TÀI LIỆU THAM KHẢO ôn THI môn KINH tế học GIÁO dục SAU đại học - Pdf 40

1

ÔN TẬP KINH TẾ HỌC GIÁO DỤC

Toàn cầu hoá, là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào những năm cuối thế
kỷ XX. Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng
dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài và nguồn lực quốc tế và sự hình thành trên
phạm vi rộng lớn với quy mô toàn cầu với những hình thức mới về các mối liên kết
quốc tế giữa các công ty và các quốc gia. Sự kết hợp này làm tăng quá trình hội nhập
giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu. Toàn cầu hoá có thể
diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: khu vực, liên khu vực, châu lục, liên châu lục và
thậm chí trên diện toàn cầu. Toàn cầu hoá và hội nhập là xu thế tất yếu đối với từng
quốc gia, bởi vì nước nào cũng muốn phát triển kinh tế - xã hội của mình.
Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục toàn cầu hoá là sự hội nhập và kết tinh của
nhiều nền văn hoá, giáo dục khác nhau qua mạng viễn thông và công nghệ thông tin
toàn cầu, qua sự lan rộng của các quảng cáo tìm kiếm thị trường văn hoá, giáo dục mới.
Trong những năm gần đây, nổi lên một sự công nhận rộng rãi về vai trò ngày càng
tăng của tri thức trong các quy trình sản xuất và sự chuyển đổi của các nền kinh tế công
nghiệp thành nền kinh tế dựa trên cơ sở tri thức. Theo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), kinh tế dự trên cơ sở tri thức hay còn gọi là nền kinh tế tri thức là
một nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phân bố và sử dụng tri thức là những động lực chính
của tăng trưởng, nó góp phần tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành công nghiệp.
Trong kinh tế tri thức, khả năng sáng tạo và sử dụng tri thức là điều quyết định cho sự thành
công của tất cả các lĩnh vực, trong đó có các ngành công nghệ cao và các ngành truyền
thống. Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại mà hiện nay thường được gọi là cách mạng
tri thức đang tạo ra những thay đổi to lớn, sâu sắc trong cách sản xuất kinh doanh, trong tiêu
thụ, lối sống, cách tổ chức quản lý và mọi mặt đời sống xã hội. Đó không chỉ là một cuộc
cách mạng trong khoa học công nghệ, trong kinh tế mà còn là cách mạng trong tư duy, trong
khái niệm. Cái khác biệt trong thời đại cách mạng tri thức ngày nay là tri thức đã trở thành
một yếu tố của sản xuất, quan trọng hơn cả tài nguyên và vốn. Tri thức cần cho một xã hội tri
thức có ý nghĩa rộng hơn là tri thức công nghệ, bao gồm cả tri thức về văn hoá, về xã hội, về
quản lý...trong một xã hội tri thức, thông tin và tri thức là nguồn vốn cơ bản của quá trình tái

* Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt vì nó liên quan đến con người, xã hội và
sự phát triển
* Coi giáo dục như một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là
sức mạnh của kinh tế
2. Đặc trưng kinh tế và các nhân tố cơ bản trong quá trình giáo dục
* Đội ngũ người học
* Đội ngũ giáo viên và nhân viên
* Nhân tố cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường
3. Đặc trưng kinh tế giáo dục ở nhà trường quân sự
* Đặc điểm giáo dục và quản lý giáo dục nhà trường quân sự
* Đội ngũ giáo viên và nhân viên
* Đội ngũ giáo viên và nhân viên
* Nhân tố cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường
1. Quan điểm tiếp cận
* Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt vì nó liên quan đến con người, xã hội và
sự phát triển
Con người được coi là tài nguyên, trung tâm của sự phát triển, phát triển con
người bền vững, toàn diện; giáo dục làm tăng thêm tính người, tính xã hội tính toàn diện
tính hiện đại của con người.
Liên quan đến xã hội, giáo dục là một chức năng của xã hội, thâm nhập vào các
chức năng khác, gồm: Nhà nước, cộng đồng, gia đình đều rất quan tâm đến sự phát triển
giáo dục và liên quan đến sự phát triển, giáo dục có vai trò đặc biệt trong sự phát triển,
thúc đấy phát triển, gia tăng sự phát triển, tiền đề cho sự phát triển.
* Coi giáo dục như một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là
sức mạnh của kinh tế
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “không có giáo dục, không có cán bộ thì
cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá.” 1 Giáo dục phải đi trước, tiềm ẩn trong mọi hoạt
động của con người, trong sản phẩm mà con người làm ra, tạo nên một kết cấu hạ tầng

1

Về hiệu quả kinh tế trong giáo dục có Hiệu quả trong và Hiệu quả ngoài
Hiệu quả trong là hiệu quả thuộc về người học so với mục tiêu đề ra (gồm kiến
thức, kỹ năng, nhân cách) đối với nhà trường có thể dễ dàng kiểm định, đánh giá.
Hiệu quả ngoài là xem xét sinh viên tốt nghiệp có làm đúng nghề đào tạo không,
có việc làm không, năng xuất chất lượng, hiệu quả, có phát huy được ngành nghề đào
tạo hay không? (Ngân hàng thế giới tính đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lãi theo tỷ 1-3)
* Đội ngũ người học
Luật giáo dục nêu trong chương V, Điều 83: “Người học là người đang học tập
tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân”. Người học thực hiện nhiệm vụ học
tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường. Tôn trọng nhà giáo,
cán bộ và nhân viên của nhà trường, đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện,
thực hiện nội quy, điều lệ của nhà trường, pháp luật của Nhà nước. Tham gia lao động
và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khoẻ và
năng lực. Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, góp phần xây dựng, bảo vệ và phát
huy truyền thống của nhà trường. Đội ngũ người học là một nhân tố chủ yếu của nhà
trường, đây cũng là nguồn vốn dự trữ, nguồn cung cấp lao động cho xã hội
Những chỉ số biểu hiện đặc trưng kinh tế của người học là tỷ số người học so với dân cư:
Tỷ lệ biết chữ người lớn là 91 - 93%, bình quân trong 3 người dân thì có 1 người
đi học. Hiện nay nước ta có trên 22 triệu HS, SV/85,8 triệu dân đi họctỷ lệ là 26%.
Tỷ lệ người biết chữ và trẻ em đi học cao đồng nghĩa với sự văn minh xã hội, phát
triển kinh tế cao và nó thường đi đôi với nền kinh tế có mức tăng trưởng cao do vậy, nó là
một chỉ số quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Theo số liệu thống kê năm 2009:


4
S

Chỉ số


0,81%

0,784%

0,762%

0,725%

0,753%

0,724%

TT
1
2
3

triển

GD
0

HDI

4

Giá trị chung HDI Việt Nam xếp thứ 7 thế giới.
Tuổi thọ:…………………
xếp thứ 7 thế giới
Biết chữ người lớn:………

* Đặc trưng kinh tế của đội ngũ giáo viên là:


5
Gia tăng chất lượng và năng suất lao động của đội ngũ giáo viên thông qua sự phối hợp
tổng thể các biện pháp hành chính, sư phạm, động viên tinh thần và vật chất. Năng suất, chất
lượng của giáo viên là tiền đề trực tiếp quyết định chất lượng con người được đào tạo.
Định mức lao động phù hợp : Đòi hỏi lượng hoá một cách khoa học công lao
động của giáo viên kể cả lao động sống và lao động quá khứ. Ngoài số giờ giảng, người
ta còn tính thời gian lao động kết tinh trong bài giảng, chấm bài, thục luyện... của giáo
viên ngoài giờ chính khoá. Do vậy cần phải giao việc, phân công hợp lý, có kế hoạch
tạo điều kiện cho giáo viên chủ động và đảm bảo chất lượng chuẩn bị bài. Đảm bảo thực
hiện nghiêm túc điều lệnh, điều lệ, quy chế, quy định của Nhà nước, quân đội và của
nhà trường ; đảm bảo thực hiện đúng, kịp thời các chính sách, chế độ, phân công công
tác, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho giáo viên.
* Nhân tố cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường
Cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường bao gồm: Trường sở, thiết bị, phương tiện, tài
liệu, tài sản, giáo trình, giáo khoa... đây là phương tiện, điều kiện phục vụ cho nhiệm vụ, mục
tiêu đào tạo ; nó có quan hệ mật thiết với các nhân tố khác. Đây cũng là nguồn vốn cố định
của nền kinh tế, của xã hội và phải được quản lý như quản lý tài sản của Nhà nước.
* Đặc trưng kinh tế giáo dục của vật chất sư phạm nhà trường
Biểu hiện ở số lượng, số phòng học, phương tiện, sân tập, bãi tập, giáo trình tài
liệu...theo quy định của trên về cấp học, bậc học, quy mô, loại hình đào tạo của từng nhà
trường
Chỉ số phòng học tiêu chuẩn: Về diện tích, ánh sáng, độ thông gió, bàn ghế, bảng, tiếng ồn...
Chỉ số giờ hữu ích của các phòng học, chức năng, đa năng, gồm tần suất sử dụng
và hiệu quả sử dụng.
Chỉ số về số lần sử dụng các phương thiện kỹ thuật dạy học, sách, tài liệu ; (thực
tế có chuyên dụng, phương tiện kỹ thuật hiện đại, đắt tiền nhưng không khai thác sử
dụng được, hoặc sử dụng hiệu quả thấp gây ra sự lãng phí rất lớn). Do vậy, cần đầu tư

nhiệm vụ ban đầu và có khả năng phát triển đó là gắn với chức vụ.
Đối với đội ngũ học viên được tập trung học tập, kết hợp với tu dưỡng rèn luyện
nhân cách, bản lĩnh chính trị, đạo đức, sức khoẻ, học đi đôi với rèn tức huấn luyện đi
đôi với giáo dục. Học viên ăn, ở, sinh hoạt tập trung có hệ thống cán bộ quản lý chuyên
trách tổ chức quản lý chặt chẽ 24 giờ trên 24 giờ. Ra trường học viên cơ bản là đảng
viên (các Học viện, Trường Sỹ quan); học viên tốt nghiệp 100% được phân công công
tác và phải chấp hành sự phân công của cấp trên vô điều kiện.
Ngân sách giáo dục và đào tạo trong quân đội nói chung và trong các nhà trường
quân sự là bao cấp hoàn toàn.
* Đội ngũ nhà giáo ở nhà trường quân sự
Nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường
quân đội. Nhà giáo phải đạt những tiêu chuẩn của cán bộ về trình độ chỉ huy quản lý theo
qui định của Bộ Quốc phòng; trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ nhà giáo theo
qui định của Luật Giáo dục. Nhà giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo
dục. Chính vì vậy, quản lý, xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo vững mạnh là điều kiện
có ý nghĩa hàng đầu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở nhà trường quân sự.
* Đặc trưng kinh tế của đội ngũ giáo viên ở nhà trường quân sự
Từ đặc điểm giáo dục và quản lý giáo dục, từ vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ
giáo viên ở nhà trường quân sự, ta thấy phải gia tăng chất lượng và năng suất lao
động của đội ngũ giáo viên thông qua sự phối hợp tổng thể các biện pháp như các
biện pháp hành chính, biện pháp sư phạm, động viên cả về vật chất và tinh thần
như:
Xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các nhà
trường để nhà trường có thể ứng phó với sự bất định và thay đổi về số lượng, chất lượng,
cơ cấu đội ngũ giáo viên, và các nhân tố tác động đến quá trình quản lý phát triển đội ngũ
giáo viên; Xây dựng chương trình, kế hoạch cho phép nhà trường có cái nhìn tổng thể, toàn
diện, công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên qua đó thấy được hoạt động tương tác
giữa các bộ phận, nhìn thấy tương lai, có thể ra những quyết định điều chỉnh hoặc điều
chỉnh những quyết định trước đó bảo đảm cho công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
hướng vào mục tiêu đã định; Xác định mục đích và nhiệm vụ phát triển đội ngũ giáo viên

Nguồn tuyển chọn là cán bộ, sỹ quan ở các đơn vị trong quân đội có trình chuyên môn
nghiệp vụ giỏi, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, có năng khiếu sư phạm; các sỹ quan đã
tốt nghiệp loại giỏi ở các học viện, nhà trường; các sinh viên đã tốt nghiệp loại giỏi ở các
trường đại học ngoài quân đội có đủ tiêu chuẩn để trở thành người giáo viên giảng dạy trong
các nhà trường quân sự; những học viên tốt nghiệp loại giỏi tại nhà trường có đủ tiêu chuẩn
và có nhu cầu ở lại, phát triển để trở thành giáo viên của nhà trường...
Căn cứ vào cơ chế, quy chế, chỉ tiêu của cấp trên, căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch và
nhu cầu phát triển đội ngũ giáo viên của nhà trường các cơ quan chức năng tiến hành công
tác tuyển chọn giáo viên theo quy trình đã được xác định.
Đào tạo đội ngũ giáo viên, đào tạo là một hoạt động rất quan trọng trong nội
dung xây dựng, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên. Trong quá trình phát triển xã hội,
nhà trường không ngừng biến đổi để đáp ứng sự phát triển ấy. Quá trình biến đổi này
đòi hỏi đội ngũ giáo viên ngày càng phải hoàn thiện. Nhà trường phải xác định mục
tiêu, xây dựng kế hoạch để đào tạo chuẩn hoá cho những giáo viên chưa đạt chuẩn; đào
tạo lại những giáo viên phải giảng dạy các môn học trái với chuyên ngành theo yêu cầu
của nhà trường; đào tạo nâng cao để giáo viên đạt trình độ Thạc sỹ, tiến sỹ.
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cùng với nhiệm vụ đào tạo, thì bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
cũng là một nhiệm vụ quan trọng và đã được quy định trong Luật Giáo dục (2005). Yêu cầu nội
dung chương trình bồi dưỡng phải có hệ thống, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; phải bảo
đảm tính kế thừa và nâng cao, tính đón đầu. Đặc biệt, phải cập nhật đường lối, chủ trương, chính


8
sách của Đảng, Nhà nước, quân đội, các thành tựu mới nhất của tri thức nhân loại, và kinh
nghiệm giáo dục, quản lý giáo dục tiên tiến để công tác bồi dưỡng đạt hiệu quả cao.
Thực chất của công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là quá trình bổ sung kiến thức,
kỹ năng cho từng loại hình giáo viên của nhà trường để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, giúp cho giáo viên có cơ hội củng cố, mở mang, nâng cao hệ thống tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

trình quản lý phát triển đội ngũ giáo viên; đây là biện pháp chủ động xây dựng, sáng tạo
ra những điều kiện tối ưu để giải quyết có kết quả nhất nhiệm vụ dạy học.
Thực chất của việc tạo điều kiện, môi trường thuận lợi là xây dựng môi trường
giáo dục (hay xây dựng môi trường văn hoá trong nhà trường quân sự ) trong nhà
trường là: Xây dựng các mối quan hệ giáo dục và bầu không khí tâm lý - tinh thần tốt
đẹp trong nhà trường; Xây dựng cơ sở vật chất giáo dục, xây dựng cảnh quan môi


9
trường trong nhà trường một cách khoa học phục vụ tốt nhất cho mục tiêu giáo dục đào tạo.
Các tổ chức trong nhà trường tăng cường giáo dục cho mọi thành viên về tư
tưởng, đạo đức, lối sống, các chuẩn mực văn hoá, tinh thần đoàn kết...
Phát huy mọi nguồn lực (nội lực, ngoại lực) xây dựng nhà trường có kết cấu hạ
tầng hợp lý, có cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục, huấn luyện đảm bảo chất lượng và số
lượng tạo điều kiện tốt nhất cho đội ngũ giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào
tạo; Quan tâm chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng cho đội ngũ giáo viên.
Tóm lại, cần phải sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm gia tăng số lượng, chất
lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên, định mức lao động phù hợp, giáo việc, phân công hợp lý
có kế hoạch tạo điều kiện cho giáo viên về cả vật chất và tinh thần cho giáo viên, thực chất
là quản lý phát triển tốt đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đội ngũ
giáo viên chính là nâng cao hiệu quả kinh tế trong giáo dục, đào tạo, trực tiếp quyết định
chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường quân sự.
* Đội ngũ học viên ở nhà trường quân sự
Đối với đội ngũ học viên ở nhà trường quân sự đây là một đội ngũ rất phong phú,
đa dạng với nhiều độ tuổi, cấp học, trình độ phát triển trí tuệ, phẩm chất đạo đức khác
nhau. Họ có thể là học sinh phổ thông, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, sĩ
quan... được tuyển chọn đào tạo bồi dưỡng thành cán bộ các cấp, các ngành của quân đội,
cụ thể có mười đối đối tượng, cấp học, bậc học như sau: Đào tạo cán bộ cấp chiến dịch chiến lược; cán bộ cấp chiến thuật - chiến dịch; cán bộ cấp phân đội; cán bộ chính trị cấp
phân đội; đào tạo trình độ sau đại học cho cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học;

Các nhà trường đã tích cực đầu tư cơ bản xây dựng nhà trường khang trang, đúng
qui cách; đầu tư có chiều sâu cho các phương tiện phục vụ cho nhiệm vụ dạy và học tốt,
có một nguồn vốn cố định góp vào nguồn vốn cố định của quân đội và đất nước.
Các đơn vị, học viện, nhà trường đã đầu tư lớn vào xây dựng mới hoặc
nâng cấp thêm các phòng học, phương tiện kỹ thuật, sân tập, bãi tập, thao
trường, bến vượt, giáo trình, tài liệu... bảo đảm phục vụ tốt cho công tác dạy và
học. Chỉ số các phòng học tiêu chuẩn bảo đảm về diện tích, ánh sáng, độ thông
gió, bàn ghế, bảng...được nâng cao. Chỉ số giờ hữu ích của các phòng học, đặc
biệt các phòng chức năng, phòng đa năng được sử dụng tương đối có hiệu quả;
Tần suất sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học, học liệu cũng đã được nâng
lên rõ rệt các nhà trường đã cố gắng đầu tư đúng địa chỉ, sử dụng có hiệu quả,
bảo quản tốt hơn trước đây và đã hạn chế được sự lãng phí. Đồng thời các nhà
trường đã tổ chức chặt chẽ công tác kế hoạch xác định tiêu chuẩn định mức tiêu
hao vật chất huấn luyện.
Tuy nhiên, những mặt mạnh này tức là sử dụng có hiệu quả kinh tế cao
trong đầu tư, khai thác sử dụng cơ sở vật chất sư phạm trong nhà trường quân
sự là chưa toàn diện và rộng khắp mà chủ yếu nằm ở các học viện, nhà trường sỹ
quan trực thuộc Bộ, một vài trường sỹ quan thuộc các tổng cục, và quân chủng,
vẫn còn nhiều nhà trường cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu vì không có kinh
phí để đầu tư cho nhà trường.
Mặt khác, ngân sách cho các nhà trường quân sự được bao cấp hoàn
toàn, do điều kiện đất nước, quân đội còn nhiều khó khăn nên ngân sách này
rất hạn hẹp chỉ đủ phục vụ trên mức tối thiểu các nhu cầu của công tác giáo
dục, đào tạo và xây dựng nhà trường mà thôi vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến
việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và xây dựng nhà trường.
Vì vậy, cần phải có một chủ trương đúng đắn, một cơ chế hợp lý như xã hội hoá một
số mặt trong quá trình giáo dục để phát huy nguồn lực của nhà trường và các nguồn lực
kinh tế của xã hội nhằm đầu tư mạnh mẽ cho nhà trường nhằm nâng cao chất giáo dục, đào
tạo và xây dựng nhà trường vững mạnh.
VẤN ĐỀ 2. PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRONG CÁC TƯƠNG QUAN KINH TẾ - XÃ HỘI

nước Trung Quốc thành nước phát triển vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập
nước CHND Trung Hoa(2049). Giang Trạch Dân trong bài phát biểu ngày
14/6/1994 tại Hội nghị Trung ương Trung Quốc lại nhấn mạnh: không nhận thức
được vai trò chiến lược ưu tiên phát triển giáo dục để hiện đại hoá XHCN ta sẽ
để mất thời cơ làm lỡ đại sự, sẽ phạm sai lầm mang tính lịch sử.
Hàn Quốc trong những năm 80 của thế kỷ trước đã cho rằng: cạnh tranh giữa các
nước về sức mạnh kinh tế thực chất là cuộc đua tranh về giáo dục chất lượng cao trong khoa
học và công nghệ. Ngay Regan lúc đương nhiệm Tổng thống nước Mỹ (1987) đã từng lo
lắng: Mỹ có nguy cơ trở thành cường quốc hạng hai về kinh tế nếu như Mỹ tự cho phép
mình làm mất đi vai trò dẫn đầu về công nghệ kỹ thuật do tình trạng giáo dục yếu kém.
Giáo dục có vai trò quyết định trong sự phát triển trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá thì trước hết bản thân nó phải được hiện đại hoá - hiện đại hoá về
mục tiêu, về chương trình, về đội ngũ, về cơ sở vật chất - sư phạm. Giáo dục đem lại
lợi ích đồng thời giáo dục cũng cần chi phí tương ứng. Về vấn đề này C.Mác đã có
chỉ dẫn mang ý nghĩa phương pháp luận quý báu như sau: Một lao động được coi là
cao hơn, phức tạp hơn với lao động xã hội trung bình thì nó là biểu hiện của một sức
lao động đòi hỏi những chi phí cao hơn. Người ta phải tốn nhiều thời gian lao động
hơn để tạo ra nó và vì vậy nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn. Rõ
ràng không thể có một nền giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của nền kinh tế,
đưa đất nước vào hiện đại hoá, công nghiệp hoá, nếu bản thân nó không được hiện
đại hoá, không được đầu tư thích đáng.
Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng: “Không có giáo dục, không
có cán bộ thì không có kinh tế, văn hoá. Trong việc đào tạo cán bộ giáo dục là bước


12
đầu…”2 hay “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hết cần có những con người xã hội
chủ nghĩa”3. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta khẳng định: “cùng với
khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” 4. Ngày nay giáo dục có vị trí đặc biệt quan

Lâm tri (thủ đô Tề) trở nên trung tâm thương mại quan trọng thời đó.
Những kiến giải của Quản Trọng về kinh tế giáo dục, Ông được coi là người đi
tiên phong trong việc nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề “nguồn lực con
người”. Ông đã đề xuất ý kiến bất hủ sau:
“Nhất niên thụ cốc
Thập niên thụ mộc
Bách niên thụ nhân”
. Hồ Chí Minh, bàn về giáo dục. Nxb ST, H. 1972. tr. 156.
. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000. tr.310.
4
. Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr.107.
2
3


13
Tính lợi ích một năm lo việc trồng lúa
Tính lợi ích mười năm lo việc trồng cây
Tính lợi ích trăm năm lo việc trồng người.
Phạm trù “thụ” ở đây bao hàm cả việc ươm và trồng mà Quản Trọng coi việc
ươm trồng này bắt đầu bàng sự giáo dục để con người có lễ nghĩa liêm sỉ (tứ duy).
Ông nói: “Phàm kẻ chăn dân phải làm sao cho con trai không có hành vi xằng bậy,
con gái không có chuyện dâm ô. Con trai không có hành vi xằng bậy là do có giáo
dục, con gái không có hành vi xằng bậy là do được dạy dỗ. Khi giáo dục dạy dỗ đã
thành thuần phong thì hình phạt giảm đi được mấy lần. Việc giáo dục dạy dỗ phải
bắt đầu từ việc nhỏ đến việc lớn”. “Xây dựng được lễ nghĩa liêm sỉ” gắn với việc
chống được các điều xằng bậy (Tà). Muốn chống được các điều xằng bậy lớn (đại
tà) thì trước hết phải chống điều xằng bậy nhỏ (tiểu tà).
Ý kiến của Quản Trọng về “Thụ nhân” (trồng người) còn có sự tương đồng sâu
xa với ý tưởng “trồng trọt” Cultus (gốc latinh) biểu thị cho văn hoá.

14
Lo lắng trù tính cho nông nghiệp thì mang lại sự ổn định; Lo lắng trù tính cho
công nghiệp thì mang lại sự giàu có; Lo lắng trù tính cho thương nghiệp thì mang lại sự
năng động của nền kinh tế.
Dù có cả ba thứ trên cũng chưa thể tạo ra sự phát triển, một đất nước còn phải lo
lắng trù tính cho việc giáo dục, phải coi trọng trí thức, coi trọng việc học việc giáo dục
mới hưng thịnh, và cuối cùng phải trù tính lo lắng cho công tác pháp luật thì đất nước
mới thanh bình.
Những mệnh đề mà Lê Quý Đôn nêu ra rất ngắn gọn và sinh động. Chúng chứng tỏ
một tầm nhìn rộng, một sự suy nghĩ sâu về chiến lược phát triển đất nước khi gắn bó cả
năm nhiệm vụ lớn về phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, pháp lý, giáo
dục. Giáo dục theo quan điểm của Lê Quý Đôn sẽ tạo ra sự hưng thịnh cho đất nước.
Tứ tôn và Ngũ qui kết hợp với nhau vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự cho đất
nước ta đang cần hoạch định một chính sách giáo dục hiện thực và khả thi phục vụ cho
sự phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về quan hệ giữa giáo dục và kinh tế.
Lý luận Mác - Lênin coi giáo dục có vai trò quan trọng trong cách mạng XHCN.
Qui luật kinh tế cơ bản của CNXH đã xác định chức năng kinh tế của hệ thống giáo dục
quốc dân XHCN. Giáo dục vừa là mục đích vừ là sức mạnh kinh tế. Đây là bộ phận chủ
yếu của đời sống văn hoá tinh thần (khía cạnh thứ nhất của quy luật kinh tế cơ bản), lại
là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất lao động (khía
cạnh thứ hai của qui luật kinh tế cơ bản).
Vấn đề lý luận này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sinh động và phát triển
sáng tạo trong tiến trình cách mạng nước ta. Tháng 9 năm 1945, ngay sau khi nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Hồ Chủ tịch đã nêu ra mục tiêu của chế độ mới là làm cho
mọi người “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Để đạt mục tiêu này,
Người cho rằng: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng
cao dân trí”, vì mọi người Việt Nam phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây
dựng nước nhà “để giữ vững nền độc lập” để làm cho “dân giàu nước mạnh”. Với hoàn
cảnh đất nước còn nghèo nàn, trình độ dân trí thấp kém, chính quyền cách mạng non trẻ bị

động ấm no, hạnh phúc và đưa đất nước tiến đến đỉnh cao của văn minh nhân loại.
Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ CHí Minh Đảng ta tiếp tục khẳng
định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Văn hoá,
giáo dục và khoa học là các lĩnh vực sản xuất tinh thần - sáng tạo như nhận định của
Các Mác, tạo ra những giá trị, những công trình khoa học, văn hoá nghệ thuật nhằm xây
dựng và phát triển con người. Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội thì văn hoá
(bao gồm cả giáo dục và khoa học) là nền tảng tinh thần của đời sống ấy, và vì thế hai
lĩnh vực đó luôn luôn giữ vai trò quan trọng và quyết định đối với thực trạng, sự vận
động và phát triển xã hội. Giáo dục là mục tiêu của phát triển kinh tế là khi phát triển
kinh tế phải hướng vào cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân
đồng thời cũng là điều kiện bảo đảm cho giáo dục phát triển, và coi kinh tế là nền tảng
của giáo dục. Giáo dục là động lực của phát triển kinh tế vì giáo dục đào tạo phát triển
nguồn nhân lực chính là nguồn tài nguyên về con người (vốn người), gia tăng các giá trị
con người; giáo dục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nó làm gia tăng chất lượng nguồn
nhân lực (nâng cao trình độ người lao động) bảo đảm cơ cấu nguồn lực (nguồn lực trong
kinh tế, khoa học kỹ thuật, quản lý xã hội, thầy và thợ; cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình
độ...). Tư tưởng khẳng định văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ (mà trong đó
giáo dục là nền tảng) là động lực thúc đẩy sự phát triển, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện
đại hoá của Đảng ta xuất phát từ quan điểm coi con người - trước hết là tiềm năng và
sức mạnh trí tuệ, tinh thần và đạo đức - là nhân tố quyết định sự phát triển, là vốn quý
nhất của chúng ta trên con dường xây dựng CNXH. Từ đó, cần nhấn mạnh coi phát triển
văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ là lĩnh vực cực kỳ quan trọng của chiến lược con
người, còn chiến lược con người lại nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Điều đó cũng có nghĩa là phải đặt
văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ vào trung tâm những vấn đề kinh tế, đồng thời
bản thân chúng là những lĩnh vực sản xuất đặc biệt góp phần trực tiếp tạo ra nguồn lực ở
trình độ phát triển ngày càng cao, nâng cao dân trí, tăng tiềm năng trong người lao động,
thúc đẩy con người phát triển và hoàn thiện nhân cách. Đó chính là nhân tố cơ bản, sâu xa
nhất bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước thời kỳ mới. Đầu tư cho ba

thấy, giáo dục góp phần tái sản xuất sức lao động (sức sản xuất), tức là nói tới khía cạnh
tái sản xuất con người. Trong đó con người đóng vai trò quyết định trong việc phát triển
sức sản xuất. Trong quá trình lao động con người làm phong phú thêm kinh nghiệm,
hoàn thiện các kỹ năng lao động; sự phát triển sức sản xuất là sự thay đổi, cải tiến công
cụ lao động do chính con người sáng tạo và thực hiện. Giáo dục đào tạo con người có trí
tuệ phát triển, tâm hồn lành mạnh, thể lực cường tráng làm cho năng suất lao động ngày
càng tăng lên. Giáo dục còn góp phần tái sản xuất quan hệ xã hội biểu hiện đó là con
người quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, quản lý cơ sở vật
chất; Nhờ giáo dục mà người lao động có một cơ hội bình đẳng về quyền học hành,
quyền phát triển tài năng. Kinh tế muốn tăng trưởng và phát triển bền vững đòi hỏi có
sự tiến bộ giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất, đòi hỏi có một nền giáo dục đáp ứng
mục tiêu phát triển kinh tế. Giáo dục cải thiện chất lượng nguồn nhân lực nâng cao trình
độ, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động và điều hoà cơ cấu nguồn lao động.
5. Mối quan hệ giữa giáo dục và văn hoá
Như ta đã biết giáo dục là nền tảng của văn hoá. Giáo dục ra đời và tồn tại cùng với
loài người, giáo dục là nơi bảo tồn, phát huy hệ thống giá trị của nhân loại và của dân tộc.
Giáo dục là một nhân tố sinh thành và truyền thông văn hoá tức là, nhờ giáo dục mà con
người hiểu biết giá trị nhân loại và các hiểu biết này được bảo tồn, chọn lọc, bồi đắp ngày
càng phong phú, đa dạng và giá trị hơn. Thông qua giáo dục mà tri thức nhân loại được


17
sáng tạo, tái tạo từ đó ứng dụng vào cuộc sống rồi phát triển thành các giá trị cao hơn phục
vụ lại chính nhu cầu của con người. Giáo dục nhằm thực hiện một trong những mục tiêu cơ
bản của văn hoá là học vấn cho con người tức là nâng cao dân trí; Lý luận nhà trường (lý
luận sư phạm) là thành quả của văn hoá, của khoa học giáo dục.
Văn hoá gắn liền với giáo dục được thể hiện trong Nghị quyết Ban chấp hành
Trung ương lần thứ Năm khoá VIII. Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách
nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu CNXH, đạo đức, lối sống, nếp sống văn
hoá, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương laio ciuar mỗi người và

hoạch và bước đi thích hợp...VD: năm 2020 có 450SV/1 vạn dân.
2. Yêu cầu về tiết kiệm hợp lý, tính tổng hợp và tính hiệu quả
- Sức người: là làm việc theo kế hoạch, tăng hiệu suất làm việc, phân phối thời
gian làm việc hợp lý và làm việc có phương pháp.
- Tập trung thời gian cho các nhiệm vụ, công việc quan trọng, trọng tâm, sức
người sức của, đầu tư và chi phí hợp lý


18
- Phát huy, nhân lên các chức năng, công suất, hiệu quả của các phương tiện kỹ
thuật dạy học, thiết bị CSVC
* Yêu cầu về tính tổng hợp và tính hiệu quả
Gắn kết mọi hoạt động của nhà trường vào mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo ,
tập trung ưu tiên cho những hoạt động và công tác trọng tâm, phối hợp phát huy cao
nhất các lực lượng trong nhà trường.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status