MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là tài sản chung, vô giá của cả nhân loại. Môi trường có vai trò
vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người, ảnh hưởng không nhỏ đến
sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Cùng với dân số, môi
trường đã trở thành vấn đề quan tâm của toàn thể nhân loại không chỉ bởi vai trò
vô cùng to lớn của nó đối với chất lượng cuộc sống mà còn là chỉ số đánh giá trình
độ phát triển của đất nước. Hiện nay trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, con người đã làm cho môi trường có nhiều biến đổi theo hướng tiêu cực
và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững như: đất đai bị xói mòn, sự cạn kiệt các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển bị suy
giảm…Một trong những nguyên nhân của hiện trạng trên là do người dân chưa
có ý thức gìn giữ và bảo vệ môi trường. Vì thế việc giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho mọi người dân trong cộng đồng nói chung đặc biệt là cho thế hệ trẻ nói
riêng là biện pháp tích cực, có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ, xây dựng môi
trường sống cho hôm nay và mai sau. Bởi lẽ, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn,
một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là
lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy
sinh, gian khổ, sức khoẻ và sáng tạo. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể
chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình.
Thanh niên là lực lượng xã hội quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã
hội. Từ xưa đến nay, thanh nhiên luôn được coi là rường cột của đất nước, tương
lai của dân tộc và là hạnh phúc của mỗi gia đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
nói: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy,
yếu hay mạnh phần lớn là do các thanh niên” [21, tr5]. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X cũng đã khẳng định: “Thanh niên là
lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quyết định tương lai vận mệnh
dân tộc…” [12, tr35]. Chính vì vậy việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
thanh niên hiện nay là một việc hết sức cấp bách và cần thiết.
vệ môi trường quốc gia đến 2010 và định hướng đến năm 2020... Trong các Đại
hội của Đảng, Đảng ta cũng luôn coi trọng và đề cao vấn đề bảo vệ môi trường
trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Nói về vấn đề môi trường, có rất nhiều cá nhân, tập thể, đơn vị cũng có
những bài viết, bài nói chuyện bàn về vấn đề này như: Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường: “200 câu hỏi/đáp về môi trường” (2000); Bộ Giáo dục và Đào tạo:
“Khoa học môi trường” (2001); Chu Tuấn Nhạ - Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường: “Bảo vệ môi trường trong sự nghiệp công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước - thời cơ và thách thức” (2001); Cục Bảo vệ môi trường:
“Hướng dẫn về bảo vệ môi trường cho các truyền thông viên là đoàn viên thanh
niên” (2006); Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Văn Vĩnh với bài viết: “Bảo vệ tài nguyên, môi
trường vì mục tiêu phát triển bền vững” (2009); Phạm Khôi Nguyên: “Tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác bảo vệ môi trường” (2009)…
Các bài nói, bài viết nêu trên đề cập nhiều đến vấn đề bảo vệ môi trường,
nhiều bài viết, bài nói làm cho chúng ta có những nhận thức ngày càng đầy đủ
hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Song chưa có bài viết hay
công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho thanh niên. Vì vậy đề tài: “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho thanh niên huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa hiện nay” mà tác giả lựa chọn
là một hướng nghiên cứu mới, góp một tiếng nói tích cực trong một lĩnh vực
đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho thanh niên và thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
thanh niên huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa hiện nay, khóa luận đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho thanh niên huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
6. Ý nghĩa của khóa luận
Khóa luận mong muốn làm sáng rõ công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho thanh niên, qua đó góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho thanh niên huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa hiện
nay. Đó cũng là cơ sở để nâng cao tinh thần trách nhiệm của thanh niên huyện
Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hoá nói riêng và thanh niên cả nước nói chung trong
việc bảo vệ môi trường để đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội. Bên
cạnh đó, khóa luận cũng có thể làm tư liệu để cơ quan tuyên truyền tại địa
phương có những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng công tác giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên huyện nhà hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần danh mục tài liệu
tham khảo, phần nội dung của khóa luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho thanh niên hiện nay
Chương 2. Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên
huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Chương 3. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho thanh niên huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa hiện nay
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO THANH NIÊN HIỆN NAY
1.1. Môi trường và ý thức bảo vệ môi trường
1.1.1. Quan niệm về môi trường
1.1.1.1. Khái niệm môi trường và một số khái niệm liên quan
- Khái niệm môi trường
khác với cuộc sống của các loài sinh vật khác.
Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên,
làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như: ô tô, máy bay, nhà ở, công
sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo…
Như vậy, có thể hiểu môi trường như sau:
Môi trường là tập hợp những yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con
người có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động
sống của con người như: Không khí, nước, sinh vật, đất, xã hội loài người.
Từ quan niệm trên có thể thấy rằng môi trường mà chúng ta đề cập là
môi trường tự nhiên, bao gồm: đất, nước, không khí, hệ sinh thái, động thực
vật và điều kiện tự nhiên khác có ảnh hưởng tương đối tới cuộc sống của con
người. Các yếu tố cấu thành môi trường tự nhiên hoàn toàn do tự nhiên cấu
tạo nên. [27, tr13]
Môi trường tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn con người. Trong
quá trình phát triển, môi trường tự nhiên có sự thay đổi do những yếu tố cấu
thành của nó hoặc do hoạt động của con người gây nên, con người là nhân tố
lớn nhất làm thay đổi môi trường tự nhiên trong quá trình mưu sinh.
- Khái niệm suy thoái môi trường và ô nhiễm môi trường
Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của
thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và
thiên nhiên. [3, tr12]
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm
tiêu chuẩn môi trường. [3, tr12]
1.1.1.2. Vai trò của môi trường đối với xã hội và đời sống của con người
Môi trường có vai trò quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển
của đời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của
đất nước, của dân tộc và nhân loại.
Vai trò của môi trường đối với xã hội và đời sống của con người thể
- Các loại quặng, dầu mỏ: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các
hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người, thu được nhiều lợi nhuận về
kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển.
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
trong quá trình sống
Trong quá trình sống, con người luôn đào thải các chất thải vào môi
trường. Tại đây các chất thải dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi
trường khác sẽ bị phân huỷ, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia
vào hàng loạt các quá trình sinh địa hoá phức tạp. Trong thời kỳ sơ khai, khi
dân số của nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự nhiên làm
cho chất thải sau một thời gian biến đổi lại trở lại trạng thái nguyên liệu của
tự nhiên. Sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng, quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến vai trò này
nhiều nơi, nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường. Khả năng tiếp
nhận và phân hủy chất thải trong một khu vực nhất định gọi là khả năng đệm.
Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều
chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy thì chất
lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm. Vai trò này có thể
phân loại chi tiết như sau:
- Vai trò biến đổi lý - hoá học (phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng, hấp thụ,
tách chiết các vật thải và độc tố).
- Vai trò biến đổi sinh hoá (sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình nitơ và
cacbon, khử các chất độc bằng con đường sinh hoá).
- Vai trò biến đổi sinh học (khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá,
amôn hoá, nitrat hoá và phản nitrat hoá).
Lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho
con người. Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi:
sắc ở từng đảng viên, từng tổ chức đảng, từng cấp ủy ở tất cả các ngành, các
cấp và trong toàn thể quần chúng nhân dân. Cần phải tăng cường sự lãnh đạo
của đảng bộ cơ sở để dấy lên phong trào toàn xã hội tham gia bảo vệ môi
trường. Việc giải quyết vấn đề môi trường nếu được cả cộng đồng dân cư
hưởng ứng thì khả năng thành công sẽ được nhân lên. Vì vậy, việc thu hút mọi
tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết. Bởi lẽ, hơn
ai hết người dân hiểu rõ đặc điểm nơi mình sinh sống để định ra những việc
cần làm, các việc cần ưu tiên; người dân thường nhanh nhạy đưa ra các giải
pháp phù hợp mà lại ít tốn kém; các dự án, chương trình bảo vệ môi trường gắn
liền với lợi ích của người dân; nhân dân hoạt động bảo vệ môi trường như là
đối trọng với các doanh nghiệp hay các chủ doanh nghiệp thường không thực
hiện Luật Bảo vệ môi trường do quyền lợi kinh tế bị va chạm.
Thứ ba, bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời
trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả
các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng để bảo đảm phát triển bền vững,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội VI, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng các luận chứng kinh tế - kỹ
thuật cho các chủ trương lớn về phát triển kinh tế và xã hội, sử dụng tốt nhất
đi đôi với bảo vệ có hiệu quả môi trường sinh thái”.[24, tr15]
Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000,
nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã
hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”. [24, tr18]
Đại hội VIII nêu bài học: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và
công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường
sinh thái”. [8, tr72]
Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 thông qua tại Đại hội IX
khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi
đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. [9, tr25]
tránh ô nhiễm môi trường, tránh tình trạng cạn kiệt tài nguyên, khoáng sản…
Thứ năm, kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Nghị quyết Trung ương IV khóa VIII đã nhấn mạnh: “Khơi dậy và phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm để
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó vấn đề môi
trường là một nội dung quan trọng” [23, tr14]. Nguồn lực ở đây cần được
hiểu một cách toàn diện, bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí
tuệ, truyền thống văn hóa - lịch sử của dân tộc. Việc phát huy tối đa nội lực ở
đây chính là phát huy nguồn lực tổng hợp, cả về kinh tế - xã hội, an ninh,
quốc phòng và sức mạnh của toàn hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhấn mạnh
nội lực không có nghĩa là đóng cửa, đi ngược lại với xu thế hội nhập và toàn
cầu hóa của thời đại. Phát huy nội lực là để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
và ngược lại hợp tác quốc tế sẽ củng cố, phát triển nội lực của dân tộc.
Tóm lại, bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong
lành sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn,
khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường;
khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. [3, tr3-4]
1.1.2.2. Những biểu hiện về ý thức bảo vệ môi trường
Ý thức chính là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào
bộ óc người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức bảo vệ môi trường là một hình thái ý thức xã hội, về cấu trúc bao
gồm hai bộ phận: Tâm lý về bảo vệ môi trường và tư tưởng bảo vệ môi
trường. Tâm lý bảo vệ môi trường hình thành một cách tự phát dưới dạng tình
cảm, tâm trạng, cảm xúc đối với các hiện tượng môi trường xảy ra trong đời
sống xã hội. Tư tưởng bảo vệ môi trường là tổng hợp các quan điểm, quan
niệm có tính lý luận, phản ánh các hiện tượng môi trường một cách sâu sắc, tự
giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học. Ý thức về môi trường
1.2.1. Khái niệm giáo dục
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm giáo
dục do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau.
Trong Từ điển Tiếng Việt giáo dục được xem là: “hoạt động tác động
một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng
nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực
như yêu cầu đặt ra”. [17, tr6]
Khái niệm giáo dục trong các giáo trình Giáo dục học ở nước ta cơ bản
được hiểu là: “hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người…”. [30,
tr9]
Trong nghiên cứu xã hội học, giáo dục được đề cập với nghĩa: Giáo dục
là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần,
thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được
những phẩm chất do yêu cầu đề ra.
Như vậy: Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục
đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người
dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân
cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp
ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại.
1.2.2. Vai trò của thanh niên trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường
hiện nay
Theo tác giả Vũ Trọng Kim, Thanh niên là một nhóm xã hội nhân
khẩu đặc thù, bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định (15 - 35),
có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi
lĩnh vực hoạt động của xã hội; có mối quan hệ mật thiết với tất cả các giai
cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết
định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi xã hội. [19, tr14]
Góp phần tuyên truyền, giáo dục và vận động nhân dân đặc biệt là người
dân nơi mình sinh sống nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân về bảo vệ
môi trường như: Không vứt rác bừa bãi, phải thu gom và vứt rác đúng nơi quy
định; phân loại rác hữu cơ và vô cơ; không chặt phá rừng; mỗi gia đình phải
có ý thức thu gom rác thải vào hệ thống bể tự hoại, hầm chứa hoặc cho nước
thải vào hệ thống thoát nước công cộng; sử dụng nhà vệ sinh sạch sẽ, không
phóng uế bừa bãi; không hút thuốc lá nơi công cộng; vận động nhân dân tham
gia vào việc bảo vệ môi trường; trồng cây xanh, góp phần giảm thiểu ô nhiễm
môi trường và tạo cảnh quan; thu dọn vệ sinh thường xuyên ở nhà và đường
làng ngõ xóm; vận động người dân tự giác chấp hành các quy định của các
cấp chính quyền địa phương về giữ gìn vệ sinh, xây dựng gia đình văn hóa…
Với tài năng, sự sáng tạo, thanh niên đã đóng góp những sáng kiến, kinh
nghiệm mới trong việc bảo vệ môi trường như: việc tận dụng các phế thải từ
sinh hoạt để làm ra những đồ dùng hay những vật liệu mới phục vụ cho con
người như vậy vừa tránh được sự ô nhiễm môi trường lại vừa đáp ứng được
nhu cầu ngày càng cao của con người như xuất phát từ thực tế ô nhiễm môi
trường ở làng nghề làm miến dong (xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, Hà
Nội), chàng trai 25 tuổi Nguyễn Phi Trường đã có ý tưởng tận dụng lượng
chất thải hữu cơ - bã cây dong riềng - làm chất đốt.
Vai trò của thanh niên còn thể hiện ở năng lực tổ chức các diễn đàn, cuộc
thi, phát động các phong trào để tất cả mọi người đặc biệt là thanh niên thấy
rõ được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường, từ đó
giúp họ có những hành động đúng đắn trong việc bảo vệ môi trường và cũng
trang bị cho họ kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường để họ có thể tuyên
truyền, giáo dục cho mọi người xung quanh về ý thức bảo vệ môi trường.
1.3. Sự cần thiết phải giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh
niên hiện nay
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi
Những nỗ lực bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đã bước đầu góp phần tạo ra những cơ hội cho sự phát triển bền vững
đất nước, làm giảm mức độ ô nhiễm môi trường của nước ta xuống thấp.
Tuy nhiên, bên cạnh những cố gắng và thành công ban đầu, công tác bảo vệ
môi trường ở nước ta còn chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn
chung, chất lượng môi trường nước ta tiếp tục xuống cấp. Luật Bảo vệ môi
trường chưa được thực hiện nghiêm minh; rừng nước ta tiếp tục bị tàn phá;
khoáng sản bị khai thác bừa bãi; đất đai bị xói mòn và thoái hóa; đa dạng sinh
học trên đất liền và dưới biển đều bị suy giảm; nguồn nước mặt và nước ngầm
đang ngày càng bị ô nhiễm và có nguy cơ cạn kiệt... Có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến tình trạng trên. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất, cơ bản nhất đó
là nhận thức của các tầng lớp nhân dân về việc bảo vệ môi trường còn hạn chế
dẫn đến có những hành vi vi phạm quy định về môi trường, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến môi trường. Chính vì vậy mà việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho mọi người dân là một việc làm hết sức quan trọng và cấp bách.
Đặc biệt là giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên lại càng trở
nên cần thiết hơn bao giờ hết, bởi lẽ chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thanh
niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người
phụ trách thế hệ thanh niên tương lai” [16, tr312]. Thanh niên là lực lượng có
vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đặc biệt
với ưu điểm là năng động, sáng tạo, hăng hái, nhiệt tình, giàu tinh thần xung
phong…thanh niên đã đóng góp không nhỏ công sức và trí tuệ vào sự nghiệp
phát triển đất nước, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới đất nước trên tất
cả các lĩnh vực, trong đó có môi trường. Trung ương 5 khóa VIII đã khẳng định:
“Tuổi trẻ Việt Nam có lối sống văn minh cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn
trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải tạo
môi trường sinh thái”.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tác động của nền kinh tế thị trường
trường cho thanh niên huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa hiện nay
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên – xã hội
Hoằng Hoá là mảnh đất gắn bó hữu cơ với tỉnh Thanh Hoá, với Tổ quốc
Việt Nam trong suốt bốn nghìn năm lịch sử. Nằm ở hạ lưu sông Mã, Hoằng
Hoá mang truyền thống văn hoá lâu đời, phong phú, đẹp đẽ của dân tộc, đồng
thời biểu hiện rõ sắc thái văn hoá riêng của xứ Thanh. Lướt qua địa hình Hoằng
Hoá, vùng ven biển có các dải cồn cát lượn sóng kéo dài và song song xen kẽ là
những dãy đồng trũng hẹp và thấp. Còn vùng đồng bằng trũng bằng phẳng mà
hễ mưa, nếu không có đê là ngập nước, nhắc chúng ta nghĩ đến các lòng sông,
các đầm lầy cũ. Vùng đất cao không nhiều. Tất cả đã làm nên bộ mặt địa hình
Hoằng Hoá: Bằng phẳng, phì nhiêu. Bộ mặt địa hình ấy không chỉ do thiên
nhiên tạo ra, phần lớn cảnh quan của đồng bằng, độ màu mỡ của đồng bằng, sự
trầm uất, trù mật của xóm làng ở các địa bàn khá đông dân cư này đều mang
dấu vết của bàn tay, của trí não con người Hoằng Hóa ròng rã bao thế kỷ chống
chọi với thiên nhiên, tạo nên một quê hương giàu đẹp và rất đổi tự hào.
Huyện Hoằng Hoá là một huyện nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành
phố Thanh Hoá, là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, diện tích tự
nhiên là 22.453 ha, dân số hơn 25 vạn người. Huyện có 47 xã và 2 thị trấn, có
89 tổ chức cơ sở Đảng với gần 12 nghìn đảng viên. Là một huyện đông dân,
địa giới hành chính rộng, trình độ dân trí phát triển không đồng đều, đời sống
nhân dân còn có những khó khăn nhưng trong những năm qua nhân dân trong
huyện bằng sức lực và trí lực của mình đã không ngừng vươn lên xây dựng và
phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ. Năm 2010 tốc độ tăng trưởng đạt 15,7%
(tổng giá trị sản xuất đạt 2.656.300 triệu đồng = 100,13% kế hoạch năm); Cơ
cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất nông - lâm thuỷ sản, tổng giá trị sản xuất đạt 744.549 triệu đồng, tăng 0,38% kế hoạch,
tăng 7,9% so cùng kỳ. Công nghiệp - xây dựng, tổng giá trị sản xuất đạt
1.168.651 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch, tăng 21,3% cùng kỳ. Dịch vụ thương mại phát triển đa dạng, có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ; giá trị sản
xuất ước đạt 743.100 triệu đồng, tăng 0,08% kế hoạch và tăng 24,9% cùng kỳ.
của nền kinh tế thị trường nó đã làm biến đổi thói quen, cách sống của người
dân; những biểu hiện tiêu cực trong xã hội xuất hiện như lối sống chạy theo
đồng tiền, thực dụng, phai mờ lý tưởng, tệ nạn xã hội gia tăng, môi trường ô
nhiễm…Những đặc điểm này cũng tác động đến việc hình thành nhân cách
của thanh niên, đến nhận thức và hành động của thanh niên trong mọi phương
diện, trong đó có nhận thức của thanh niên về môi trường. Nhiều thanh niên
có cái nhìn không đúng về môi trường và có hành vi làm ảnh hưởng đến môi
trường như: Có nhiều thanh niên cho rằng tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài
sản vô tận nên khai thác một cách bừa bãi, có nhiều thanh niên vứt rác bừa bãi
gây ô nhiễm môi trường,…
2.1.2. Đặc điểm của chủ thể giáo dục
Chủ thể giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên có rất nhiều
như: các cấp ủy Đảng, chính quyền, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Phòng Tài
nguyên và Môi trường, Đoàn thanh niên, Nhà trường ….Chủ thể giáo dục có
đặc điểm là hầu hết đều có năng lực, phẩm chất chính trị tốt, trung thành với
mục tiêu lý tưởng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, có lối sống trong sạch, có
trình độ chuyên môn và sự hiểu biết sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, có lòng yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
và trong hành động cũng như việc làm của mình, dám phê bình và luôn tự phê
bình để không ngừng hoàn thiện, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện
lệch chuẩn trong đạo đức, lối sống.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì chủ thể giáo dục cũng có những
hạn chế nhất định như: năng lực tổ chức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ còn
thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước hiện nay, năng lực xử lý tình huống nhất là những tình huống xấu
xẩy ra tại địa phương còn kém. Công tác tự phê bình và phê bình chưa cao,
cách quản lý đôi khi còn mang nặng tính áp đặt, chưa tạo được bầu không khí
dân chủ trong quá trình làm việc, cũng như giải quyết các vấn đề…Bên cạnh
Thứ hai, họ là những người cần cù, năng động, sáng tạo, nhạy bén và thích
ứng nhanh với cơ chế mới. Phẩm chất cần cù là phẩm chất truyền thống của
con người Việt Nam, trong điều kiện mới - xu thế hội nhập và toàn cầu hóa
hiện nay thì ngoài đức tính cần cù đó thanh niên còn tiếp thu những đặc điểm
mới như năng động, sáng tạo, nhạy bén để phù hợp với điều kiện, cơ chế hiện
nay. Điều này sẽ góp phần tạo ra hiệu quả lao động cao vừa đảm bảo chất
lượng cuộc sống vừa góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của xã hội.
Thứ ba, họ là những người có hoài bão lớn - khát vọng làm giàu cho cá
nhân và sự hướng tới đời sống tiện nghi về vật chất, không cam chịu đói
nghèo lạc hậu; có ý chí tự lực, tự cường vươn lên dù ở trong bất cứ hoàn cảnh
nào. Trong điều kiện mới, thanh niên luôn luôn muốn khẳng định mình và có
chí vươn lên làm giàu. Nhiều thanh niên trong huyện hiện nay nhờ có trình độ
và sự năng động, sáng tạo, cần cù của mình nay đã trở thành những giám đốc
công ty, hay những ông chủ của các trang trại lớn…
Thứ tư, họ là những người hiếu học, có trình độ học vấn ngày càng cao.
Hiện nay, toàn huyện đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và đang chuẩn bị
tiến tới phổ cập trung học phổ thông. Nhiều thanh niên đã tốt nghiệp các trường
trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, một số có trình độ trên đại học.
Đây là đội ngũ thanh niên được đào tạo bài bản, có trình độ cao sẽ là lực lượng
quan trọng góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.