khóa luận tốt nghiệp Tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa hồ chí minh và sự vận dụng vào xây dựng nền văn hóa mới việt nam hiện nay - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỉ XX kết thúc, để lại đằng sau nó biết bao biến cố lịch sử hùng
tráng và bi thương. Cũng chính thế kỉ XX đầy bão táp cách mạng đã sản sinh
ra “những người khổng lồ”, có thể làm thay đổi bộ mặt và diện mạo của toàn
thế giới. Tạp chí Thời đại (Mĩ) qua quá trình chọn lọc nghiêm ngặt đã công bố
danh sách 20 vĩ nhân có ảnh hưởng nhất thế kỉ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh
được xếp ở vị trí thứ 4 trong danh sách trên. Trước đó, năm 1990, tổ chức
UNESCO đã suy tôn Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh
nhân văn hóa kiệt xuất.
Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và nhân dân ta một di sản tư tưởng vô
cùng sâu sắc, vĩ đại và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Đó “một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại…Tư tưởng
Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi,
là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”1.
Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động của cách mạng Việt Nam và cũng
là biểu tượng của văn hóa Việt Nam. Văn hóa Hồ Chí Minh là sự chắt lọc
truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc, tích hợp giá trị của mọi nền văn hóa
Đông- Tây, kim cổ. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định: “Xây dựng
kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền
tảng tinh thần xã hội”. Do vậy việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn
hóa có vai trò rất quan trọng. Và đây cũng chính là việc quay trở lại với tư
1

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000,
tr.83-84

1




- GS. Song Thành: “Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất”, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2010. Tác giả khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà văn
hóa kiệt xuất và đưa ra những tư tưởng lớn của Người về văn hóa. Trong đó,
tác giả nghiên cứu khá kĩ về 3 tính chất của văn hóa trong Tư tưởng Hồ Chí
Minh và đi tới khẳng định các tính chất ấy đang ngày càng thấm sâu vào hoạt
động văn hóa nước nhà.
- TS. Bùi Đình Phong: “Đỉnh cao tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa”,
Nxb Lao động, Hà Nội, 2001. Cuốn sách gồm nhiều bài viết của tác giả về tư
tưởng văn hóa Hồ Chí Minh bao gồm cả những nghiên cứu sâu sắc về tính
chất của nền văn hóa mới Việt Nam.
- TS. Bùi Đình Phong (chủ biên): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
nền văn hóa mới Việt Nam”, Nxb Lao động, H. 2001. Các tác giả đã nghiên
cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn
hóa mới Việt Nam trong đó có tính chất của nền văn hóa.
- GS. Đinh Xuân Lâm – PTS. Bùi Đình Phong: “Hồ Chí Minh văn hóa
và đổi mới”, Nxb Lao động, H.1998. Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề:
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng,
sự hình thành một nền văn hóa mới Việt Nam đồng thời, khẳng định Hồ Chí
Minh luôn nhấn mạnh về tính nhân dân của văn hóa.
- GS. Đỗ Huy: “Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc
gia, H.1997. Tác giả đã đặt vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, trình bày các vấn đề: Phương pháp nghiên cứu tư tưởng văn
hóa Hồ Chí Minh, chiến lược xây dựng nền văn hóa mới, tư tưởng về bản chất
của văn hóa và văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa
nghệ thuật Hồ Chí Minh và những cái nhìn mới về tính nhân dân trong tư
tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.
- GS. Đỗ Huy: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn



4


- Trình bày những nội dung cơ bản của tính nhân dân trong tư tưởng
văn hóa Hồ Chí Minh
- Đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng nền
văn hóa mới Việt Nam mang đậm tính nhân dân.
4. Đối tượng và phạm nghiên cứu của khóa luận
- Đối tượng nghiên cứu: Tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí
Minh và một số biện pháp nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới mang
đậm tính nhân dân.
- Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa
của Hồ Chí Minh thông qua trước tác, cuộc đời và sự nghiệp của Người từ đó
đưa ra một số biện pháp nhằm xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam mang
đậm tính nhân dân
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
5.1. Cơ sở lí luận
Khóa luận chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận là chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn
hóa. Đồng thời có tham khảo một số công trình nghiên cứu, sách báo, tạp
chí…liên quan đến nội dung được đề cập đến trong khóa luận.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu:
Phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp lôgíc và lịch sử, so
sánh và khảo sát thực tiễn…
6. Đóng góp của khóa luận
- Thông qua nghiên cứu đề tài này, khóa luận góp phần làm rõ cơ sở
hình thành, nội dung của tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh,

kiến đã sớm nhận thức được vị trí vai trò quan trọng của dân: dân là gốc của
nước, được dân thì được nước, từ đó có những chính sách sao cho qui tụ được
lòng dân.
Xưa, Nguyễn Trãi đã cho rằng: “Mến người nhân là dân mà chở
thuyền, làm lật thuyền cũng là dân”, “Làm lật thuyền mới biết dân mạnh như
nước”. La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp trong “Tờ biểu trả lời vua Quang Trung
và bàn về dân tình xứ Nghệ” có câu: “Dân là gốc nước, gốc vững cây mới
yêu”. Lê Quí Đôn viết trong “Quần thư khảo biện”: “Gốc của nước vốn ở
dân”. “Hải ngoại huyết thư” của Phan Bội Châu cũng có câu nguyên văn chữ
Hán: “Khởi tri dân duy bang bản, vương giả dĩ dân vi thiên. Khí kỳ bản, thất
kì sở thiên, bỉ thân năng phục tồn hồ ?” (có nghĩa: Sao không biết dân chính

7


là gốc nước, người làm vua lấy dân làm trời. Vứt bỏ gốc, mất cả trời, thân
mình liệu có còn được không?).
Chính sức mạnh dân chủ ấy, sức mạnh “chở thuyền và lật thuyền” ấy là
sức mạnh quyết định làm nên lịch sử dân tộc Việt Nam, làm nên cốt cách và
bản sắc của văn hóa Việt Nam.
- Văn hóa dân gian- sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân
lao động
Trong văn hóa dân tộc Việt Nam, bên cạnh văn hóa chính thống có cả
một nền văn hóa dân gian vô cùng phong phú và đa dạng. Đó là những phong
tục tập quán tốt đẹp về quan hệ giữa người với người. Đó là những điệu múa
dân gian, những tranh gà lợn, những lễ hội quần chúng… phản ánh tâm hồn
trong sáng, ý chí kiên cường, ước mơ gần gũi của nhân dân lao động. Đặc biệt
là văn hóa dân gian từ thần thoại, truyền thuyết đến tục ngữ, ca dao, dân ca,
chèo, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn…ghi công đức những anh
hùng dân tộc, ca ngợi lao động và tình yêu quê hương Tổ quốc, chống lại áp

vào lời ăn tiếng nói của mình như cao dao, tục ngữ, tập Kiều, lẩy Kiều…
1.1.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại
- Tinh hoa văn hóa phương Đông
Thứ nhất, Nho giáo. Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng,
từ nhỏ Người đã được hấp thụ những kiến thức Nho học từ người cha của
mình- cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và từ những người thầy đầu tiên như
thầy Vương Thúc Quí, thầy Trần Thân đều là những thầy đồ có kiến thức sâu
sắc về Nho học và có lòng yêu nước, thương dân nồng nàn.
Mặt tích cực của Nho giáo đó là coi trọng vị trí, vai trò, sức mạnh của
nhân dân: “hễ được dân chúng tự nhiên sẽ được thiên hạ… hễ được lòng dân
tự nhiên sẽ được dân chúng”, “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
nghĩa là trong nước nhân dân là quan trọng nhất, thứ đến mới là quốc gia, vua
là thứ bậc xem nhẹ nhất. Bởi dân vốn là gốc nước, có dân mới có nước, có

9


nước mới có vua, ý dân là ý trời. Từ đó, Nho giáo chỉ ra một phương pháp
nên theo của các bậc thiên tử: “Dân muốn việc chi, nhà cầm quyền nên cung
cấp cho họ. Dân ghét việc chi nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ”.
Một điểm tích cực nữa của Nho giáo là đã đề cao văn hóa đạo đức, đề
cao giáo dục. Nho giáo hết sức quan tâm đến việc giáo hóa dân chúng: “dân
khờ khạo mà phạm luật nước, đó không phải là tội của họ mà chính là tội của
nhà cầm quyền chẳng biết giữ gìn, giáo hóa họ”. Nho giáo đến thời Mạnh Tử,
ông chủ trương xây dựng mạng lưới trường học từ làng xã đến kinh đô, từ
trường hương học đến trường quốc học. Đây là đường lối đức trị lấy nhân
nghĩa làm gốc, coi trọng vai trò của dân, muốn cho nhân dân được hưởng thụ
văn hóa hết sức tiến bộ của Nho giáo.
Tuy nhiên, sự hiện thực hóa tư tưởng trên của Nho giáo trên thực tế còn
nhiều hạn chế. Tuyệt đại bộ phận nhân dân lao động không được hưởng thụ

thường siêng năng lên chùa và chăm làm việc thiện. Thân sinh của Người, cụ
Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị mất chức, bỏ đi dần vào các tỉnh phía Nam, đến
sống ở Cao Lãnh (Sa Đéc). Tại đây cụ thường cư ngụ ở các cửa chùa, vừa bốc
thuốc vừa chữa bệnh cho dân, vừa chăm chú nghiên cứu giáo lí đạo Phật.
Những tư liệu này cho thấy triết lí Phật giáo vốn không phải là điều xa lạ gì
với Hồ Chí Minh ngay từ thuở thiếu thời. Khi hoạt động bí mật trong Việt
kiều tại Thái Lan, Hồ Chí Minh đã từng khoác áo cà sa cùng với các vị chân
tu bàn bạc về giáo lí đạo Phật…
Hồ Chí Minh đã tiếp thu những điểm tích cực của Phật giáo như tư
tưởng bình đẳng, dân chủ, chống lại mọi tư tưởng phân biệt đẳng cấp, sống
gần gũi giản dị với nhân dân. Tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng không nhỏ tới
tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh bởi với những điểm tích
cực trên, nhân dân không phân biệt đẳng cấp đều được hưởng thụ những giá
trị văn hóa.
Thứ ba, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Tôn Trung Sơn - Tôn
Dật Tiên (1866 - 1925) - nhà dân chủ cách mạng và chính khách kiệt xuất của
Trung Quốc. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu

11


điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta”. Nội dung chính của
chủ nghĩa Tam dân là: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.
Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn với Hồ Chí Minh là gặp ở
quan điểm về chủ nghĩa dân tộc. Trong chủ nghĩa tam dân, Tôn Trung Sơn
quan tâm sâu sắc đến quyền lợi dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh cũng
đã nhận định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. Bên cạnh
việc đề cao chủ nghĩa dân tộc thì Tôn Trung Sơn rất chú ý đến chủ nghĩa dân
quyền, chủ nghĩa dân sinh. Theo ông, dân quyền là sức mạnh chính trị của nhân
dân, nhân dân quản lí chính trị. Còn chủ nghĩa dân sinh góp phần giải quyết

họ không thể đánh giá hết được mối quan hệ sâu rộng giữa nghệ thuật dân
gian và các sáng tạo chuyên nghiệp. Và điều thứ ba làm cho các nhà hoạt
động văn hóa tiền Mác xít không thể hiểu hết tính nhân dân của văn hóa nghệ
thuật khi mà trong tầm mắt của họ, quần chúng chỉ là những tầng lớp người ít
học, sống hỗn độn, thiếu tổ chức.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học và xác định
đúng đắn mối quan hệ giữa vai trò của cá nhân và quần chúng nhân dân trong
sự phát triển của xã hội. Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra
lịch sử, là chủ thể của lịch sử. Vai trò của quần chúng nhân dân được thể hiện
ở những mặt cơ bản sau:
- Quần chúng nhân dân là người sản xuất ra của cải vật chất – nhân tố
quyết định của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
- Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng
xã hội.
- Quần chúng nhân dân còn là lực lượng cơ bản sản xuất ra những của
cải tinh thần cho xã hội.
Bên cạnh đời sống vật chất, con người, xã hội còn có đời sống tinh thần
như tình cảm, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật…Cùng với sự
phát triển của đời sống vật chất, đời sống tinh thần của xã hội ngày càng nâng

13


cao. Quần chúng nhân dân chính là nguồn sáng tạo ra của cải tinh thần đồng
thời họ là chủ thể hưởng thụ những giá trị tinh thần đó.
Trước hết, hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân cùng với
những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ là nguồn đề tài vô tận cho những
người lao động trí óc chuyên nghiệp sáng tạo ra những của cải tinh thần.
Quần chúng nhân dân còn là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ nền văn hóa
dân gian trong lịch sử. Họ là chủ thể của những câu chuyện thần thoại, chuyện

đã viết bài báo nổi tiếng: “Tổ chức Đảng và văn học có tính Đảng”. Bài báo
khẳng định nền văn nghệ mới của giai cấp vô sản sẽ không phục vụ cho một
số cô nàng sống phè phỡn và đã chán chường. Nó cũng không phục vụ “một
vạn kẻ có đặc quyền đặc lợi đang chán ngấy và mang nặng cái bụng phệ của
chúng, mà nó sẽ phục vụ hàng triệu và hàng chục triệu nhân dân lao động” 1.
Nền văn hóa nghệ thuật của giai cấp vô sản phải mang tính nhân dân sâu sắc.
Sau khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, Lênin bắt tay ngay vào tổ
chức một nền văn hóa nghệ thuật mà trong đó vai trò của quần chúng nhân
dân sẽ trở thành chủ đạo. Đó là một nền nghệ thuật “thuộc về nhân dân”, “bắt
rễ sâu xa trong lòng quần chúng đông đảo”2. Hồ Chí Minh đã tiếp thu trọn vẹn
những nội dung tích cực trên của chủ nghĩa Mác- Lênin về tính nhân dân của
văn hóa để từ đó, Người có những bước đi, cách làm phù hợp với tình hình
thực tiễn của Việt Nam: trình độ dân trí thấp, nhân dân chịu nhiều tầng áp
bức, không được hưởng thụ các giá trị văn hóa của xã hội.
1.1.3.Vai trò chủ quan Hồ Chí Minh
Những nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng trong việc
hình thành tính nhân dân của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.
Trước hết là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán
tinh tường. Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm lí
luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa
1

2

Lênin, Bàn về văn hóa văn học. Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, tr.79
Lênin, Bàn về văn hóa văn học. Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, tr.464

15




tư tưởng về văn hóa. Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm đến
xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam mang ba tính chất: dân tộc, khoa học,
đại chúng.
Thứ ba đó là tâm hồn của một nhà yêu nước thương dân, một chiến sĩ
cộng sản nhiệt thành cách mạng của Hồ Chí Minh. Như chúng ta đã biết Hồ
Chí Minh đến với chủ nghĩa cộng sản từ chủ nghĩa yêu nước, từ lòng “ham
muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ta cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là con người, là nhân dân lao động. Hồ Chí
Minh có tấm lòng đối với nhân dân hết sức chân thành. Sinh ra và lớn lên tại
một cùng quê nghèo, thiên nhiên không ưu đãi, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã
chứng kiến cảnh lam lũ, khổ nhọc của những người nông dân chân lấm tay
bùn lại thêm cảnh nô lệ, mất tự do. Khi ra kinh thành Huế, Người lại càng
thấm thía hơn nỗi khổ nhục của nhân dân lao động, họ vừa đói khổ, vừa phải
chịu cảnh nước mất, nhà tan, không có một chút quyền hành, không được
hưởng những giá trị văn hóa. Với tấm lòng yêu nước thương dân, Hồ Chí
Minh đã ra đi tìm đường cứu nước, và người đã đến được với ánh sáng của
cách mạng Tháng Mười Nga, ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin. Sau khi
giành được chính quyền về tay nhân dân, Hồ Chí Minh và chính phủ lâm thời
đã hết sức quan tâm đến việc bồi dưỡng văn hóa cho nhân dân và chủ trương
xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam hướng vào phục vụ quần chúng nhân
dân. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân lao động được làm chủ trên
mọi mặt của đời sống kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội.
1.2. Nội dung tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
Theo GS.TS Nguyễn Phú Trọng, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là
“một hệ thống các quan điểm lí luận mang tính khoa học và cách mạng về văn
hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam. Nó chắt lọc, tổng hợp và kết tinh

17


Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Hà Nội.2003, 76
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.431

18


ba nguyên tắc của nền văn hóa mới, ba nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và
đáp ứng rất kịp thời cho các nhu cầu bức thiết của thực tiễn. Đó là:
- “Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho
văn hóa Việt Nam phát triển độc lập)
- Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa
phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng)
- Khoa học hóa (chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa trái khoa
học, phản tiến bộ)”1.
Theo Phong Lê, Đề cương văn hóa 1943 đã có tác dụng “lật sâu, đào
sâu xuống các nền tảng của đại chúng, nhằm đưa văn hóa vào quần chúng, và
đưa quần chúng vươn dần lên và hướng tới các mục tiêu từ thấp đến cao của
sự tiếp nhận và sáng tạo văn hóa”. Thứ tự ba nguyên tắc này về sau có thay
đổi là dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa. Từ ba nguyên tắc này đã xác
định ba tính chất của nền văn hóa mới Việt Nam trong giai đoạn cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân là dân tộc, khoa học, đại chúng: “Cuộc vận động
văn hóa mới Việt Nam lúc này phải theo ba nguyên tắc, ba khẩu hiệu:
- Dân tộc hóa
- Khoa học hóa
- Đại chúng hóa…
Cho nên văn hóa mới Việt Nam phải có ba tính chất: dân tộc, khoa học,
đại chúng”2.
Cách mạng tháng Tám thành công, chỉ năm ngày sau khi đọc bản tuyên
ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ với Ủy ban văn hóa lâm thời

dân tộc. Đó là một nền văn hóa có tính Đảng và tính nhân dân”4.
Như vậy, tính nhân dân (hay còn gọi là tính đại chúng) trong tư tưởng
văn hóa Hồ Chí Minh là một trong ba tính chất quan trọng mà Người thường
xuyên nhắc tới và chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng nền văn hóa mới Việt
Nam. Tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện ở
những nội dung sau:
- Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa.
1

Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử. Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1993.t.3, tr.13
Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1993, t.3, tr.16
3
Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.21, tr.930
4
Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.37, tr.519
2

20


- Nhân dân là đối tượng phản ánh của văn hóa.
-Văn hóa phụng sự nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân là cơ sở.
1.2.1. Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa
Nói quần chúng là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa tức là nói đến
vị trị, vai trò của nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Trước khi
phân tích vị trí, vai trò của nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh,
chúng ta đi nghiên vai trò của quần chúng nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung.
Dân là một khái niệm đã có từ lâu trong lịch sử và được dung một cách
phổ biến, chúng ta thường gặp trong các di sản văn hóa, trong giao tiếp hằng

thức sâu sắc về sức mạnh của dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân
dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”1.
Về vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ
Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo và
hưởng thụ những của cải tinh thần của xã hội. Có thể do đặc điểm của Việt
Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ dân trí thấp lại bị thực dân đế
quốc xâm lược, thực hiện chính sách ngu dân, người dân không có điều kiện
học tập và hưởng thụ những của cải tinh thần của xã hội, cho nên khi nói về
vai trò của quần chúng nhân dân đối với lĩnh vực tinh thần, Hồ Chí Minh
thường tập trung vào những vấn đề: chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ, nâng
cao trình độ dân trí, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động. Vì theo
Người, người lao động là chủ thể của đất nước- dân là chủ và dân làm chủ.
Khi nói về vai trò sáng tạo của cải tinh thần của quần chúng, Hồ Chí
Minh đã đặt ra vấn đề: “Quần chúng có biết sáng tạo không? Có sáng tác
được không?” và Người khẳng định: “Quần chúng là những người sáng tạo,
công nông là những người sáng tạo. Nhưng quần chúng không phải chỉ sáng
tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác
nữa. Chắc các cô, các chú cũng biết những câu tục ngữ của ta do ai làm ra?
Đó là do quần chúng làm ra. Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay
1

Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2002, t.8, tr.276

22


là những sáng tác của quần chúng.”
Hồ Chí Minh còn hết lòng ngợi ca những sáng tác của quần chúng:
“Các sáng tác ấy hay mà lại ngắn chứ không trường thiên đại hải, dây cà ra
dây muống…những sáng tác ấy là những hòn ngọc quí”. So sánh những tác

Minh đã phát huy truyền thống nhân dân trong nền văn học nghệ thuật tiến bộ
của dân tộc, kết hợp với những khát vọng cao đẹp của chủ nghĩa Mác- Lênin
về vị trí trách nhiệm của văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa đối với nhân
dân. Đó là nền văn hóa nghệ thuật thuộc về nhân dân. Người đánh giá cao
cống hiến của giới văn nghệ sĩ trong kháng chiến chống Pháp “đã có những
đóng góp đáng kể phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân…làm thế thì văn nghệ
sĩ nhất định sẽ tiến bộ hơn nữa”. 2 Văn hóa nghệ thuật lấy nhân dân là đối
tượng phản ánh, đồng thời phải hiểu rất rõ mặt mạnh và mặt yếu của trong
nhân dân. Hồ Chí Minh luôn kêu gọi văn hóa nghệ thuật phải chứa đựng khát
vọng giải phóng nhân dân, nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết và khả năng
sáng tạo trong nhân dân.
Văn hóa nghệ thuật không phải chỉ phục vụ nhân dân mà chính nhân
dân là nguồn lực nuôi dưỡng sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Hồ Chí Minh
nhấn mạnh sự tác động biện chứng này: “Chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng
cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Nếu nhà văn quên
điều đó, nhân dân cũng quên anh ta”3.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa nghệ thuật là một hoạt động
thực tiễn mang tính nhân dân sâu sắc. Sự phát triển của văn hóa nghệ thuật
gắn liền với sự phát triển của xã hội, của thực tiễn cách mạng, của nhân dân.
Điều này được thể hiện rõ ở các luận điểm của Người: “xã hội thế nào, văn
nghệ thế ấy”, “từ cái phổ biến ấy, cái nền mà nâng cao lên làm cho văn nghệ
ta ngày càng phong phú về tư tưởng và nghệ thuật”. Văn hóa văn nghệ phải
1

Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, 1981, tr.441
Hồ Chí Minh: Tuyển tập văn học, Nxb Văn hóa, t.2, tr.334
3
Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.516
2



Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr,368

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status