấy thông qua một thực thể là con người. Muốn nhìn nhận
đúng đắn về vấn đề này ta cần phải áp dụng phương pháp luận về quan điểm
toàn diện và quan điểm lịch sử-cụ thể..
2.2 Biểu hiện của mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
sinh thái
Như đã nói ở trên, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất
lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất
định. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng được phải phát huy một cách có
hiệu quả tiềm lực bên trong( nội lực) và tiềm lực bên ngoài( ngoại lực). Bên
cạnh các yếu tố như: vốn đầu tư, khoa học kĩ thuật, hợp tác giữa các quốc
gia…thì tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào môi trường sinh thái. Cụ
thể là muốn tăng trưởng kinh tế thì con người phải khai thác tài nguyên từ
môi trường. Tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề trong hoạt động kinh tế
muốn tiến hành được thì bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián
7
không có chính sách bảo vệ đúng đắn. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới
cùng chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế Việt Nam
không ngừng tăng trưởng. Đặc biệt trong những năm gần đây, nền kinh tế
nước ta đã có nhiều khởi sắc, đạt nhiều thành tựu to lớn. Năm 1990, quy mô
GDP của nước ta là 131,968 tỉ đồng, tốc độ tăng trưởng là 5,10%, GDP/
người là 105 USD. Năm 1995, quy mô GDP là 195,568 tỉ đồng, tốc độ tăng
trưởng là 9,54 %, GDP/ người là 288 USD. Như vậy trong 5 năm từ 1990
đến 1995, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 1,9 lần còn GDP/ người tăng 2,7
lần. Trong các năm từ 2000 đến 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế giữ ở mức
từ 6 đến 8% / năm. Như vậy có thể khẳng định rằng Việt Nam có một nền
kinh tế tăng trưởng khá ổn định. Kinh tế tăng trưởng ở nước ta kéo theo
8
những áp lực lên môi trường sinh thái. Tài nguyên thiên nhiên đang bị khai
thác một cách quá tải dẫn đến cạn kiệt. Theo tin từ Bộ Tài nguyên môi
trường, hiện nay tình trạng khai thác trái phép, gây lãng phí tài nguyên
khoáng sản diễn ra khá phổ biến trên một số lĩnh vực như sắt, titan, crômit,
thiếc… Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã
vi phạm quy trình khai thác, góp phần gây ô nhiễm môi trường. Việc xây
dựng ồ ạt các nhà máy, các khu công nghiệp cũng khiến cho môi trường bị
suy thoái. Tình trạng quy hoạch các khu công nghiệp chưa gắn với vấn đề xử
lý chất thải, nước thải nên ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp đang
ở mức báo động. Trong tổng số 183 khu công nghiệp trong cả nước, có trên
60% chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các đô thị chỉ có khoảng
60% - 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ tầng thoát nước và xử lý
nước thải, chất thải nên chưa đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường... Có
một thực tế là khoảng 80% doanh nghiệp hiện nay còn thờ ơ với nhiệm vụ
bảo vệ môi trường. Việt Nam thiếu những chính sách và quy định bảo vệ
môi trường nghiêm ngặt và do đang thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư để
Muốn môi trường được bảo vệ thì mỗi quốc gia cần đặt ra cho mình
những chiến lược cụ thể: hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi
trường, nghiêm khắc trừng trị những hành vi gây ô nhiễm môi trường; tích
cực tham gia kí kết các hiệp ước về bảo vệ môi trường; đẩy mạnh hợp tác
giữa các quốc gia trong vấn đề này; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức
ngươì dân và các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường…
Tóm lại, phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến trong triết học
Mác- Lênin là vô cùng đúng đắn, phản ánh tinh chất khách quan của các sự
vật, hiện tượng. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa to lớn cả về
mặt lí luận và thực tiễn. Vận dung nguyên lí trên chúng ta thấy được mối
liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường. Mối liên hệ này phản ánh vai trò to lớn của môi trường sinh thái với
nền kinh tế. Một môi trường trong lành và được bảo vệ giúp cho tăng trưởng
kinh tế bền vững. Ngược lại nếu con người làm ô nhiễm môi trường thì
không chỉ kinh tế mà còn cả cuộc sống của con người cũng sẽ bị ảnh hưởng
nghiêm trọng. Vì thế mà việc bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng và cần
thiết. Hi vọng rằng con người sẽ nhận thức rõ rang mối liên hệ này và sớm
có những biên pháp hiệu quả nhất đẻ bảo vệ môi trường, để môi trường mãi
là người bạn thân thiết của con người.
10
Tài liệu tham khảo
- Bộ giáo dục và đào tạo - Giáo trình “ Những nguyên lí cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin” – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Hà Nội –
Năm2009.
- Bộ giáo dục và đào tạo – Giáo trình “Triết học Mác-Lênin” – Nhà xuất
bản chính trị quốc gia – Hà Nội – Năm2006.
- http://www.wattpad.com/163006-hai-nguy-n-l-c-a-ph-p-bi-n-ch-ng-duyv-t