Kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục mầm non - Pdf 40

KINH NGHIỆM CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC MẦM NON
1. Lời giới thiệu
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
nền tảng đầu tiên của ngành giáo dục đào tạo. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở
trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học tiếp
theo. Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn
diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành
nên nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề
cần thiết đặt nền tảng cho việc học tập ở cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt
đời. Như Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền
giáo dục tốt”. Chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, nhất là ở bậc học mầm non là
tiền đề quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới
của đất nước.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
nhu cầu gửi con em vào các trường mầm non của nhân dân là rất lớn. Chính vì vậy
mà quy mô giáo dục mầm non ngày càng tăng, mạng lưới giáo dục mầm non được
củng cố và phát triển rộng trong cả nước với chủ trương đa dạng hoá các loại hình
công lập, tư thục…Quyết định số 60/2011/QĐ- TTg ngày 26/10/2011 của Thủ
tướng Chính phủ “Quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai
đoạn 2011- 2015”, được ban hành và triển khai thực hiện. Sự quan tâm sâu sắc của
Đảng và Nhà nước giành cho giáo dục mầm non, chất lượng giáo dục mầm non là
một trong những căn cứ quan trọng cho những chủ trương biện pháp và hoạt động
giáo dục tiếp theo nhằm nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục.
Cùng với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, ngành giáo dục mầm
non của tỉnh luôn nhận được sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành
nhiều cơ chế chính sách thúc đẩy GDMN phát triển: quy mô trường lớp, chất lượng
chăm sóc, giáo dục trẻ ngày một tăng cường; Chính sách về xây dựng trường, lớp,
bồi thường, giải phóng mặt bằng mở rộng diện tích đất đai trường học; chế độ cho
giáo viên mầm non, hỗ trợ học phí cho các cháu mẫu giáo con nông dân... Do đó mà
giáo dục mầm non Vĩnh phúc đã phát triển cả về số lượng và chất lượng. Phát triển

chế như: Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị trong thực hiện
chương trình giáo dục mầm non ở một số trường vùng nông thôn còn hạn hẹp, các
thiết bị, phương tiện hiện đại để phục vụ hoạt động giáo dục trẻ còn ít, một số ít cán
bộ quản lý, giáo viên năng lực còn hạn chế, chưa dám mạnh dạn đổi mới sáng tạo,
đôi khi còn dập khuôn máy móc trong thực hiện chương trình. Công tác quản lý, chỉ
đạo của một bộ phận cán bộ quản lý còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập; Lập kế hoạch
hoạt động còn theo thói quen cũ, chưa chú ý thay đổi, chưa chú ý đến việc phát huy
tính tích cực của trẻ; trẻ ít được thực hành, trải nghiệm, mặt khác chưa chú ý đến
việc lựa chọn nội dung tổ chức các hoạt động cho từng độ tuổi. Việc vận dụng các
phương pháp giáo dục phù hợp với từng nội dung của hoạt động theo hướng phát
huy tính tích cực của trẻ, phù hợp với đối tượng còn nhiều hạn chế. Khắc phục được
tình trạng trên là một việc làm quan trọng và thiết thực góp phần vào nâng cao chất
lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non trên địa bàn tỉnh. Để thực hiện được đòi hỏi
người làm công tác quản lý cần có những biện pháp sáng tạo trong công tác quản lý,
chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện chương trình GDMN.
I. Những vấn đề cơ bản của chương trình GDMN
1. Cơ sở lý luận của việc ban hành chương trình GDMN
Chương trình Giáo dục mầm non mới được biên soạn trên cơ sở quy định của
Luật Giáo dục và đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo kí ban hành theo
Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009.
Chương trình được ban hành xuất phát từ những lí do: Thực hiện chủ trương
đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục mầm non
nói riêng của Đảng và Nhà nước; Sự đổi mới chương trình của các cấp học, đặc
biệt là tiểu học; Những bất cập, hạn chế của Chương trình cải cách được ban hành
từ năm 1994, 1995 như chương trình chủ yếu tập trung đề cập nội dung giáo dục
mà chưa thể hiện đầy đủ các thành tố khác của chương trình, nội dung trong các
hoạt động giáo dục chưa mang tính tích hợp, chưa tạo được sự gắn kết, nội dung
các hoạt động học tập còn nặng về cung cấp kiến thức riêng lẻ, chưa coi trọng việc
2


dưới nhiều hình thức; chú trọng tổ chức hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi; coi
trọng việc tổ chức môi trường cho trẻ hoạt động.
Đổi mới giáo dục mầm non và đổi mới chương trình giáo dục mầm non là tất
yếu trong xu hướng đổi mới của giáo dục và đào tạo nói chung. Đây là xu hướng tất
yếu phù hợp với điều kiện của đất nước và trình độ của giáo viên, góp phần nâng
cao chất lượng của công tác giáo dục.
II. Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện chương trình GDMN trong các
trường mầm non tỉnh Vĩnh Phúc
Đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ luôn là nhiệm vụ được coi trọng
hàng đầu trong các trường mầm non tỉnh Vĩnh Phúc. GDMN Vĩnh Phúc đã xác
định lấy chất lượng để duy trì và phát triển số lượng. Sau khi có Nghị Quyết
09/2010/NQ-HĐND ngày 19/12/2010 của Hội đồng nhân dân về tỉnh Vĩnh Phúc về
việc chuyển đổi các trường mầm non bán công của tỉnh sang loại hình công lập,
100% GVMN ngoài biên chế được hưởng lương theo trình độ đào tạo, tăng lương
định kỳ, phụ cấp đứng lớp, hỗ trợ đóng BHXH, BHYT từ ngân sách Tỉnh. 100% trẻ
3


MG con nông thôn được miễn học phí từ 2010 đến nay. GDMN Vĩnh Phúc ngày
càng được phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp vừa là nội dung tuyên truyền, thuyết
phục cộng đồng xã hội nhằm tạo được niềm tin trong các bậc phụ huynh.
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng nội
dung kế hoạch hệ thống văn bản chỉ đạo triển khai chương trình giáo dục mầm non
qua từng năm học. Chỉ đạo các đơn vị thực hiện theo đúng lộ trình của kế hoạch từ
năm học 2009 - 2010 Sở chỉ đạo thí điểm chương trình GDMN mới tại các trường
trọng điểm, trường chuẩn quốc gia và những trường có điều kiện, toàn tỉnh có 108
trường đạt 64,2%; năm học 2010 - 2011 Sở triển khai chương trình GDMN mới tới
100% các trường mầm non và 90% số lớp; năm học 2011- 2012 Sở triển khai đại trà
chương trình GDMN mới tới 100% số trường và 99% lớp mầm non. Đến năm học

lượng thực hiện chương trình GDMN nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ là cần thiết đáp ứng với yêu cầu đổi mới GDMN trong giai đoạn hiện nay.
4


III. Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN
trong các trường mầm non tỉnh Vĩnh Phúc
1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL - GVMN trong thực hiện chương
trình GDMN
Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên mầm non
(GVMN) hiểu rõ về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đổi mới chương trình
GDMN. Trên cơ sở đã nhận thức đúng đắn, sâu sắc, cán bộ quản lý, giáo viên tìm
được những biện pháp phù hợp thay đổi tư duy, suy nghĩ cho công tác quản lý, xây
dựng kế hoạch thực hiện chương trình phù hợp với điều kiện thực tế địa của phương.
Để nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa của chương trình cho cán bộ, giáo
viên, nhân viên trong nhà trường đòi hỏi hiệu trưởng phải thực hiện tốt các nội dung
sau:
+ Chỉ đạo sưu tập các giáo trình, tài liệu, sách báo, bài viết trong các tạp chí
khoa học giáo dục liên quan đến nội dung chương trình để giới thiệu cho toàn thể cán
bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường nghiên cứu và tham khảo.
+ Tập trung và hệ thông hóa những yêu cầu của chương trình và tổ chức cho
toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên cùng nghiên cứu, quán triệt để xác định rõ vai
trò, trách nhiệm của từng bộ phận, từng cá nhân trong việc xây dựng kế hoạch tổ
chức thực hiện chương trình. Từ đó đề ra qui định thống nhất để cùng phối hợp thực
hiện. Phải thay đổi một cách một cách căn bản nhận thức của các thành viên từ hiệu
trưởng, các phó hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên.
+ Để phù hợp với việc đổi mới nội dung, chương trình sẽ triển khai thực hiện
đại trà chương trình GDMN trong các trường mầm non của tỉnh, hiệu trưởng cần
thống nhất chỉ đạo thay đổi cách trao đổi, rút kinh nghiệm và đánh giá hoạt động dạy
học của giáo viên từ chỗ quan tâm đến việc truyền đạt và chuyển tải nội dung dạy

dẫn, định hướng sẽ nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục trong chương trình
GDMN.
- Căn cứ vào các văn bản và yêu cầu trong chương trình khung, Hiệu trưởng
phải biết vận dụng các chức năng quản lý, phương pháp quản lý vào việc tổ chức chỉ
đạo thực hiện chương trình, xác định hướng thực hiện kế hoạch đảm bảo đúng theo
sự chỉ đạo của ngành phù hợp với đặc thù của từng trường.
+ Cán bộ quản lý chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch năm cho từng khối lớp.
Dự kiến thời gian thực hiện các chủ đề trong năm. Khi xây dựng kế hoạch căn cứ
vào đặc điểm tình hình từng lớp, trẻ, giáo viên và phụ huynh để đề ra các biện pháp
chỉ đạo thống nhất trong quá trình thực hiện chương trình trong đơn vị. Kế hoạch
giúp cán bộ quản lý thể hiện hướng đi riêng của đơn vị và những định hướng cơ bản
để từ đó giáo viên xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch trong từng nhóm, lớp một
cách có hiệu quả.
+ Gắn trách nhiệm cụ thể đối với Ban giám hiệu từ đó có quy chế thi đua, khen
thưởng đối với ban giám hiệu do vậy sẽ kích thích sự lắng nghe chia sẻ của ban giám
hiệu với các giáo viên đồng thời ban giám hiệu cũng nhìn nhận mỗi giáo viên là một
cố vấn đắc lực cho ban giám hiệu.
+ Trên cơ sở kế hoạch năm học của nhà trường, giáo viên chủ động xây dựng
kế hoạch sao cho phù hợp với tình hình thực tế của nhóm, lớp mình phụ trách. Chủ
động xây dựng kế hoạch tháng, tuần và ngày cho lớp mình; giáo viên thực hiện các
bước phát triển của chủ đề nhánh, bao gồm chọn chủ đề cụ thể, xác định mục tiêu
giáo dục, xây dựng mạng nội dung, mạng hoạt động của chủ đề và lên kế hoạch cụ
thể hàng tuần cho phù hợp với trẻ và điều kiện vật chất và văn hóa của địa phương.
+ Lập kế hoạch giúp giáo viên chủ động, sáng tạo thực hiện nhiệm vụ, tránh
được tình trạng chồng chéo, hoặc tùy tiện cắt xén các hoạt động trong quá trình thực
hiện chương trình Giáo dục Mầm non. Giáo viên có điều kiện quan tâm đến trẻ, thấy
được những tiến bộ và những khó khăn của trẻ và từ đó tìm được những biện pháp
tác động đến trẻ phù hợp hơn.
+ Tạo cơ hội cho giáo viên biết chia sẻ, hợp tác chặt chẽ và thống nhất với nhau
để hoàn thành các nhiệm vụ trong quá trình thực hiện chương trình. Kế hoạch của

phải đầu tư thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, phương tiện hiện đại đủ cho các trường mầm
non theo hướng chuẩn hóa, hiện đại. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho CBQL, giáo
viên biết cách sử dụng và bảo quản đồ dùng, đồ chơi, tài liệu, học liệu của nhà
trường cũng như của các nhóm lớp, biết lựa chọn và sử dụng có hiệu quả những đồ
dùng, đồ chơi cần thiết phục vụ công tác giáo dục trẻ.
- Tổ chức tiết dạy về sử dụng đồ dùng trực quan thiết bị hiện đại, thiết kế môi
trường học phù hợp với chủ đề, điều kiện và đặc điểm văn hóa của từng địa phương.
Trang bị cho các trường mầm non sách, tài liệu, học liệu như tuyển tập thơ truyện,
tranh ảnh theo chủ đề, hướng dẫn thực hiện chương trình, băng, đĩa thơ ca truyện
kể…để sử dụng trong hoạt động phát triển ngôn ngữ, trong giờ đón trả trẻ, thể dục
sáng và các hoạt động tập thể, ngày hội, ngày lễ trong các trường mầm non.
+ Thực hiện mục tiêu của từng chủ đề, các đồ dùng, đồ chơi bao gồm cả đồ
chơi mang tính sản phẩm công nghiệp và đồ chơi tự tạo từ nguyên vật liệu thiên
nhiên, phế liệu được giáo viên sử dụng hết sức linh hoạt. Trong quá trình tổ chức các
trò chơi, các hoạt động như: Hoạt động học; chơi - hoạt động góc; chơi - hoạt động
ngoài trời…ngoài việc sắp xếp các đồ chơi đẹp mắt, hấp dẫn trẻ, giáo viên gợi ý để
trẻ khai thác tối đa cách sử dụng các nguyên vật liệu đồ chơi theo nhiều cách khác
nhau phát huy khả năng sáng tạo của trẻ.
+ Chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy của
từng nhà trường, ứng dụng các phần mềm GDMN trong đổi mới phương pháp dạy
học, tạo ra nhiều sản phẩm đồ dùng, đồ chơi từ các phần mềm Kidsmart, Happykids
đưa vào các chủ đề, các hoạt động như làm quen với văn học, làm quen với toán, làm
quen với môi trường xung quanh…
7


+ Phát động phong trào làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu, phế liệu để bổ
sung cho các hoạt động theo chủ đề, phù hợp với chương trình GDMN. Chỉ đạo giáo
viên đầu tư thời gian, công sức làm ra nhiều đồ chơi phong phú về chủng loại phục
vụ đa dạng các hoạt động thiết thực của trẻ.

chương trình GDMN (tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ trong trường mầm non).
Lập kế hoạch của nhà trường và từng khối lớp, lập kế hoạch theo chủ đề Quản lý
nhóm lớp của giáo viên mầm non. Đánh giá sự phát triển của trẻ. Hướng dẫn tích
hợp nội dung lồng ghép trong tổ chức các hoạt động, tổ chức triển khai thực hiện về
giáo dục tài nguyên môi trường biển đảo, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu
trong trường mầm non.
+ Kết quả bồi dưỡng đã làm tăng nhận thức, trình độ, năng lực của đội ngũ
CBQL, GV, giáo viên chủ động lập kế hoạch, linh hoạt trong tổ chức thực hiện các
hoạt động giáo dục, các hoạt động của trẻ được tổ chức theo hướng tích hợp, phát
huy khả năng hoạt động tích cực của trẻ. Ngành đã chỉ đạo các trường mầm non nêu
8


cao ý thức tự giác, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, vận dụng hiệu quả những nội dung
đã được bồi dưỡng vào thực tế quản lý giảng dạy, nâng cao toàn diện chất lượng
chương trình GDMN
+ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp và thiết thực với từng địa
bàn, trường mầm non. Có kế hoạch về kinh phí để mở lớp bồi dưỡng.
+ Xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo
viên rõ ràng, cụ thể, đề xuất nội dung cần bồi dưỡng kịp thời và đúng đối tượng.
+ Giáo viên mầm non phải có ý thức, tự giác than gia học tập, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Tạo điều kiện đầy đủ tài liệu hướng dẫn của ngành, tài liệu bồi dưỡng, tài liệu
tham khảo, tài liệu đổi mới giáo dục đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học.
+ Hiệu trưởng các trường mầm non phải tổ chức chỉ đạo việc nghiên cứu các
văn bản, những quy định, hướng dẫn của ngành về quản lý và chỉ đạo, tổ chức thực
hiện hoạt động dạy học trong đội ngũ cán bộ quản lý cũng như hướng dẫn tổ chức
thực hiện chăm sóc, giáo dục theo chương trình GDMN.
5. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới công tác quản lý chuyên
môn trong thực hiện chương trình

môn nên các hoạt động được các giáo viên chuẩn bị chu đáo, phần minh họa sinh
động. Đặc biệt việc kết hợp sử dụng phương tiện dạy học, giáo cụ trực quan, ứng
dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả và có sức thuyết phục.
6. Tổ chức kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm về chỉ đạo thực hiện chương
trìnhGDMN
- Thông qua kiểm tra giúp cho CBQL, sở, phòng GD&ĐT, Ban giám hiệu
trường mầm non chỉ đạo và tổ chức các trường quan tâm đến quá trình thực hiện
chương trình GDMN nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
Kiểm tra việc quản lý, tổ chức thực hiện kế hoạch chương trình, các hoạt động
chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trường
+ Tích cực kiểm tra, giám sát, đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh kế
hoạch; mỗi năm học phải tạo được những điểm mới, sáng tạo trong thực hiện chương
trình; căn cứ vào kết quả của trẻ, của từng nhóm, lớp, giáo viên xem xét để điều
chỉnh kế hoạch cho phù hợp với nhóm, lớp mình phụ trách, đồng thời điều chỉnh
công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện chương trình.
+ Trong kiểm tra công tác quản lý tổ chức thực hiện chương trình tại các nhà
trường cần có căn cứ để đánh giá, gồm: Hồ sơ quản lý chuyên môn, hồ sơ thanh tra
giáo viên, sổ dự giờ, hồ sơ cá nhân trẻ… kiểm tra cơ sở vật chất, thiết bị mua sắm và
tự làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo, trang trí nhóm, lớp, bố trí môi trường hoạt động cho
trẻ; dự hoạt động của cô và trẻ...
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đặc biệt tăng cường công tác kiểm
tra đột xuất, kiểm tra nội bộ. Có nhiều hình thức kiểm tra: kiểm tra toàn diện, kiểm
tra chuyên đề, kiểm tra báo trước và kiểm tra không báo trước. Thanh, kiểm tra đánh
giá đúng thực chất của nhà trường, năng lực của giáo viên, không chạy theo thành
tích. Kiểm tra chủ yếu là giúp đỡ, chấn chỉnh nền nếp, kỉ cương, những sai phạm,
đánh giá công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình. Kịp thời uốn nắn,
phát hiện, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực cũng như những sai phạm trong chuyên
môn, nhất là những trường hợp không tự giác nhận và sửa chữa khuyết điểm; cần có
kế hoạch và nội dung kiểm tra cụ thể phù hợp với từng thời điểm.
+ Công tác kiểm tra được tiến hành thường xuyên, tiến hành một cách nhẹ

Cơ sở vật chất trường, lớp học và trang thiết bị chăm sóc giáo dục trẻ được
đầu tư theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa, Số trường mầm non đạt chuẩn quốc
gia tăng nhanh từ 77 trường năm 2009, tính đến nay Vĩnh Phúc đã có 145 trường
MN đạt chuẩn Quốc gia đạt 78,8,%, công nhận thêm được 67 trường từ khi triển
thực hiện chương trình GDMN mới. 100% trẻ có đủ tài liệu, học liệu, 100% nhóm
lớp có đủ tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN, giáo viên rất thuận lợi
trong việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ.
- Các cơ sở giáo dục làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, huy động sự tham
gia của các bậc cha mẹ và cộng đồng, thu hút được nhiều nguồn lực cho GDMN.
- Khi áp dụng sáng kiến nhà quản lý có cơ sở để kiểm tra, đánh giá năng lực chỉ
đạo các hoạt động của Hiệu trưởng, hoạt động sự phạm của giáo viên trong các
trường mầm non từ đó đưa ra các kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình GDMN
gắn với hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ nhằm từng bước nâng cao chất
lượng thực hiện chương trình GDMN.
Triệu Thị Thu Hằng – Phó Trưởng Phòng GDMN

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status