1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đội ngũ giáo viên (GV) được xem là nguồn lực quan trọng của các cơ sở
giáo dục, nhà trường và xã hội. Trong một công trình nghiên cứu về giáo dục, tác
giả Raja Roy Singh (1994) khẳng định: “Không một hệ thống giáo dục nào có thể
vươn cao quá tầm những GV làm việc cho nó” [68, tr.115]. Nhận định trên phần
nào phác họa bức tranh mô tả khái quát trọng trách cao cả của người GV, nhất là bối
cảnh giáo dục đang có nhiều khởi sắc và thay đổi trong thế kỷ XXI. Điều này cũng
phản ánh thực tiễn phát triển giáo dục, theo đó chất lượng giáo dục không thể cao
hơn chất lượng đội ngũ GV mà chính nền giáo dục ấy đã tạo ra.
Công cuộc đổi mới giáo dục thời gian qua đề cập khá nhiều đến mục tiêu nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Một số chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước ngày càng quan tâm công tác bồi dưỡng GV, tạo cơ hội thúc đẩy
sự chuyển biến về cách thức tổ chức quản lý nhà trường và quản lý công tác bồi
dưỡng GV nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục. Chỉ thị 40-CT/TW
của Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
(CBQL) giáo dục nêu rõ: “Trước yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục có những hạn
chế, bất cập. Số lượng GV còn thiếu nhiều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số... Cơ cấu GV đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, các
vùng, miền. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa
đáp ứng yêu cầu…” Ngoài ra, chỉ thị còn xác định một trong các nhiệm vụ trọng
tâm là: “Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục để có kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục” [1, tr.1].
Trước những thay đổi trên, CBQL nhà trường cần thể hiện vai trò, trách nhiệm ngày
càng cao, đồng thời tăng cường hơn nữa năng lực quản lý nhà trường, quản lý công
tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp.
Văn kiện hội nghị lần 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII xác định:
Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học được cấu thành bởi các thành tố: phẩm chất
đạo đức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Những tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp
được thiết kế theo mô hình phát triển mở rộng, mức độ tăng dần và cao hơn so với
chuẩn đào tạo, là định hướng phấn đấu liên tục, suốt đời trong sự nghiệp của GV
tiểu học. Do vậy, quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp
nhằm xây dựng đội ngũ GV tiểu học có đủ phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng
nghề nghiệp là vấn đề quan trọng và cấp thiết góp phần phát triển giáo dục tiểu học
trong tương lai.
Trước tiên, có thể nói thực tiễn phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn vừa
qua cho thấy, việc đổi mới giáo dục và đổi mới chương trình, sách giáo khoa những
năm gần đây ít nhiều tác động đến hoạt động quản lý nhà trường. Trong số những
thành tựu đạt được do công cuộc đổi mới giáo dục mang lại có thể kể đến: cơ sở vật
chất ngày càng khang trang, tài chính cho giáo dục và nhất là nguồn lực con người
3
ngày càng được chú trọng hơn. Số lượng GV tiểu học trực tiếp đứng lớp đạt chuẩn
và trên chuẩn về trình độ đào tạo ngày càng phát triển lớn mạnh. Tuy nhiên, thực
tiễn cho thấy, chuẩn đào tạo giáo viên chưa thể hiện rõ sự kết nối chặt chẽ với kết
quả thực hiện công việc của GV theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp. Minh chứng là,
báo cáo đánh giá tình hình giáo dục thời gian qua, Nghị quyết 29 Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra: “Chất
lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu; Quản lý giáo dục và
đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục bất cập về chất
lượng, số lượng và cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển
giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp” [19, tr.1].
Đánh giá này chỉ ra một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết của đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay là cần quan tâm hơn nữa đến yêu cầu đổi
mới quản lý giáo dục, nhất là vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo
nhiều khả năng tiềm ẩn, hơn nữa các em mới bước đầu làm quen với môi trường học
tập mới mẻ của giáo dục phổ thông; Kết quả lao động của GV tiểu học tạo ra sản phẩm
nhân cách HS, sản phẩm này là tiền đề, là nền tảng để các em tiếp tục học tập cao hơn;
Ngoài ra sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin đang tác
động, ảnh hưởng làm thay đổi phần nào môi trường học tập, rèn luyện của HS và GV
tiểu học. Những nét đặc thù trên đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với GV tiểu
học, đòi hỏi họ phải không ngừng học tập, bồi dưỡng, trau dồi phẩm chất đạo đức, kiến
thức, kỹ năng nhằm đáp ứng ngày càng cao yêu cầu nghề nghiệp.
Mặc dù hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài
nước bàn về quản lý giáo dục, quản lý nhân sự, trong đó có những nghiên cứu về
quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo ở các địa phương khác nhau, kết
quả những nghiên cứu này được sử dụng để tham khảo trong quá trình thực hiện
luận án. Tuy nhiên qua tìm hiểu tổng quan nghiên cứu vấn đề vẫn chưa thấy công
trình nào nghiên cứu về quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề
nghiệp trên cơ sở tiếp cận chức năng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo
chuẩn nghề nghiệp một cách đồng bộ, tường minh.
Những lý do nêu trên cho thấy cần thiết phải nghiên cứu vấn đề “Quản lý
công tác bồi dƣỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp” một cách đầy đủ
và hệ thống.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu
học theo chuẩn nghề nghiệp tại một số trường tiểu học, từ đó xây dựng biện pháp
quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng đội
ngũ GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý đội ngũ GV tiểu học của CBQL trường tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp
của CBQL trường tiểu học.
6.2. Về đối tượng nghiên cứu: một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng
GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp.
6.3. Về địa bàn nghiên cứu: do điều kiện có hạn, địa bàn được chọn nghiên
cứu được giới hạn gồm một số trường tiểu học công lập tại một số địa phương: khu
vực miền Bắc (tỉnh Hải Dương), khu vực miền Trung (tỉnh Khánh Hòa), và khu vực
miền Nam (TP.HCM).
6
6.4. Giới hạn phạm vi thực nghiệm: tổ chức thực nghiệm biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp tại trường tiểu học TP.HCM.
6.5. Về thời gian thực hiện luận án: từ năm 2011 đến năm 2015
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên tiếp cận hệ thống - cấu trúc, tiếp cận theo
quan điểm lịch sử - logic, tiếp cận thực tiễn, và tiếp cận chức năng quản lý.
- Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở xem xét sự
vật hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, không có sự
vật nào tồn tại riêng biệt, cô lập với sự vật khác. Nghiên cứu thực trạng bồi dưỡng
GV tiểu học và thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề
nghiệp như một hệ thống gồm các vấn đề liên quan: mục tiêu, nội dung, chủ thể,
khách thể, hình thức tổ chức, phương pháp, biện pháp và các điều kiện khác. Các
thành tố này có mối quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Bồi dưỡng
GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp là một hoạt động giáo dục nhằm thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhân sự của nhà trường. Bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề
nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác trong nhà trường và là bộ
phận của quản lý nhân sự trường tiểu học. Quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học
theo chuẩn nghề nghiệp trong nhà trường tiểu học được phân cấp quản lý từ Trung
ương (Bộ GD-ĐT), các cấp quản lý địa phương (Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT) và cấp
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa nội dung cơ bản,
trọng tâm tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, gồm: (1) Tham khảo, nghiên cứu
tài liệu, văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục về chiến lược phát
triển giáo dục và đào tạo, về định hướng xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và về
hoạt động quản lý nhà trường, quản lý đội ngũ nhà giáo; (2) Nghiên cứu tài liệu, ấn
phẩm, công trình trong và ngoài nước về khoa học quản lý và quản lý nhân sự, vấn
đề đào tạo, bồi dưỡng và quản lý công tác bồi dưỡng GV, từ đó xây dựng hệ thống
cơ sở lý luận của đề tài và xây dựng bộ công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu
thực tiễn.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra giáo dục: Phương pháp này được sử dụng
nhằm mục đích thu thập thông tin cần thiết về thực trạng công tác bồi dưỡng GV tiểu
học theo chuẩn nghề nghiệp, thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo
chuẩn nghề nghiệp, và khảo nghiệm tính khả thi, tính cần thiết của biện pháp quản lý
công tác này. Nội dung khảo sát gồm:
+ Khảo sát thực trạng bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, thực
trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp (phiếu khảo
sát thực trạng, phụ lục 1).
+ Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý công tác bồi
dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp (phiếu khảo nghiệm, phụ lục 1).
8
7.2.2.2. Phương pháp trao đổi, xin ý kiến chuyên gia: Thực hiện phương
pháp này bằng cách trao đổi, phỏng vấn và tham khảo ý kiến (nhà khoa học, cán bộ
giảng dạy, nghiên cứu, CBQL giáo dục và GV) về tính cần thiết và tính khả thi của
biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp đã đề
xuất trước khi tiến hành thực nghiệm một số biện pháp cụ thể. Sử dụng phương
9
Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp
tập trung vào hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng GV, từ đó
xây dựng, hình thành ý thức tự giác, tích cực, chủ động của GV trong công tác bồi
dưỡng, tự bồi dưỡng một cách thường xuyên, lâu dài nhằm đáp ứng công việc thực tế
và thoả mãn ngày càng cao yêu cầu nghề nghiệp của GV tiểu học.
9. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận án
9.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận án trình bày tổng quan công tác bồi dưỡng GV và quản lý công tác bồi
dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp trong và ngoài nước, khái quát một số
hướng nghiên cứu chính và những thành tựu đạt được, phát hiện những điểm còn
hạn chế hoặc chưa nghiên cứu sâu từ đó làm cơ sở cho nghiên cứu tiếp theo. Luận
án góp phần phát triển hệ thống cơ sở lý luận quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu
học theo chuẩn nghề nghiệp theo tiếp cận chức năng quản lý.
9.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng GV và thực trạng quản lý công tác
bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, từ đó đề xuất biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp phù hợp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp.
Chứng minh tính cần thiết, tính khả thi và tác dụng của biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp đã đề xuất thông qua triển
khai thực hiện biện pháp quản lý công tác này, góp phần nâng cao chất lượng đội
ngũ GV tiểu học.
10. Cấu trúc của luận án
Mở đầu
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học
theo chuẩn nghề nghiệp
Chƣơng 2. Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo
chuẩn nghề nghiệp
nguồn nhân lực. Lawrence Holpp (2008) quan tâm đến phương pháp và cách thức
quản lý nhằm xây dựng nhóm làm việc hiệu quả [52], Phillip L. Hunsaker (2001)
nghiên cứu kỹ năng quản lý trong xây dựng văn hóa tổ chức, quản lý sự thay đổi và
quản lý xung đột trong tổ chức [113]. Susan D. Strayer (2010) nghiên cứu về phát
triển và duy trì khả năng làm việc của nhân viên [70].
Coi trọng vai trò của nguồn lực con người, Gary S. Becker (2008) xây dựng
và phát triển công trình khoa học lý thuyết về “vốn con người”. Ông cho rằng giáo
dục, đào tạo, bồi dưỡng và chăm sóc sức khỏe con người là hình thức đầu tư quan
trọng nhất cho nguồn vốn con người [95].
Nhóm tác giả Business Edge (2007) đề cập vấn đề đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực, vai trò của nhà quản lý trong tổ chức đào tạo phát triển nguồn nhân lực
cho tổ chức, đối tượng và nội dung đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phương pháp
cải tiến hiệu quả làm việc của đội ngũ [9], [10], [11]. Kinh nghiệm được chia sẻ
11
trong tác phẩm khá bổ ích và cần thiết, tuy nhiên do tập trung nghiên cứu hiệu quả
quản lý hoạt động đào tạo mà chưa làm nổi bật sự tương quan và những tác động
lâu dài của vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đối với sự phát triển của tổ chức.
Theo các tác giả Harvard Business Essentials (2006) và tác giả John Eaton,
Roy Johnson (2006) trình bày nghiên cứu về cách thức quản lý nhằm nâng cao hiệu
quả làm việc của nhân viên, giúp đội ngũ phát triển năng lực, đảm nhận nhiệm vụ
cao hơn, xem con người là yếu tố quan trọng và là mục tiêu hàng đầu trong chiến
lược xây dựng phát triển tổ chức [54], [39]. Những tác phẩm này nghiên cứu sâu về
quản lý hiệu quả làm việc của nhân viên. Tuy nhiên do tập trung vào chu kì quản lý,
nhất là kết quả công việc của nhân viên nên tác phẩm chưa thể hiện rõ vai trò và
phát huy khả năng sáng tạo của nhân viên tham gia vào quá trình quản lý.
Bộ sách kiến thức quản lý của nhóm tác giả Đại học Harvard (2007), J.
Leslie Mckeown (2008) đề cập một số nội dung quản lý phát triển, duy trì nguồn
vi tổ chức nhằm thúc đẩy sự hiểu biết về trường học và quản lý giáo dục [119].
Từ tiếp cận nâng cao kết quả học tập của HS, nâng cao chất lượng giảng dạy
và lãnh đạo giảng dạy, tập sách Lãnh đạo sự thay đổi-Cẩm nang cải tổ trường học,
của Tony Wagner, Robert Kegan (2011) giới thiệu công trình nghiên cứu, trải
nghiệm thực tế trong công tác quản lý hoạt động giảng dạy tại một số trường học ở
Mỹ [73]. K.B. Everard, Geofrey Morris, Ian Wilson (2009), giới thiệu một số vấn
đề cơ bản của quản lý nhà trường, cách thức tổ chức quản lý và sử dụng nguồn nhân
lực và vấn đề phát triển nguồn lực con người trong trường học [26]. Xuất phát từ kết
quả khảo sát thực tiễn, nhóm tác giả chia sẻ bộ công cụ cần thiết góp phần làm thay
đổi quan điểm, tư duy, tầm nhìn, phương pháp và bước đi thích hợp cho công cuộc
cải tổ trường học trước thách thức và cơ hội trong thế kỷ XXI. Vấn đề cải tổ trường
học nhằm đảm bảo hệ thống giáo dục có khả năng thích nghi với biến đổi của thời
đại luôn là đòi hỏi cần thiết, sống còn cho sự phát triển bền vững của một quốc gia.
Cải cách giáo dục cũng chính là sứ mệnh của đội ngũ GV, CBQL giáo dục và
những nhà hoạch định chính sách phát triển quốc gia.
Tóm lại, qua tìm hiểu sơ lược một số tác phẩm, công trình nghiên cứu nêu
trên cho thấy, đa số tác giả đánh giá cao vai trò quan trọng của nguồn nhân lực và
vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức nói chung và
lĩnh vực giáo dục nói riêng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra chức năng quản lý nguồn nhân
lực và những đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực. Ngoài ra, các tác phẩm còn trao
đổi, chia sẻ kinh nghiệm cần thiết để nâng cao chất lượng quản lý nguồn nhân lực
giáo dục trong bối cảnh thay đổi liên tục của xã hội, cách thức cải thiện hiệu quả
làm việc và phát huy tiềm năng đội ngũ. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
trên chưa thể hiện rõ cách thức tương tác hiệu quả giữa nhà quản lý với tổ chức và
với đội ngũ nhân viên dưới quyền thông qua việc thực hiện chức năng quản lý. Dẫu
sao việc nghiên cứu các tác phẩm, công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng
giúp xác định cơ sở lý luận của quản lý nguồn nhân lực, quản lý nhà trường, từ đó
định hướng cho những nghiên cứu trường hợp về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ GV và yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nguồn nhân lực giáo dục.
dưỡng, bao gồm: (1) Bồi dưỡng về xây dựng chương trình giảng dạy; (2) Đào tạo số
hóa thông tin, dữ liệu; (3) Bồi dưỡng chung; (4) Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm…
Người thực hiện chương trình có quyền quyết định nội dung và thời gian cho mỗi
khóa bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến kiến thức mới, phương pháp
giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới [30].
Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng GV có quy chế riêng. Nhà nước có chính sách
bắt buộc bồi dưỡng hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. Đối với GV
14
đương nhiệm, hoạt động bồi dưỡng được tiến hành bằng nhiều hình thức, ở nhiều
cấp với phương thức phong phú và đa dạng. Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể
hiện qua chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lương căn cứ vào thành tích
và thâm niên công tác [31].
Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GV
cho thấy bồi dưỡng GV là khâu không thể thiếu trong chiến lược phát triển giáo dục
nhằm tạo điều kiện cho GV nâng cao trình độ, hiểu biết và sẵn sàng thích ứng với sự
thay đổi của nền kinh tế xã hội [55].
Về nội dung, chương trình bồi dưỡng giáo viên
Nội dung, chương trình bồi dưỡng GV thường được các tác giả đề cập trong
công trình nghiên cứu phát triển đội ngũ GV. Theo báo cáo kết quả nghiên cứu về
sự phát triển giáo dục, Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996)
đã khẳng định: “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo
dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội
ngũ GV về cả số lượng và chất lượng” [89]. Điều đó cho thấy nội dung, chương
trình bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV vừa quan tâm đến yếu tố số lượng vừa quan
tâm phát triển phẩm chất, kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.
Hơn nữa, các chuyên gia giáo dục của Tổ chức UNESCO (1998) cho rằng nội
dung, chương trình bồi dưỡng GV phải tương ứng với vai trò đang thay đổi của GV:
pháp, hình thức bồi dưỡng GV phải vận động theo hướng tích hợp, linh hoạt, sáng
tạo và tương ứng với sự đổi mới về nội dung, chương trình hiện nay [112].
Ngoài những phương pháp và hình thức bồi dưỡng truyền thống, các nghiên
cứu trên thế giới đang có xu hướng sử dụng phương pháp, hình thức học tập, bồi
dưỡng hiện đại như: từ xa (distance learning), trực tuyến (e-learning)… Phương
pháp, hình thức này góp phần xây dựng, phát triển môi trường văn hóa học tập, bồi
dưỡng đề cao tính tích cực, chủ động của cá nhân trong hoạt động bồi dưỡng. Có
thể kể đến một số tác giả: Bonk, C. và Dennen, V. (2003) tìm hiểu “Khung nghiên
cứu, thiết kế, tiêu chuẩn, đào tạo và phương pháp sư phạm trong giáo dục từ xa trên
nền web” [97]. Murphy, K. et al (2005) nghiên cứu “Mô hình kiến tạo của hoạt
động tư vấn, huấn luyện, và điều kiện thảo luận trực tuyến” [110]. Florentino
Blázquez Entonado và Laura Alonso Díaz (2006) nghiên cứu đề xuất “Mô hình đào
tạo, bồi dưỡng giáo viên trực tuyến” [105]. Những nghiên cứu này đã góp phần
khẳng định vấn đề cải tổ, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu học tập lâu dài, suốt đời của các đối
tượng khác nhau là xu hướng phổ biến và thiết yếu.
Về ảnh hưởng của GV đến kết quả học tập của HS và chất lượng giáo dục
Qua tổng kết một số kinh nghiệm của các nhà khoa học trên thế giới về mối
quan hệ giữa chất lượng GV với thành tích học tập của HS và chất lượng giáo dục
cho thấy: Chất lượng GV có ảnh hưởng lớn đến thành tích học tập của HS
(Ferguson, 1991). Tăng cường bồi dưỡng GV có tác động lớn đến việc cải tiến
thành tích học tập của HS (Greenwald, Hedges, and Laine, 1996). Khả năng chuyên
16
môn của GV có tác động lớn đến việc học của HS và chỉ xếp thứ hai sau các yếu tố
gia đình HS (Ferguson, 1991). Đầu tư vào việc giúp đỡ GV rèn luyện chuyên môn
là cách đầu tư hiệu quả nhất để nâng cao thành tích học tập của HS (National
Education Goals Panel, 1997). Mong muốn của cộng đồng xã hội đối với GV có
17
1.1.1.3. Nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với
giáo dục, các quốc gia trên thế giới có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng
nghề nghiệp của đội ngũ GV. Điều này thể hiện qua chính sách đối với giáo dục về
xây dựng nhà trường theo chuẩn mực nhất định, xác định yêu cầu chuẩn nghề
nghiệp GV. Chuẩn nghề nghiệp cung cấp hệ thống kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp
cần thiết để GV dùng làm căn cứ xác định nhu cầu phát triển nghề nghiệp, định
hướng tiếp tục học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp. Chuẩn nghề
nghiệp GV cũng là căn cứ quan trọng để nhà quản lý thực hiện chức năng quản lý
công tác đào tạo, bồi dưỡng GV.
Nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông ở Anh quốc: bộ tiêu chuẩn
nghề nghiệp dành cho GV phổ thông ở Anh bao gồm ba thành phần: (1) Các giá trị và
cách ứng xử mà GV phải thể hiện trong quá trình hành nghề; (2) Các tiêu chuẩn về
giảng dạy; và (3) Các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp. Trên cơ sở 3 thành phần
này, tiêu chuẩn nghề nghiệp dành cho GV phổ thông ở Anh được cụ thể hoá thành
nhiều tiêu chí khác nhau, phản ánh hệ thống giá trị và đạo đức nghề nghiệp của GV
quốc gia này [25].
Theo Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng GV Hoa Kỳ (2008), tiêu chuẩn
nghề nghiệp của GV gồm: Khối kiến thức chung và kiến thức sư phạm; Kiến thức,
kỹ năng hướng dẫn, hỗ trợ HS học tập; Các kiến thức, kỹ năng khác nhằm phát triển
nghề sư phạm. Tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV được sử dụng rộng rãi trong việc
kiểm định các tổ chức đào tạo GV, trong quản lý sử dụng GV và trong quá trình bồi
dưỡng phát triển của bản thân GV [111]. GV tiểu học phải có bằng cử nhân giáo
dục tiểu học. GV tiểu học được tạo điều kiện tham gia các khóa học giáo dục phổ
thông kết hợp với khóa học giáo dục chuyên nghiệp khác. Ngoài ra, GV tiểu học
được khuyến khích phát triển nghề nghiệp ở mức độ cao hơn chuẩn bằng cách tham
định những mong đợi của GV trong ba lĩnh vực trọng tâm, phản ánh mục tiêu, bối
cảnh phát triển nghề nghiệp của GV và các yêu cầu học tập của HS. Từ đó mỗi GV
phải có khả năng tích hợp, vận dụng sáng tạo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp để
tạo dựng môi trường giảng dạy và học tập hiệu quả [93].
Nhiều năm trở lại đây, Chính phủ Úc đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển
năng lực nghề nghiệp cho GV. Bản tuyên bố Melbourne (2008) về các mục tiêu
giáo dục cho HS Úc đã chỉ rõ, cải thiện chất lượng GV được xem là chương trình
cải cách quan trọng, là một phần của những nỗ lực nâng cao trình độ HS và đảm
bảo hệ thống giáo dục mang tính đẳng cấp thế giới. Trong đó nhấn mạnh đội ngũ
GV là nguồn tài nguyên lớn nhất trong các trường học của nước Úc, họ chiếm phần
lớn chi tiêu trong giáo dục và ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình học tập và việc cải
thiện thành tích của HS [109].
Kết quả nghiên cứu chuẩn nghề nghiệp GV ở một số quốc gia nêu trên cho thấy,
xác định yêu cầu chuẩn nghề nghiệp để xây dựng thành bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp GV
theo định hướng năng lực là xu hướng tất yếu. Điều này cho phép GV và CBQL giáo
19
dục tập trung khả năng, các nguồn lực cần thiết vào bồi dưỡng phát triển năng lực nghề
nghiệp và quản lý phát triển đội ngũ GV theo yêu cầu nghề nghiệp.
Tóm lại, kết quả tìm hiểu một số công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy,
các quốc gia trên thế giới tuy khai thác vấn đề nghiên cứu ở những góc độ khác
nhau, song đều dành sự quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội
ngũ GV theo chuẩn mực nhất định. Các nghiên cứu này còn phản ánh nhiều khía
cạnh khác nhau của hoạt động quản lý, đồng thời là nền tảng lý luận và thực tiễn để
tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vai trò, chức năng và tác động của CBQL nhà trường
đến quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Thêm vào đó,
xu hướng trao quyền tự chủ cho nhà trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối
với hoạt động quản lý nhà trường. Điều này thôi thúc cần phải tiếp tục nghiên cứu
tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học
tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức
và năng lực nghề nghiệp” [19, tr.4-9].
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, đánh giá những bất cập và yếu
kém của giáo dục: “Một bộ phận nhà giáo và CBQL chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ giáo dục trong thời kỳ mới. Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa
không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn… Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà
giáo chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục”. Do vậy, giải pháp phát triển đội
ngũ nhà giáo hướng tới “củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo GV, đổi mới căn bản
và toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ
nhà giáo và CBQL giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông sau năm 2015” [12, tr. 4-5].
Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT về Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học, quy
định Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học, được áp dụng đối với GV tiểu học tại các cơ
sở giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chuẩn nghề nghiệp GV
tiểu học bao gồm hệ thống yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống;
kiến thức; kỹ năng sư phạm mà GV tiểu học cần đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu
giáo dục tiểu học. Chuẩn này có thể được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế,
xã hội và mục tiêu giáo dục tiểu học ở từng giai đoạn. Bên cạnh đó, chuẩn nghề
nghiệp GV tiểu học còn được dùng làm cơ sở để GV tiểu học tự đánh giá năng lực
nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức,
trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ [3].
Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT về Quy chế bồi dưỡng thường xuyên GV phổ
thông, thông tư số 32/2011/TT-BGDĐT về Chương trình bồi dưỡng thường xuyên GV
tiểu học đã quy định mục tiêu bồi dưỡng GV, căn cứ quản lý, chỉ đạo, tổ chức và biên
soạn tài liệu phục vụ công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng GV tiểu học [5].
Nhìn chung các văn bản trên xác định công tác bồi dưỡng phát triển đội ngũ
nhà giáo là một trong những yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp
ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục giai đoạn hiện nay. Trong đó
tập trung vào vấn đề mới, có trọng tâm, những vấn đề thực tiễn đội ngũ đang gặp
kiến thức [17].
Các tác giả Hứa Trung Thắng - Lý Hồng (2004) biên soạn tập tài liệu
Phương pháp quản lý hiệu quả nguồn nhân lực, phân tích mục tiêu, cách thức quản
lý nguồn nhân lực và mục tiêu nâng cao năng lực quản lý chất lượng nguồn nhân
lực trong tổ chức. Tác giả cho rằng sự vận hành bình thường của bất cứ khâu nào
trong quá trình khai thác phát triển, quản lý nguồn nhân lực đều liên quan mật thiết
với hiệu quả quản lý tổ chức. Quản lý hiệu quả nguồn nhân lực được xem như hạt
nhân của quá trình quản lý, tạo ra sự thành công của hoạt động quản lý [74].
22
Tác phẩm Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
tác giả Phạm Minh Hạc (1996) đánh giá nguồn nhân lực là một trong những tiền đề
cơ bản của xã hội, trong đó, công tác đào tạo nâng cao chất lượng và phát huy
nguồn lực con người là yếu tố cơ bản. Muốn xây dựng nguồn lực con người đáp
ứng công cuộc đổi mới thì hệ thống giáo dục phải thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo,
bồi dưỡng con người có năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức phù hợp. Do vậy,
việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người trở thành động lực tạo
nên sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [27].
Bài viết Con người - động lực và mục tiêu của phát triển, nhà nghiên cứu
Tương Lai (2006) chỉ ra một số đặc điểm của nguồn lực con người: Là tác giả của
lịch sử, động lực mạnh nhất của phát triển; Là sản phẩm của chính mình; Sở hữu cơ
bản nhất; Là vốn (tư bản) lớn nhất; Là tài nguyên tái tạo có tiềm năng vô tận; Là
công nghệ cao nhất; là sự thống nhất chất sinh vật và chất xã hội; Là sự tổng hợp ý
thức, tiềm thức và vô thức, hữu lý và ngoại lý; Sự hài hòa nhân cách xã hội và bản
sắc cá nhân, trí tuệ sáng tạo, tình cảm cao cả và tâm hồn tự do; Mục tiêu tự thân cao
nhất, đầu tiên và cuối cùng [43].
Ở lĩnh vực quản lý giáo dục, nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý giáo dục:
Tác giả Phạm Minh Hạc (1999, 1996) với tác phẩm Giáo dục Việt Nam trước
dưỡng nhằm phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo. Mặc dù vậy,
một số nghiên cứu chưa làm rõ vai trò và chức năng cụ thể của nhà quản lý các cấp
trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng GV; một số tác phẩm chưa chỉ rõ sự gắn kết, hội
nhập giữa kết quả nghiên cứu trong nước với những thành tựu thế giới đạt được
trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng GV theo chuẩn nghề nghiệp; cách thức vận dụng
vào việc xây dựng chính sách, cơ chế quản lý nhằm thực hiện mục tiêu phát triển
đội ngũ GV, mục tiêu phát triển nhà trường thông qua thực hiện chức năng quản lý,
nhất là quy trình thực hiện chức năng quản lý của CBQL cấp cơ sở.
1.1.2.3. Nghiên cứu về công tác bồi dưỡng giáo viên
Để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục, từ những năm 1980, việc đào tạo, bồi
dưỡng GV được tiến hành theo nhiều loại hình khác nhau: chính quy, tại chức, ngắn
hạn và cấp tốc. Đến những năm 1990, việc đào tạo, bồi dưỡng GV có chuyển biến
nhất định, trình độ đào tạo của GV dần cải thiện tốt hơn [76]. Chu kỳ bồi dưỡng
thường xuyên GV suốt những năm thập niên 1990 thể hiện sự quan tâm của Nhà
nước đối với công tác bồi dưỡng GV phổ thông. Đây là bước đệm quan trọng để phát
triển giáo dục, là điều kiện cần thiết phục vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo.
Dự án phát triển GV tiểu học (2002) triển khai nghiên cứu công tác đào tạo, bồi
dưỡng GV và CBQL giáo dục tiểu học đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tiểu học.
Mục tiêu của dự án là bồi dưỡng GV và CBQL giáo dục tiểu học đáp ứng yêu cầu
chuẩn nghề nghiệp, cập nhật nội dung và phương pháp dạy học hiện đại nhằm nâng cao
năng lực chuyên môn cũng như đòi hỏi ngày càng cao của giáo dục. Dự án quan tâm
nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học và tăng cường năng lực cho các trường sư
24
phạm đào tạo GV tiểu học, tạo nền tảng triển khai chương trình nâng cao chất lượng
giáo dục tiểu học trên phạm vi toàn quốc [123].
Việc triển khai dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (viết tắt là SREM)
25
tác giả, hai mô hình cơ bản trong bồi dưỡng GV là chương trình bồi dưỡng theo khả
năng cung cấp của cơ quan bồi dưỡng và chương trình bồi dưỡng định hướng nhu
cầu người học. Chuẩn nghề nghiệp GV tạo cơ sở cho việc đổi mới công tác bồi
dưỡng GV. Việc đánh giá GV theo chuẩn cung cấp thông tin về những điểm mạnh
và điểm yếu của GV, từ đó hỗ trợ GV và cơ quan quản lý định hướng nhu cầu bồi
dưỡng theo cá nhân. Điều này giúp tăng cường sử dụng mô hình bồi dưỡng GV
định hướng nhu cầu người học, góp phần phát huy hiệu quả và tính thiết thực của
công tác bồi dưỡng GV [15].
Trong công trình nghiên cứu về công tác hỗ trợ nghiệp vụ sư phạm cho GV
tập sự trường tiểu học, tác giả Nguyễn Đức Trí và Nguyễn Thùy Vân (2010) tiến
hành tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn, giới thiệu một số nội dung và hình thức bồi
dưỡng GV tập sự, qua đó đề xuất nội dung chương trình hỗ trợ GV tập sự ở trường
tiểu học. Chương trình cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp,
đáp ứng chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học; Chú trọng bồi dưỡng kỹ năng thực hành ở
trường tiểu học trên cơ sở khoa học giáo dục hiện đại; Biên soạn tài liệu bồi dưỡng
dưới hình thức tinh giản, gọn nhẹ phù hợp việc tự học, vận dụng trong thời gian tập
sự và làm cơ sở mở rộng, khai thác kiến thức, kỹ năng trong thực tiễn nghề nghiệp
những năm tiếp theo [84].
Công trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi
dưỡng GV phổ thông của tác giả Nguyễn Thị Bình (2013) đã chỉ ra, những năm gần
đây nước ta thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông bắt đầu từ việc đổi mới chương
trình và sách giáo khoa đã gặt hái một số thành quả nhất định. Tuy nhiên, kết quả
trên chưa tạo được sự chuyển biến cơ bản tình hình giáo dục phổ thông nói chung
và giáo dục tiểu học nói riêng. Một trong những nguyên nhân cơ bản của hạn chế
này là do đội ngũ GV còn nhiều bất cập về số lượng, cơ cấu, phẩm chất đạo đức và
năng lực nghề nghiệp, hệ thống đào tạo GV chưa theo kịp sự đổi mới chương trình