tiểu luận cao học mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở việt nam hiện nay - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế thị trường đang trong quá trình
phát triển mạnh mẽ và đang từng bước được hoàn thiện về cơ chế
cũng như thế chế. Điều này, mặc nhiên thừa nhận nền kinh tế
nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần (có cả kinh tế tư nhân)
được điều tiết bởi kinh tế thị trường. Trong công cuộc đổi mới đất
nước 15 năm qua, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn.
Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, đời sống của
nhân dân từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì công cuộc đổi
mới đang đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm,
trong đó có vấn đề xuống cấp của đạo đức. Điều này liên quan đến
mặt trái của kinh tế thị trường, cũng như sự tác động tiêu cực của
kinh tế thị trường đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Trong đó nổi lên những vấn đề về lợi ích và quan hệ lợi ích trên
tất cả các mặt của đời sống xã hội, nhất là vấn đề kinh tế thị
trường ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của xã hội về mặt
đạo đức và ngược lại, đạo đức chi phối như thế nào đến sự phát
triển nhanh chóng của kinh tế thị trường hiện nay.
Trước những thành quả mà kinh tế thị trường đã mang lại và
những tác động tiêu cực của nó, nhất là về mặt đạo đức, một số
người đã cho rằng, sự xuống cấp về mặt đạo đức xã hội bắt nguồn
từ việc khuyến khích lợi ích cá nhân trong người lao động. Họ cho
rằng, đạo đức xã hội và lợi ích cá nhân trong kinh tế thị trường là
không thể dung hợp được với nhau. Nhưng cũng có ý kiến cho
rằng sự khuyến khích lợi ích cá nhân (là lợi ích cá nhân chính
đáng), điều này tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân phát triển
mình về mọi mặt nhất là về tài năng và trí tuệ. Hay nói khác đi, đó
là với việc phát triển kinh tế thị trường đã tạo ra môi trường thuận
lợi phát huy vai trò chủ thể cá nhân, rằng kinh tế thị trường là cơ

những giá trị đạo đức mới là vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta quan
tâm hàng đầu. Vì vậy, em chọn “Mối quan hệ giữa đạo đức và
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình. Đề tài này chủ yếu dựa trên lý luận triết học
nhìn nhận mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường, có ý
nghĩa về mặt lý luận đó là làm rõ lý luận về đạo đức kinh tế thị
trường, những ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến đạo đức xã
hội và sự điều tiết của đạo đức trong nền kinh tế thị trường hiện
nay. Từ những lý luận đó, nhằm đưa ra những giải pháp cơ bản để
xây dựng một nền đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cùng với việc thừa nhận kinh tế thị trường không phải là sản
2


phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ
nghiên cứu, vận dụng tốt những kiến thức về kinh tế thị trường
và các quy luật của nó vào thực tiễn nước ta nhằm thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh”. Kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế vừa làm giàu để
xóa đói giảm nghèo vừa thực hiện đền ơn đáp nghĩa, vừa phát
triển kinh tế vừa chăm lo cho đời sống tinh thần. Phát triển một
nền kinh tế giàu mạnh đi đôi với việc xây dựng mối quan hệ giữa
người với người, đạo lý làm người ngày càng tốt đẹp hơn.
Xây dựng đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường là một vấn
đề quan trọng đang được quan tâm hàng đầu, đó là một tất yếu
khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chính vì vậy, mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường cùng

đặt ra là:
- Phân tích lý luận về đạo đức, kinh tế thị trường và những
vấn đề của đạo đức trong kinh tế thị trường .
- Phân tích tác động qua lại giữa đạo đức và kinh tế thị trường
ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, đề xuất những giải pháp chính
nhằm xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của triết học duy
vật lịch sử. Đồng thời xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đạo đức
Mác - Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó đề tài còn
có cơ sở lý luận là những quan điểm về tác động qua lại giữa kinh tế
thị trường và đạo đức trong lịch sử tư tưởng triết học.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của
khóa luận là phương pháp biện chứng duy vật, đồng thời để
nghiên cứu vấn đề này em còn sử dụng các phương pháp như:
phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp đối chiếu và so sánh,…Trên cơ sở đó kết hợp hài
hòa giữa các phương pháp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu một
cách hiệu quả nhất, trong đó có kế thừa có chọn lọc những tài liệu
có sẵn trong kho tàng lý luận.
5. Đóng góp của đề tài
Kể từ khi Việt Nam áp dụng cơ chế thị trường, những thay
đổi trong quan hệ kinh tế đã có sự tác động mạnh mẽ đến tất cả
các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Với những mặt tích cực mà
kinh tế thị trường đem lại đã làm cho kinh tế nước ta phát triển
mạnh mẽ và đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân
ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị
trường là vấn đề nổi cộm, nhất là hiện nay vấn đề xuống cấp của
đạo đức, vấn đề này có liên quan đến sự tác động tiêu cực của
kinh tế thị trường. Như vậy, trong lúc còn có nhiều quan điểm

đức truyền thống tốt đẹp tạo thành sức mạnh tinh thần của dân tộc
thì có không ít vấn đề tiêu cực nảy sinh. Trong quá trình thực hiện
cơ chế kinh tế thị trường cần có những định hướng giá trị đạo đức
lành mạnh cho tất cả mọi người nhằm tạo ra được đời sống tinh
thần tốt đẹp trong công cuộc đổi mới hiện nay.
1.1.1. Một số quan niệm về đạo đức trong lịch sử triết học
trước chủ nghĩa Mác
Những tư tưởng về đạo đức xuất hiện cách đây hơn 26 thế kỷ,
phát triển từ thấp đến cao, cùng với sự phát triển của lực lượng sản
xuất, thông qua sự kế thừa có chọn lọc những giá trị tư tưởng đạo
đức có trước. Tư tưởng về đạo đức trước Mác có nhiều quan niệm
khác nhau. Các quan niệm đó chủ yếu chia thành hai trường phái
trái ngược nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, khoa
học và tôn giáo.
Tiêu biểu cho những nhà duy vật trước Mác có các đại biểu:
Đêmôcrit (460 - 370 TCN), Êpyquya (431 - 270 TCN), L.Phơbach
(1084 - 1872). Những nhà triết học duy vật khẳng định nguồn gốc
trần thế, nguồn gốc xã hội của đạo đức, gắn đạo đức với những
nhu cầu về lợi ích, vật chất của con người, chống lại sự thần bí của
đạo đức mà chủ nghĩa duy tâm đã áp đặt cho nó. Vì hạn chế về
mặt điều kiện lịch sử và về thế giới quan nên các nhà triết học duy
vật trước Mác chưa thấy được yếu tố vật chất của đạo đức và đã
tách rời đạo đức với những tính đặc thù của nó.
Tiêu biểu cho quan niệm về đạo đức của những nhà triết học
6


duy tâm là Platon (427 - 347 TCN), I. Kant (1724 - 1804), P.
Heeghen (1770 - 1831). Họ xem xét nguồn gốc đạo đức ở lĩnh vực
tinh thần chủ quan - tự ý thức hay ở một lực lượng siêu nhiên - ý

phúc cá nhân và tập thể hay toàn xã hội.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nguồn gốc của đạo đức là
từ lao động, chính lao động đã hình thành nên những giá trị đạo
7


đức của con người. Đạo đức mang bản chất giai cấp nhưng nó
không đối lập với những tính toán của xã hội và đạo đức cách
mạng là đạo đức triệt để nhất. Đạo đức có các chức năng cơ bản là
chức năng nhận thức, chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng
giáo dục. Từ đó, bằng những luận chứng khoa học, chủ nghĩa Mác
- Lênin đã khẳng định vai trò của đạo đức là hoàn thiện nhân cách
con người và nhân đạo hóa xã hội loài người.
1.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969), tư tưởng của người là
ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam, là tài sản vô giá
của Đảng và dân tộc ta. Trong hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn
diện của Người, đạo đức là một vấn đề được người quan tâm đặc
biệt. Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những quan niệm đạo
đức có trước, dựa vào truyền thống đạo đức của dân tộc ta và vận
dụng sáng tạo quan niệm đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin vào
thực tiễn nước ta. Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nền đạo
đức mới có sự hòa nhập với đạo đức truyền thống dân tộc. Đạo
đức Hồ Chí Minh đã trở thành nền đạo đức có giá trị nền tảng to
lớn cho dân tộc Việt Nam, làm nền tảng để xây dựng một nền đạo
đức mới trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước của dân
tộc ta.
1.2. Lý luận về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ
kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình

trị đạo đức như: lối sống sùng bái đồng tiền, tệ nạn xã hội ngày
càng tăng, tham nhũng ngày càng nhiều. Trong khi đó công tác
giáo dục còn nhiều thiếu sót, chưa chú trọng đến các giá trị đạo
đức truyền thống, cơ chế lãnh đạo chưa chặt chẽ, còn thiếu kiên
định.
Đạo đức trong kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay đang là
vấn đề hết sức phức tạp. Kinh tế thị trường với những mặt tích
cực, nó đã mang đến một số giá trị và một số tiêu chí được xác
lập. Tuy nhiên, thực trạng đạo đức trong kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay cho thấy: dư chấn của khủng hoảng thời bao cấp chưa
chấm dứt thì nay, xã hội Việt Nam đang rơi vào cuộc khủng hoảng
đạo đức với hai đứa con hư của kinh tế thị trường là “kiếm tiền”
và “hưởng thụ”.
Chương 2
SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức
Từ khi thực hiện kinh tế thị trường, tất cả mọi người đều thấy
nó đã có sự tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt của đời sống xã
hội, nhất là vấn đề đạo đức. Sự tác động của kinh tế thị trường đến
đạo đức diễn ra như thế nào. Hiện nay, đây đang là vấn đề được
9


nhiều người quan tâm. Chính vì vậy, khi bàn về ảnh hưởng của
kinh tế thị trường đối với sự phát triển của đạo đức xã hội đã và
đang có nhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây, em xin nêu ra ba
quan điểm chủ yếu đó là: Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực
của kinh tế thị trường; quan điểm khẳng định ảnh hưởng tích cực
của kinh tế thị trường và quan điểm cho rằng kinh tế thị trường có

10


kinh tế thị trường cho rằng kinh tế thị trường không có mối quan
hệ hữu cơ với đạo đức thì trái lại, quan điểm này được xác lập trên
cơ sở khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế thị trường với
đạo đức. Nhà triết học J. Bell đã từng khẳng định: “Suy cho cùng
xã hội nào cũng là một trật tự đạo đức; nó cần chứng minh nguyên
tắc phân phối của mình là hợp lý; chỉ khi nào một chế độ xã hội có
tính chính đáng và được đại đa số người dân công nhận mới tồn
tại được”. Quan điểm này chỉ chủ trọng đến mặt ảnh hưởng tích
cực của kinh tế thị trường đến đạo đức, kinh tế thị trường giúp con
người hoàn thiện nhân cách về mặt đạo đức. Quan điểm này dựa
vào hai xu hướng:
Xu hướng dựa vào thuyết mục đích luận - công lợi, coi mục
đích cao cả nhất của hành vi đạo đức là hạnh phúc của đa số nhân
dân, nâng cao tổng công lợi xã hội chẳng những là mục tiêu của
đạo đức mà kinh tế thị trường do chỗ có ưu thế nhất trong việc
huy động mọi nguồn lực tạo ra sự phát triển kinh tế cho nên nó
cũng chứa đựng các giá trị đạo đức bên trong. Tuy nhiên, thuyết
mục đích - công lợi có hạn chế đó là, họ chỉ chú ý đến tổng công
lợi của xã hội mà không quan tâm đến sự phân cực giàu nghèo. Để
khắc phục những hạn chế của kinh tế thị trường như: phân hóa
giàu nghèo, suy thoái đạo đức…, họ chủ trương thực hiện đôi bên
cùng có lợi. Theo đó, trao đổi thị trường lành mạnh có lợi cho cả
kinh tế và đạo đức nếu thật sự các chủ thể kinh tế tuân thủ các
nguyên tắc thị trường. Nguyên tắc thị trường lành mạnh là luân lý
cho nên kinh tế thị trường phù hợp với đạo đức.
Xu hướng dựa vào nguyên tắc về tự do cá nhân, quyền bình
đẳng và quyền tự do cá nhân. Thuyết này có nguồn gốc từ nhà

muộn cũng bị chính cơ chế thị trường loại bỏ. Bởi vậy, trong hoạt
động kinh tế thị trường tuân thủ nguyên tắc đó đã trở thành yêu
cầu để các chủ thể kinh tế tồn tại và phát triển bền vững. Việc tuân
thủ nguyên tắc thị trường một khi đã trở thành yêu cầu, thành tập
quán, thành niềm vui của chủ thể kinh tế thì lúc đó tự nó xuất hiện
nhân tố đạo đức của hành vi kinh tế. Một khi nguyên tắc thị
trường được nội tâm hóa, trở thành nhu cầu bên trong của chủ thể
kinh tế thì nó trở thành nguyên tắc đạo đức. Đến lúc đó sẽ không
có sự đối lập thật sự giữa hành vi kinh tế thị trường và hành vi đạo
đức. Hành vi kinh tế lúc đó, bản thân nó đã chứa đựng những giá
trị đạo đức. Hành vi kinh tế nếu được thực hiện một cách đạo đức
thì bao giờ nó cũng mang lại lợi ích cho người khác và cho toàn
xã hội. Như vậy, theo quan điểm này, kinh tế thị trường về bản
chất có mặt lợi tha. Với bản chất của kinh tế thị trường, nó đã
chứa những giá trị đạo đức mang lại lợi ích cho người khác. Đồng
thời, khi tuân thủ nguyên tắc kinh tế thị trường, hành vi kinh tế
còn bộc lộ những khía cạnh đạo đức là ở chỗ: với thói quen tuân
thủ các nguyên tắc thị trường trong hoạt động kinh tế, những hành
12


vi kinh tế của họ sẽ được đạo đức hóa; mặt khác, con người lại có
nhu cầu và xu hướng thể hiện phẩm chất đạo đức của mình trong
những lĩnh vực ngoài kinh tế như làm việc làm từ thiện. Không
những thế, kinh tế thị trường phát triển còn tạo điều kiện cho con
người tham gia rộng hơn, sâu hơn vào các quan hệ xã hội và các
hoạt động xã hội đa dạng, thúc đẩy và hoàn thiện nhân cách của
mình.
Quan điểm này không đối lập cực đoan giữa kinh tế thị
trường với đạo đức, nhưng họ cũng đã cho thấy những tác động

nay đang có nhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây em xin nêu ra
hai quan điểm bàn luận về vấn đề này.
2.2.1. Chủ trương tách biệt đạo đức với kinh tế thị trường
Khi chủ trương tách biệt đạo đức với kinh tế thị trường , họ
cho rằng, không khéo thì đạo đức sẽ can thiệp quá sâu vào kinh tế
thị trường và kìm hãm kinh tế thị trường. Theo họ, những nguyên
tắc thị trường chỉ liên quan đến hành vi kinh tế, mặc nhiên sẽ cho
phép con người cạnh tranh để thu lợi nhuận tối đa, không thuộc
lĩnh vực đạo đức. Chính vì vậy, nếu áp dụng các chuẩn mực đạo
đức trong kinh tế thị trường sẽ dẫn tới sự ngụy biện, giảm khao
khát lợi nhuận và giảm hiệu quả của hành vi kinh tế. Để biện hộ
cho quan điểm này, họ đã đưa ra một dẫn chứng, đó là, chủ nghĩa
bình quân trước đây được xem là nguyên tắc đạo đức đã không
khuyến khích con người tích cực lao động, lại kích thích thói lười
biếng. Do vậy, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, không nên
áp đặt các chuẩn mực đạo đức vào kinh tế. Trong hoạt động kinh
tế chỉ nên dựa vào cơ chế thị trường, các chủ thể kinh tế phải được
tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước.Tuy
nhiên, những người theo quan điểm này cũng cho rằng, muốn hạn
chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với các lĩnh vực
khác của đời sống xã hội thì cần sử dụng các giải pháp đạo đức
nhằm hạn chế lòng tham của con người.
2.2.2. Chủ trương coi kinh tế thị trường và đạo đức có quan
hệ nội tại
Quan điểm này coi đạo đức là một phương diện của kinh tế
thị trường, nó là yêu cầu bên trong của kinh tế thị trường, điều tiết
hành vi và các quan hệ kinh tế. Đạo đức có thể góp phần thúc đẩy
lĩnh vực kinh tế phát triển. Coi kinh tế thị trường và đạo đức có
quan hệ chặt chẽ với nhau, quan điểm này nhấn mạnh những ảnh
hưởng tích cực của đạo đức đến các hoạt động kinh tế cũng như

phương tiện này, đặc biệt là “kẽ hở” trong pháp luật để vượt qua
những hạn chế của chúng. Những phương tiện này chỉ là những
ràng buộc bên ngoài, chúng không thể điều tiết được những động
cơ bên trong của chủ thể kinh tế. Trong trường hợp này, kinh tế thị
trường sẽ không đạt được kết quả cao, đạo đức xã hội xuống cấp.
Vì vậy, không nên điều tiết kinh tế thị trường chỉ bằng các biện
pháp cưỡng chế mà nên áp dụng cả những nguyên tắc tự nguyện
và tự giác.
Thứ ba, các quy định của pháp luật là thiết chế hóa tối thiếu
các chuẩn mực đạo đức. Để tồn tại và phát triển trong xã hội, con
người cần phải có đạo đức tối thiếu và đạo đức thực sự là pháp
luật tối đa. Do đó cả đạo đức và pháp luật phải có sự tương trợ lẫn
nhau trong kinh tế thị trường. Đưa đạo đức vào kinh tế sẽ làm cho
các biện pháp và nguyên tác của kinh tế thị trường được điều tiết
bởi các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức.
15


Thứ tư, xét về phương diện chủ thể, việc họ tuân thủ một cách
tự nguyện và tự giác các quy tắc của kinh tế thị trường, biến nó
thành nhu cầu bên trong, trở thành những nguyên tắc đạo đức
trong kinh doanh. Điều này không những không hạn chế, không
cản trở các hoạt động kinh tế mà còn thúc đẩy sự hợp lý hóa hoạt
động kinh tế thị trường, làm cho cơ chế thị trường hoạt động nhịp
nhàng, đồng bộ và lành mạnh hơn. Việc tăng cường phẩm chất
đạo đức của chủ thể kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của
chính nền kinh tế thị trường, là động lực lâu dài cho sự phát triển
và hoàn thiện nền kinh tế thị trường. Đây thực chất là hệ thống
những yêu cầu pháp lý - đạo đức đối với người mua, người bán,
nhân viên, các cổ đông. Hệ thống này có tác dụng tích cực cho sự

hoàn thiện và lành mạnh. Vấn đề cấp bách hiện nay, với yêu cầu
đảm bảo tiến bộ xã hội nói chung và chấn hưng đạo đức xã hội nói
riêng là phải kiện toàn cơ chế thị trường với sự kiếm soát (sự điều
tiết) hợp lý của nhà nước nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ
nghĩa của sự phát triển đất nước. Sự điều tiết hợp lý của nhà nước
nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có nội dung
cơ bản sau:
Một là, xây dựng chế độ, chính sách phù hợp với kinh tế thị
trường, điều tiết sản xuất, lưu thông và phân phối theo nguyên tắc
thị trường nhằm khắc phục những khiếm khuyết của thị trường tự
phát nói chung, đảm bảo sự cân đối, hài hoà giữa tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội.
Hai là, để kiện toàn cơ chế thị trường, phát triển một nền kinh
tế thị trường lành mạnh, cần khắc phục những kẽ hở của pháp luật
kinh tế, của bản thân cơ chế, hạn chế đến mức tối thiếu ảnh hưởng
của mặt trái của cơ chế thị trường đối với văn hoá tinh thần và đạo
đức xã hội. Việc hoàn thiện cơ chế thị trường cũng nhằm một
phần đưa các chủ thể kinh tế đi vào hoạt động có nguyên tắc,
không trái với quy luật vận hành của kinh tế thị trường, đảm bảo
cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Thực hiện được điều này sẽ làm cho các chủ thể kinh tế
trong khi hướng tới mục tiêu lợi nhuận họ có thể phát huy và củng
cố năng lực đạo đức, nhân tính của mình, biến những yêu cầu đạo
đức mang tính cưỡng chế bên ngoài thành nhu cầu, động cơ cơ
bản bên trong của chính hoạt động kinh tế.
2.3.2. Cùng với việc kiện toàn cơ chế thị trường, cần phải
đẩy mạnh việc xây dựng và kiện toàn về thiết chế cũng như thế
chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm taọ khung
pháp lý và chính trị cho việc xây dựng đạo đức mới
Pháp luật bao gồm những quy định mang tính chất ràng

do dân và vì dân, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Muốn làm tốt
được điều này, chúng ta cần thực hiện những biện pháp cơ bản
sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với việc kiện
toàn hệ thống thiết chế pháp lý chính trị sao cho đáp ứng được yêu
cầu đưa các chủ thể kinh tế vào cơ chế vận hành của kinh tế thị
trường.
Thứ hai, khi vai trò của những nhân tố đạo đức mới phù hợp
với cơ chế thị trường chưa tác động phổ biến và vững chắc, thì
chúng ta cần chú trọng hơn vai trò của hệ thống pháp luật của cơ
chế thị trường, thông qua việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc
của cơ chế thị trường để tạo dựng và bổ sung, củng cố những
18


nguyên tắc của đạo đức mới.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay chúng ta chủ trọng xây
dựng nhà nước pháp quyền là xây dựng một nhà nước đảm bảo
cho sự hình thành và vận hành đầy đủ, lành mạnh của cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải biến toàn bộ
xã hội thành thị trường.
2.3.3. Tăng cường giáo dục xã hội, đặc biệt là giáo dục đạo
đức để chuyển chuẩn mực xã hội (về chính trị, pháp lý, thẩm
mỹ, khoa học) đã và đang được tạo dựng trong nền kinh tế thị
trường và xây dựng nhà nước pháp quyền thành chuẩn mực
đạo đức cá nhân
Hiện nay, muốn xây dựng một nền đạo đức mới phù hợp với
nền kinh tế thị trường, chúng ta cần tăng cường công tác giáo dục,
hình thành nên những chuẩn mực đạo đức đã và đang được xây
dựng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Muốn vậy những nhà

hỏi những giá trị văn hoá đạo đức mới. Tất cả những điều đó sẽ
kìm hãm và cản trở việc xây dựng đạo đức mới phù hợp với nền
kinh tế thị trường
Trong điều kiện hiện nay, muốn tồn tại và phát triển thì cần
kết hợp sức mạnh của những giá trị đạo đức truyền thống với
những giá trị đạo đức hiện đại trên cơ sở kế thừa có chọn lọc
những tinh hoa văn hoá của nhân loại. Vấn đề đặt ra ở đây là làm
thế nào để giúp mọi người nhận thức đúng dắn những giá trị hiện
đại, từ đó để có những tác động thiết thực và phù hợp với sự phát
triển của xã hội, của thời đại của các giá trị tinh thần, đạo đức
truyền thồng phải được nâng lên một tầm cao mới.
Cùng với phương thức giáo dục trên, công tác giáo dục xã hội
nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng còn phải quan tâm giải
quyết vấn đề mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính quốc tế, mối
quan hệ giữa giao lưu hợp tác quốc tế với yêu cầu bảo vệ bản sắc,
độc lập dân tộc ngay trong giáo dục và đào tạo. Chính vì vậy,
công tác giáo dục của chúng ta hiện nay cần chủ trọng làm rõ
những giá trị của dân tộc không gì thay thế được. Đặc biệt là hoà
nhập nhưng không hoà tan, chúng ta hội nhập vào xu thế phát
triển của thế giới nhưng cần gìn giữ những bản sắc văn hoá của
dân tộc mình. Quan trọng nhất mỗi chúng ta, con em của dân tộc
Việt Nam cần ý thức được lòng tự tôn dân tộc để bảo vệ nền độc
lập của dân tộc mình. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần thấy rằng,
quá trình giao lưu và hợp tác quốc tế cũng là một cơ sở để xây
dựng đạo đức mới phù hợp với kinh tế thị trường.

20


KẾT LUẬN

Nhà nước. Từ khi Nhà nước ta thừa nhận kinh tế thị trường không
phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản và áp dụng vào công
cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Kinh tế thị trường đã có
những ảnh hưởng mạnh mẽ đên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
21


Đặc biệt là kinh tế thị trường đã làm đạo đức xã hội có những
chuyển biến nhất định. Kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi
cho cá nhân phát triển mình trên tất cả các phương diện, đảm bảo
trách nhiệm cá nhân là một chuẩn mực đạo đức của con người;
kinh tế thị trường đòi hỏi con người phải có những quan điểm đạo
đức thiết thực, bớt chủ quan ảo tưởng; kinh tế thị trường làm cho
động cơ và hiệu quả gắn liền và thống nhất với nhau, đồng thời
làm cho mỗi người luôn năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm,
không ngừng học tập. Bên cạnh những tác động tích cực đến đạo
đức thì kinh tế thị trường đang dẫn đến hiện tượng suy thoái về
mặt đạo đức. Và chính vấn đề trượt dốc về đạo đức trong xã hội
hiện nay là vấn đề đáng quan tâm.
Mặc dù thừa nhận tính tất yếu cần thiết của kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay, nhưng khi bàn đến ảnh hưởng của nó đối với
sự phát triển của đạo đức xã hội có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực của cơ chế thị trường cho
rằng, kinh tế thị trường và đạo đức ít hoặc không có liên quan với
nhau, theo quan niệm này đòi hỏi có sự phân biệt rạch ròi hành vi
đạo đức với hành vi kinh tế. Quan điểm khẳng định ảnh hưởng
tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức, quan điểm này
được xác lập trên cơ sở khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa kinh
tế thị trường với đạo đức. Với quan niệm này, họ cho rằng kinh tế
thị trường hoàn toàn phù hợp với đạo đức. Hoặc quan điểm coi

đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều vấn đề phải
bàn, tuy nhiên trước mắt cỏ thể thực hiện một số giải pháp như:
Hoàn thiện cơ chế thị trường làm cơ sở để xây dựng đạo đức mới;
Đẩy mạnh việc xây dựng và kiện toàn về thiết chế cũng như thế
chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo khung pháp lý và
chính trị cho việc xây dựng nền đạo đức mới; Tăng cường giáo
dục xã hội, đặc biệt là giáo dục đạo đức để chuyển chuẩn mực xã
hội đã và đang được tạo dựng trong nền kinh tế thị trường và xây
dựng nhà nước pháp quyền thành đạo đức cá nhân.
Như vậy, trong điều kiện nước ta đang tiến nhanh trên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh phát triển một nền kinh tế
thị trường, việc gìn giữ và phát huy những giá trị đạo đức truyền
thống cũng như việc xây dựng hhệ giá trị đạo đức mới cần được
quan tâm đúng mức.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status