1
BÀI TIỂU LUẬN
-------------HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Chủ đề: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG, LÝ
LUẬN TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là cơ sở phương
pháp khoa học trực tiếp đối với công tác tư tưởng, lý luận trong quân
đội. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc này sẽ góp phần tích cực nâng cao
chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
I. NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin
* Cơ sở của nguyên tắc
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triết
học Mác - Lênin là một trong những nội dung tạo nên cuộc cách mạng trong
lịch sử triết học. Điều đó xuất phát trước hết từ mục đích của triết học Mác.
Trong tác phẩm luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã chỉ rõ: “Các nhà triết học
đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo
thế giới”1. Nó cũng xuất phát từ vai trò của thực tiễn đối với lý luận và vai trò
của lý luận đối với thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí minh thường căn dặn chúng ta:
học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn liền với thực tiễn. Người nhấn
mạnh rằng, lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không có
lý luận là thực tiễn mù quáng.
1
C.Mác và Ph.Ănghen, toàn tập, tập3, Nxb CTQG, H. 1995, tr12.
2
V. I. Lênin, toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ M. 1980, tr 167.
3
trở thành hiện thực trước hết nó phải phản ánh đúng đắn quy luật của sự phát
triển xã hội và lợi ích của đông đảo quần chúng. Lý luận ấy phải được thâm
nhập vào đông đảo quần chúng và biến thành mục đích, nội dung chương
trình, kế hoạch, phương pháp hành động của quần chúng. Tổ chức chỉ đạo
hành động thực tiễn của quần chúng. Tự bản thân lý luận không thể là hiện
thực, để biến lý luận thành hiện thực đòi hỏi vừa phải có thời gian, vừa phải
có những phương tiện và phương pháp thực tiễn. Trong đời sống xã hội
không phải ở đâu và mọi lúc con người cũng giải quyết được đầy đủ mọi vấn
đề do cuộc sống đặt ra. Trên thực tế, có những lý luận khoa học, đường lối
chính sách đúng đắn nhưng chậm được thực hiện, hoặc khi thực hiện chúng
thì đã bị biến dạng không còn đúng như nguyên mẫu ban đầu nữa.
Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn cũng chứa đựng tính phức tạp và mâu
thuẫn. Điều đó được quy định bởi cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái tích
cực và cái tiêu cực, cái tự giác và cái tự phát, cái đang nảy sinh và cái đang lụi
tàn. Thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đã chứng minh điều đó, rất
nhiều chủ trương quyết sách đúng đắn nhưng vẫn không đi vào được cuộc sống,
hoặc đi vào cuộc sống thì đã bị méo mó biến dạng vì lực cản của những cái cũ,
cái lạc hậu, cái bảo thủ còn quá mạnh. Ngay cả bản thân lý luận và thực tiễn
cũng chữa đựng những mâu thuẫn bên trong của chính mình. Trong lý luận đôi
khi có sự không ăn khớp giữa tri thức mới và tri thức cũ. Còn trong thực tiễn con
người hành động không chỉ bằng những tri thức khoa học, sự quyết tâm, tính
tích cực tự giác mà còn có cả những kinh nghiệm thường ngày và những phẩm
chất tiêu cực (tính bảo thủ, thói quen cũ, tính tự phát, mê tín, ích kỷ, chủ quan,
nhưng điều quan trọng hơn là phải so sánh, đối chiếu phân tích để chọn lọc
những thực tiễn mang tính khách quan, mang tính quy luật làm cơ sở cho quá
trình hình thành lý luận. Nếu lý luận nào đó phản ánh không đúng nhu cầu
của thực tiễn, không phù hợp với thực tiễn thì sớm hay muộn lý luận đó cũng
bị bác bỏ. Kinh nghiệm hoạt động của con người là cơ sở để hình thành lý
luận. Đó là tri thức trực tiếp góp phần tích cực vào quá trình tồn tại của loài người.
Lý luận phải khái quát được kinh nghiệm của loài người thì mới có tính khoa học
và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý
3
. V. I. Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1984, tr. 230
5
luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là
tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó. tính toàn
vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và
chuyển hóa. Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát
triển khác nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào
đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn. Do đó, chỉ những lý luận nào
phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý.
Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hình
thành lý luận. Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức mà
còn từ nhu cầu thực tiễn. Thực tiễn phong phú đa dạng luôn vận động và biến
đổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải đáp ứng thực tiễn.
Con người nhận thức hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề con
người quan tâm. Năng lực của con người ngày càng được nâng cao chính nhờ
khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận lý
luận. Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan con người không hề
dân. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi trong
khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 và thắng lợi của hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là từ khi
tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ đại hội đảng toàn quốc lần
thứ VI (1986) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu kinh nghiệm
thực tiễn Việt Nam và thế giới để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là thể hiện sinh động tính
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động cách mạng của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ngày càng sáng tỏ hơn, hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về
xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã
hình thành trên những nét cơ bản. Đảng ta chỉ rõ những đặc điểm cơ bản về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là : “Con đường đi lên của nước ta là
sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là
bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
7
tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt
được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát
triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.”4
Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và tổng kết 20 năm
đổi mới, tiếp thu kinh nghiệm của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên
thế giới, Đại hội lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Trong
quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới
không phải tù bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội
được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới
để phát triển lý luận; dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu
vực và trong nước, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, công tác lý luận tư
tưởng của Đảng có lúc, có mặt chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới: “Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi
mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt trong việc giải quyết
các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập tự chủ và chủ
động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế…”7. Từ những phân tích nói trên,
chúng ta thấy rõ vai trò to lớn của thực tiễn đối với quá trình hình thành và
phát triển lý luận. Chỉ khi có quan điểm thực tiễn đúng đắn mới có thể hình
thành nên thế giới quan, phương pháp luận, nhận thức luận đúng đắn. Quan
điểm thực tiễn là quan điểm cơ bản và quan trọng nhất trong triết học Mác Lênin.
Thứ hai, hoạt động thực tiễn chỉ đạt mục đích khi được lý luận soi đường.
Lý luận được hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn là
mục đích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo. Sự phát triển của thực tiễn trong
lịch sử luôn được lý luận khái quát. Chính vì lý luận phản ánh thực tiễn dưới
dạng quy luật mà lý luận có khả năng trở thành phương pháp luận cho thực
tiễn. C.Mác đã từng nói, người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong
xây tổ, nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây một công
trình, họ đã hình thành được hình tượng của công trình đó trong đầu họ. Tức
là, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức. Ban đầu hoạt động của
con người chưa có lý luận chỉ đạo, nhưng con người phải hoạt động để đáp
7
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.CTQG, H. 2006, tr. 69.
9
V. I. Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1977, tập 6, tr 30.
C. .Mác và Ph..Ănghen toàn tập, tập1, Nxb CTQG, H. 1995, tr 580.
10
hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn
định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử
dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực
tiễn. Không những thế, lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực
tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận xây dựng
mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự
báo các diễn biến, cá mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của
nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những
yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn.
Lý luận tuy là lôgíc của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu so với thực
tiễn. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của
thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc
có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận dụng lý luận vào thực
tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả hoặc có thể không, hoặc kết quả chưa rõ
ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy định . Tính
năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.
Công cuộc đổi mới toàn diện vì chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay đòi
hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng cao trình độ lý luận
của toàn Đảng. Nếu lý luận không được phát triển, bổ sung để soi đường dẫn
dắt cho sự nghiệp đổi mới thì khó tránh khỏi mò mẫm, sai lầm và tổn thất.
Tốc độ, nhịp điệu và hiệu quả của sự nghiệp đổi mới phụ thuộc rất nhiều vào
sự phát triển lý luận, vào đổi mới tư duy lý luận. Để phát huy vai trò của lý
luận trong thời kỳ đổi mới, lý luận phải thật sự làm cơ sở khoa học cho sự
Phải có quan điểm thực tiễn đúng đắn, tích cực hoạt động thực tiễn; rèn
luyện khả năng, trình độ nắm bắt các yêu cầu thực tiễn và nâng cao hiệu quả
hoạt động thực tiễn. Lý luận cần bám sát thực tiễn, vận dụng và cụ thể hoá
sáng tạo. Đồng thời, trên cơ sở thực tiễn phải thường xuyên sơ kết, tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn, khái quát và bổ sung phát triển lý luận; luôn có sự kết
hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng và công tác tổ chức.
Kiên quyết
khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm trong nhận
thức và thực tiễn. Chủ nghĩa kinh nghiệm là sự tuyệt đối hóa những kinh
nghiệm trước đây và áp dụng một cách máy móc vào hiện tại khi điều kiện đã
12
thay đổi. Bệnh kinh nghiệm xuất phát từ tri thức kinh nghiệm thông thường.
Tri thức kinh nghiệm thông thường là trình độ thấp của tri thức. Tri thức này chỉ
khái quát thức tiễn với những yếu tố và điều kiện đơn giản hạn chế. Tri thức kinh
nghiệm thông thường góp phần tạo nên những thành công không nhỏ trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong nền kinh tế truyền thống.
Những thành công đó củng cố giá trị của các kinh nghiệm. Trong điều kiện có
một số lĩnh vực biến đổi chậm chạp, việc tiếp tục vận dụng những kinh nghiệm
cũ vào hiện tại vẫn tạo nên những thành công đã tự phát hình thành chủ nghĩa
kinh nghiệm. Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ khoa học và công
nghệ thấp. Đó là thực trạng của một nền kinh tế truyền thống, nền kinh tế chỉ
dựa vào những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác bằng hình
thức dân gian. Điều đó dẫn đến phong cách tư duy, phong cách hoạt động của
người Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Truyền thống đó là một trong
những nguyên nhân sâu xa của bệnh kinh nghiệm. Cơ chế kế hoạch hóa, tập
trung quan liêu bao cấp được thực hiện một thời gian dài ở nước ta đã triệt tiêu
tính sáng tạo của người lao động và tạo nên tâm lý ỷ lại, dựa dẫm là một trong
Căn nguyên sâu xa của chủ nghĩa giáo điều trước hết là do hiểu lý luận
nông cạn, chưa nắm chắc thực chất lý luận, lý luận chưa được vận dụng, kiểm
nghiệm và khái quát từ thực tiễn, cho nên lý luận xa rời thực tiễn, là lý luận
suông và rơi vào giáo điều. Mặt khác, cũng do tính tập trung hóa cả trong lĩnh vực
lý luận đã làm mất đi tính sáng tạo của lý luận. Quá trình đó diễn ra trong một thời
gian dài trở thành đường mòn trong tư duy của cán bộ kể cả cán bộ khoa học.
Những gì trên chưa có ý kiến hoặc chưa được bổ sung bởi cơ quan có thẩm quyền
đều bị phủ quyết tạo cho cán bộ rơi vào bệnh giáo điều. Thứ nữa do vận dụng sai
lý luận vào thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn là một trong
những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, đồng
thời cũng là quá trình vận dụng cái chung vào cái riêng một cách linh hoạt. Bệnh
giáo điều chỉ biết trích dẫn, thậm chí chỉ vận dụng lý luận nhưng không quan tâm
đến thực tiễn, không bổ sung, điều chỉnh lý luận cho phù hợp với sự phát triển của
thực tiễn. Chính vì vậy, lý luận chưa phát huy vai trò tiên phong, chưa thực sự
định hướng cho sự phát triển, chưa thực sự trở thành phương pháp luận cho hoạt
động thực tiễn, đó cũng là căn bệnh của giáo điều.
14
Chủ nghĩa điều đặc biệt nguy hại. Do giáo điều mà lý luận không mang
lại hiệu quả cho hoạt động thực tiễn, dẫn đến mất lòng tin đối với vai trò của
lý luận nói chung, đối với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
Để khắc phục chủ nghĩa giáo điều, chúng ta phải quán triệt sâu sắc
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phải khái quát từ thực tiễn,
vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, kiểm tra trong thực tiễn và không ngừng phát
triển sáng tạo cùng thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận
Với ý nghĩa là giai đoạn cao của quá trình nhận thức trong lĩnh vực
quân sự, lý luận quân sự mang tính chất khái quát hoá, trừu tượng hoá cao,
vạch ra bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng, các quá trình quân sự.
Lý luận quân sự chỉ có ý nghĩa hiện thực khi thấm sâu vào thực tiễn quân sự.
Ngược lại, thực tiễn quân sự chỉ đạt được mục đích khi được lý luận quân sự
dẫn dắt. Cũng như các lĩnh vực khác, trong lĩnh vực quân sự, nếu tuyệt đối
hoá lý luận sẽ rơi vào lý luận suông, giáo điều hoặc chủ nghĩa kinh viện, làm
cho lý luận quân sự trở thành các luận điểm không có sức sống. Song, tuyệt
đối hoá thực tiễn sẽ rơi vào phiêu lưu, mù quáng.
Thực tiễn trong lĩnh vực quân sự là toàn bộ hoạt động vật chất diễn ra gắn
liền với thời gian, không gian, điều kiện hoàn cảnh quân sự cụ thể, bao gồm thực
tiễn chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật quân sự, thực tiễn công tác chính trị, tư tưởng. Trong đó,
thực tiễn chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu là những hình thức cơ bản nhất. Các
hoạt động đó với tư cách là hoạt động thực tiễn quân sự luôn luôn được lý luận,
tư tưởng quân sự dẫn dắt.
* Biểu hiện đặc thù của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong lĩnh vực quân sự
Một là, sự thống nhất giữa tính vận dụng sáng tạo, linh hoạt lý luận quân sự
với tính khẩn trương, mau lẹ trong khái quát kinh nghiệm thực tiễn quân sự.
Lĩnh vực quân sự là lĩnh vực xã hội đặc thù, ở đó luôn diễn ra sự đọ sức
quyết liệt về vật chất và tinh thần giữa các bên tham chiến. Điều này đã quy
định sự nỗ lực trong vận dụng lý luận quân sự vào thực tiễn quân sự, giảm
16
thiểu sự hy sinh xương máu và hao tổn về của cải. Hơn nữa, lĩnh vực này chứa
đựng đầy những yếu tố biến động khôn lường. Cho nên, lý luận quân sự được
vận dụng trong thực tiễn quân sự yêu cầu phải có tính sáng tạo.
khỏi mục tiêu chính trị. Vì vậy, giữa tính sáng tạo với tính nguyên tắc, tính kỷ luật
có sự thống nhất cao. Đây là một trong những biểu hiện đặc thù của nguyên tắc
thống nhất lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực quân sự.
Ba là, yêu cầu cao của sự thống nhất giữa kỹ năng, kỹ xảo với phương
pháp luận khoa học trong lý luận và thực tiễn quân sự.
Yêu cầu chớp thời cơ giành thắng lợi trong thực tiễn quân sự không cho
phép chậm trễ, thiếu chính xác về nhận thức và thao tác tư duy. Vì vậy, giải quyết
tốt mối quan hệ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực quân sự phải
đạt được trình độ kỹ xảo, kỹ năng không chỉ trong thực tiễn chiến đấu, trong tình
huống gay go, phức tạp, mà cả trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Cùng với
sự biến động của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội nói chung, cũng như lĩnh vực
quân sự nói riêng đang đặt ra yêu cầu cao về kỹ xảo, kỹ năng trong các hoạt động
của quân nhân. Song, các phẩm chất kỹ xảo, kỹ năng phải được đặt trong mối liên
hệ thống nhất với phương pháp luận khoa học. Qua đó, bảo đảm cho sự “thuần
thục”, “tự động hoá” trong nhận thức đi đúng hướng và phát triển. Đồng thời, việc
giải quyết mối quan hệ thống nhất giữa kỹ năng, kỹ xảo với phương pháp luận
khoa học sẽ vừa bảo đảm chớp được thời cơ, vừa bảo đảm độ chính xác, tin cậy
của lý luận quân sự trong quan hệ với thực tiễn quân sự.
Bốn là, yêu cầu cao về sự kết hợp giữa trí nhớ và khả năng trực giác trong
xử lý chính xác, mau lẹ các tình huống quân sự.
Lĩnh vực quân sự với tất cả các loại hình hoạt động của nó luôn có sự biến
động cao trong điều kiện, hoàn cảnh phức tạp; cho nên chủ thể quân sự phải có
tốc độ ghi nhớ và khả năng tái hiện tốt để có hiệu quả trong thu thập và xử lý
thông tin đáp ứng kịp thời các tình huống.
Cùng với trí nhớ, nhận thức trong lĩnh vực quân sự cũng cần quan tâm
đến khả năng trực giác. Qua trực giác sẽ tạo khả năng nhanh chóng phân tích
những tình huống phức tạp từ những tài liệu cảm tính, “bỏ qua” một số khâu
18
19
công tác đảng, công tác chính trị. Công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quyết
định trong việc xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tạo nên sức mạnh
chính trị, tinh thần của quân đội, đảm bảo cho quân đội luôn luôn là công cụ
bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà
nước và nhân dân, thật sự là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất và đội
quân công tác, góp phần làm cho các nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực
cách mạng sinh động. Thực tiễn đã khẳng định vai trò to lớn của công tác tư
tưởng, lý luận đối với sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta.
* Nhiệm vụ công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội hiện nay
Nhiệm vụ công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội hiên nay được thể
hiện trên một số vấn đề cơ bản.
Một là, nghiên cứu một cách có hệ thống, có chiều sâu lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với các quan điểm, tư tưởng
khoa học khác có ý nghĩa là phương pháp luận khoa học đối với cách mạng
Việt Nam, đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội hiện nay.
Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải giúp lãnh đạo, chỉ huy
các cấp xác định đúng hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản và cấp bách làm căn
cứ xây dựng, hoạch định các chủ trương, biện pháp liên quan đến xây dựng
các đơn vị, trước hết là nhiệm vụ xây dựng quân đội về chính trị.
Hai là, công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải tập trung quán triệt sâu
sắc các Nghị quyết của Đảng, của Ban chấp hành Trung ương, của Đảng bộ quân
đội và Đảng uỷ quân sự Trung ương; thực hiện có hiệu quả chỉ thị của Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng về công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội. Những nội dung đó
phải được quán triệt và tổ chức thực hiện tốt ở mọi cấp, mọi thành phần, lực lượng
và phải được cụ thể hoá sáng tạo trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
Ba là, công tác tư tưởng, lý luận phải tập trung bồi dưỡng phẩm chất,
quân đội hiện nay.
Nội dung công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải có cơ sở khoa
học, phải có chiều sâu về mặt lý luận; phải trên cơ sở nắm vững bản chất cách
mạng, khoa học và nắm vững các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
21
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, phải xuất phát từ quan điểm, đường
lối của Đảng và cụ thể hoá sáng tạo bằng các nội dung cụ thể. Nội dung công
tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải thường xuyên được cập nhật, bổ sung
những tri thức mới; có khả năng giải đáp được các vấn đề mới mà cuộc sống
đang đặt ra; không ngừng đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng lý luận, đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình.
Thứ hai, thường xuyên nâng tầm trí tuệ của các cấp ủy đảng và đội ngũ
cán bộ, đảng viên, trước hết và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ chuyên
trách trên mặt trận tư tưởng - văn hoá trong quân đội.
Tư duy khoa học có vai trò to lớn trong tiến hành công tác tư tưởng lý luận. C. Mác đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển lý luận trong đấu
tranh tư tưởng. Do vậy, hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, mà trực tiếp là đội
ngũ cán bộ chuyên trách cần nắm và vận dụng linh hoạt phương pháp tư
duy khoa học, khắc phục phương pháp siêu hình trong công tác tư tưởng,
lý luận.
Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tư tưởng – lý luận phải thường
xuyên được bồi dưỡng, nâng tầm trí tuệ, phải có khả năng tốt đảm nhận
công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận cho cán bộ, chiến sĩ. Đây là lực
lượng nòng cốt trong nghiên cứu lý luận, góp phần tích cực vào việc bảo vệ
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của
Đảng, củng cố, tăng cường vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong
quân đội. Để làm tròn trách nhiệm ngưngười chiến sĩ tiên phong trên mặt
trận tư tưởng, lý luận của Đảng, của quân đội, mỗi cán bộ làm công tác tư
tưởng, lý luận cần phải nỗ lực, phấn đấu học tập, rèn luyện, nâng cao trình
tinh thần của mỗi quân nhân. Tuỳ mỗi đối tượng, cần phải nắm chắc những đặc
điểm chung, riêng, phải quan tâm tới những vấn đề bức xúc trước sự tác động
phức tạp của thực tiễn - xã hội hiện nay.
Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải thường xuyên bám sát
nhiệm vụ chung của quân đội và nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị. Công tác t-
23
ư tưởng, lý luận phải luôn quán triệt sâu các quan điểm, tư tưởng, đường lối của
Đảng và Đảng uỷ Quân sự Trung ương; quán triệt, nắm vững nguyên tắc xây
dựng quân đội về chính trị, chỉ thị hướng dẫn công tác đảng, công tác chính trị
của cấp trên phù hợp với các đối tượng và nhiệm vụ cụ thể. Công tác tư tưởng,
lý luận cần bám sát diễn biến của đời sống xã hội và quân đội; bám sát nhiệm vụ,
tình hình tư tưởng của bộ đội; bám sát cơ sở và nhạy bén xử lý những nảy sinh
về tư tưởng ở cơ sở, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng, lý luận ở cơ sở.
Công tác tư tưởng, lý luận phải biết kết hợp giữa xây và chống, lấy xây làm
chính. Công tác tư tưởng, lý luận phải bám sát yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân
đội trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong bối cảnh tình
hình thế giới có những diễn biến phức tạp.
Các hoạt động của công tác tư tưởng, lý luận cần tập trung phục vụ nhiệm
vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh
chiến đấu của quân đội; cần tập trung cho việc chuẩn bị về tiềm lực chính trị,
tinh thần, phẩm chất đạo đức, ý chí quyết đánh và quyết thắng, sự mưu trí, sáng
tạo, dũng cảm, ngoan cường trong chiến đấu; tập trung trong việc xây dựng niềm
tin vào cách đánh, tin vào trang bị, kỹ thuật và sự thắng lợi trong cuộc chiến đấu
chống chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao.
Công tác tư tưởng, lý luận góp phần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ xác
định rõ kẻ thù, đối tượng tác chiến; đấu tranh giữ vững trận địa tư tưởng, lý
luận của Đảng trong quân đội; đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản
chính trị, quân sự của Đảng, thực tiễn hoạt động của quân đội, cung cấp nhiều
luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng, bổ sung phát triển đường lối
quân sự, quốc phòng của Đảng, góp phần quan trọng xây dựng lực lượng vũ
trang, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Qua đó đội ngũ làm công
tác nghiên cứu lý luận có bước trởng thành và phát triển cả về số lượng, chất
lượng.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr.
141.
13
25
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức;
khắc phục sự tách rời hai nhiệm vụ này, khắc phục tình trạng công tác lý luận
chưa theo kịp yêu cầu của cách mạng; công tác tư tưởng chưa gắn với công tác tổ
chức.
Có thể nói công tác tư tưởng đã tập trung cho mặt lý luận, tinh thần. Công
tác tổ chức – vấn đề cơ bản của nó là hiện thực hoá tinh thần, lý luận khoa học
trong các tổ chức và thực tiễn cách mạng. Như vậy, giải quyết tốt mối quan hệ lý
luận và thực tiễn của công tác tư tưởng, công tác lý luận phải biết kết hợp công
tác tư tưởng và công tác tổ chức. Việc xây dựng lý tưởng, bản lĩnh, tinh thần và
trí tuệ cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải trên cơ sở, phải biết kết hợp tốt
với việc xây dựng hệ thống tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên.
Tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận là một trong các yêu
cầu cơ bản của sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong công tác tư tưởng, lý luận hiện nay. Tích cực, chủ động tiến công trên
mặt trận tư tưởng, lý luận làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch. Đồng
thời, đấu tranh khắc phục có hiệu quả các căn bệnh nảy sinh từ mặt trái kinh tế
thi trường như: chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối