Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường khu vực cảng biển hải phòng đến năm 2020 - Pdf 40

MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường do các hoạt động hàng hải, công nghiệp và dân
sinh đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường
sống, làm suy thoái đa dạng sinh học và gây ra những tác động xấu đến sức
khỏe con người ở nhiều nơi trên thế giới. Hàng năm, chính quyền các thành
phố lớn hay chính phủ nhiều nước đã phải bỏ ra khoản chi phí khổng lồ để
khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ở Việt Nam, ô nhiễm môi
trường đang trở thành mối quan tâm hàng đầu khi chất lượng môi trường
không khí tại các khu đô thị đang xuống cấp từng ngày, môi trường nước tại
các hệ thống sông ngòi, vùng biển ven bờ cũng đang dần dần bị ô nhiễm, chất
lượng môi trường sống tại nhiều vùng nông thôn cũng đã bị tác động nghiêm
trọng. Sự thay đổi này đã và đang tác động sâu sắc đến sức khỏe con người
như gia tăng nhanh các loại bệnh như ung thư, mắt, đường tiêu hóa, ...
Hoạt động hàng hải bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có các lĩnh vực
chính là cảng biển và luồng cảng biển, vận tải biển và đội tàu vận tải biển,
công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển. Hoạt động hàng hải đóng góp
đáng kể chất ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí, nước biển.
Hoạt động hàng hải cũng đã được ghi nhận là nguồn gây ô nhiễm môi trường
lớn cần thực hiện các giải pháp giảm thiểu. Sự cố môi trường trong hoạt động
hàng hải như: sự cố tràn dầu, tràn các chất độc hại trong quá trình vận chuyển
trên biển cũng đang là nguy cơ gây suy thoái môi trường nghiêm trọng.
Ngành Hàng hải là một trong các ngành đang đóng một vai trò to lớn trong
quá trình phát triển kinh tế ở nước ta, đóng góp quan trọng cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng của đất nước. Trải qua 47 năm
hình thành và phát triển, ngành hàng hải đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước. Tuy nhiên, ô nhiễm và suy thoái môi trường là hậu quả


không mong muốn khi các mục tiêu phát triển nhanh về kinh tế xã hội không
song hành các mục tiêu phát triển bền vững. Sự tăng trưởng các loại tàu biển

dựng và mở rộng ngày càng hiện đại. Vấn đề bảo vệ môi trường đối với hoạt
động hàng hải phải được xem xét, giải quyết để đảm bảo phát triển bền vững
và hội nhập với khu vực và thế giới. Từ những vấn đề đặt ra nói trên, việc lựa
chọn, triển khai nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động hàng
hải đến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường khu vực cảng
biển Hải Phòng đến năm 2020" là cần thiết. Luận văn tập trung giải quyết
các vấn đề quản lý môi trường, nghiên cứu các ảnh hưởng của hoạt động hàng
hải đến môi trường từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu
vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020. Các nội dung chính, trọng tâm vấn
đề sẽ trình bày trong luận văn bao gồm:
- Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu và bàn luận, cụ thể gồm:
+ Hiện trạng về hoạt động hàng hải khu vực cảng biển Hải Phòng
+ Tổng quan về quy hoạch cảng biển, vận tải biển và công nghiệp tàu
thủy khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Thực trạng công tác quản lý môi trường đối với hoạt động hàng hải
tại khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến môi trường khu vực cảng biển
Hải Phòng
+ Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường khu vực cảng biển Hải
Phòng đến năm 2020.

3


Chƣơng 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiện trạng về hoạt động
hàng hải, quy hoạch cảng biển, vận tải biển và công nghiệp tàu thủy, thực

luôn là cửa ngõ thông thương quan trọng nhất trong quan hệ trao đổi hàng hoá
thương mại của các tỉnh phía Bắc Việt Nam với các nước trong khu vực và
trên thế giới. Theo số liệu thống kê của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng năm
2008 lượng hàng khô tổng hợp thông qua cảng khu vực Hải Phòng đạt 16,8
triệu tấn (riêng cảng Hải Phòng đạt 11,2 triệu tấn), chiếm khoảng 85% tổng
lượng hàng hoá tổng hợp thông qua các cảng biển phía Bắc. Sự hình thành,
phát triển hàng loạt các khu kinh tế, công nghiệp tập trung và các nhà máy với
quy mô lớn dẫn đến hàng hoá xuất, nhập khẩu qua cảng tăng nhanh, đây thực
sự là một cơ hội lớn đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với việc nâng
cấp, phát triển cảng biển khu vực Hải Phòng nói riêng và cụm cảng phía Bắc
nói chung trong thời gian tới.

5


1.2.2. Điều kiện tự nhiên của thành phố Hải Phòng [2][8]
1.2.2.1.Vị trí địa lý - địa hình
Vị trí địa lý: Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm về phía Đông miền
duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, tổng diện tích đất là
1.507,6km2. Hải Phòng là một khu vực kinh tế rất năng động và có lợi thế
phát triển kinh tế trong nhiều lĩnh vực như khai thác cảng, công nghiệp đóng tàu,
vật liệu xây dựng (xi măng, thép), chế tạo máy, nuôi trồng và chế biến thuỷ
sản,…Thành phố Hải Phòng có vị trí địa lý: từ 20030’39 - 21001’15 vĩ độ Bắc; từ
106023’39 - 107008’39 kinh độ Đông.
Ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh. Phía Tây giáp
tỉnh Hải Dương. Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình. Phía Đông giáp biển Đông.
Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh ở trong nước và quốc tế
thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không.
Địa hình, địa mạo: Hải Phòng có một quá trình phát triển địa chất lâu dài,
hiện nay quá trình ấy vẫn đang xảy ra mạnh mẽ, thể hiện qua những mối tương

biển.
Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển xung quanh các
đảo khơi. Bờ biển có hướng 1 đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và
khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra. Trên
đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như 1 bán đảo, đây là điểm mút
của dải đồi núi chạy từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa thạch) tuổi
Đevon, đỉnh cao nhất đạt 125 m, độ dài nhô ra biển 5 km theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam. Ưu thế về cấu trúc tự nhiên này đã tạo cho Đồ Sơn có một vị trí
chiến lược quan trọng trên mặt biển, đồng thời cũng là một thắng cảnh nổi
tiếng. Dưới chân những đồi đá cát kết có bãi tắm, có nơi nghỉ mát nên thơ và
khu an dưỡng có giá trị. Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo
rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát Bà, xa nhất có đảo Bạch Long
Vĩ. Bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của thành
phố duyên hải. Đây cũng là một thế mạnh tiềm năng của kinh tế địa phương.
Vùng biển Hải Phòng có rất nhiều đảo nằm rải rác và nối liền với vịnh Hạ

7


Long là một trong những danh lam thắng cảnh của thế giới. Biển Hải Phòng
có 2 đảo lớn có ý nghĩa quan trọng về kinh tế và du lịch là đảo Cát Bà và đảo
Bạch Long Vĩ.
1.2.2.2. Khí tượng
Hải Phòng nằm trong vùng nhiệt đới gần chí tuyến Bắc nên khí hậu
mang nền tảng nhiệt đới nóng ẩm. Khí hậu Hải Phòng phân hoá thành hai mùa
rõ rệt: mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều. Khí hậu của Hải
Phòng là sự tổng hợp của nhiều dạng thời tiết khác nhau và diễn biến gần như
kế tiếp nhau.
Lượng mưa hàng năm từ 1800-2100 mm, mùa mưa có tổng lượng mưa
từ 1500-1600 mm chiếm khoảng 80-90% của lượng mưa hàng năm. Trong

thường xuyên đến nhiều quá trình xảy ra trong thiên nhiên và ảnh hưởng quan
trọng đến nhiều hoạt động của con người. Hải Phòng là thành phố biển, tổng
diện tích chỉ có 1.507,6km2 đất nổi, riêng hải đảo chiếm 229,1km2. Vùng
nước bên ngoài bờ biển Hải Phòng là một dải hẹp, rộng khoảng 31 km, phần
lớn không sâu quá 20 m, nơi sâu nhất không quá 40 m, bao quanh hệ quần
đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Thương Mai, Long Châu, Hòn Dáu.
Chế độ thuỷ triều vịnh Bắc Bộ mang tính chất nhật triều là chính. Vùng
biển Hải Phòng là nơi có chế độ nhật triều điển hình, trong một tháng có hơn
20 ngày xuất hiện nhật triều và 5-7 ngày xuất hiện bán nhật triều. Mực nước
triều lớn nhất đạt 4m ở Hòn Dáu, khi có bão có thể đạt tới 5-6 m.
1.2.2.5. Tài nguyên
Tài nguyên nước: Nước mặt của Hải Phòng rất phong phú, Hải Phòng
có 125km bờ biển với rất nhiều hải đảo. Diện tích nước mặt dùng vào việc
nuôi trồng thuỷ sản là 7850 ha. Nguồn nước mặt chính phục vụ sinh hoạt,
công nghiệp của Hải Phòng bao gồm nước sông Rế, sông Giá, và sông Đa Độ.
Sông ngòi Hải Phòng đều là các chi lưu của sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc
Bộ. Nếu ngược dòng ta sẽ thấy như sau: sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Văn
Ôn ở độ cao trên 1.170 m thuộc Bắc Cạn, về đến Phả Lại thì hợp lưu với sông
Thương và sông Lục Nam, là nguồn của sông Thái Bình chảy vào đồng bằng

9


trước khi đổ ra biển với độ dài 97 km và chuyển hướng chảy theo Tây Bắc Đông Nam. Từ nơi hợp lưu đó, các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng
nhỏ, và sông Thái Bình đã tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như sông Kinh
Môn, Kinh Thầy, Văn Úc, Lạch Tray, Đa Độ... đổ ra biển bằng 5 cửa sông
chính.
Hải Phòng có 16 sông chính toả rộng khắp địa bàn Thành phố với tổng
độ dài trên 300 km, bao gồm:
- Sông Thái Bình dài 35 km là dòng chính chảy vào địa phận Hải

thị xã Đồ Sơn, Kiến An, An Lão và Thuỷ Nguyên.
- Rừng ngập mặn ven đảo Cát Hải, Cát Bà, các huyện Thuỷ Nguyên,
Kiến Thuỵ, Đồ Sơn, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo còn khoảng 6.623 ha, thuộc loại
rừng ngập mặn lớn cả nước. Về giá trị kinh tế, rừng ngập mặn ở Hải Phòng là
loại rừng phòng hộ giữ đất, ngăn sóng, bảo vệ đê ven biển.
Động vật ở Hải Phòng có 28 loài thú, 37 loài chim và 20 loài bò sát,
trong đó có nhiều loài đặc biệt quý hiếm và cần được bảo vệ.
Thuỷ sản của Hải Phòng có các loài cá như cá chép, mè, trôi và các loài
thuỷ sản khác như lươn, ếch, tôm, cua có giá trị dinh dưỡng cao. Thuỷ sản
biển ven bờ của Hải Phòng rất đa dạng và phong phú với khoảng 105 họ.
Vùng biển Hải Phòng có 57 loài, 34 giống và 6 họ thuỷ sản. Các loài động vật
đáy, động vật phù du ở vùng biển Hải Phòng có 312 loài với khối lượng trung
bình khoảng 6,2g/m2. San hô của vùng biển Hải Phòng có khoảng 150 loài
thuộc 45 giống và 13 họ được phát triển ở vùng Cát Bà, Bạch Long Vĩ.
Hệ sinh thái thực vật của vùng biển Hải Phòng chủ yếu tập trung ở một
số bộ (rong tảo, rong câu, rong chỉ vàng...), tảo, thực vật phù du. Các loại thực
vật biển có giá trị kinh tế cao đó là các loại rong câu. Độ phủ của rong câu
chiếm tỷ lệ từ 20-50%. Hàm lượng agar của rong câu Hải Phòng cao, đây là
loài thực vật biển có giá trị kinh tế lớn.
Tài nguyên khoáng sản: Do đặc điểm lịch sử địa chất Hải Phòng ít có
dấu vết của hoạt động macma nên ít có các mỏ khoáng sản lớn. Tuy nhiên,
theo kết quả thăm dò khảo sát thì Hải Phòng có mỏ sắt ở Dương Quan (Thuỷ

11


Nguyên), mỏ kẽm ở Cát Bà với trữ lượng nhỏ. Khoáng sản kim loại có mỏ sắt
Dưỡng Chính (Thuỷ Nguyên), sa khoáng ven biển (Cát Hải và Tiên Lãng).
Tài nguyên biển: là một trong những nguồn tài nguyên quí hiếm của
Hải Phòng với nhiều loài tôm, cá và hàng chục loài rong biển có giá trị kinh tế

đảo: Cát Hải, Bạch Long Vĩ. Dân số đô thị khoảng 600.000 người chiếm 35%
dân số toàn thành phố. Hải Phòng có trên 1 triệu người trong độ tuổi lao động,
chiếm 51% tổng dân số. Năm 2011, có hơn 81 vạn lao động làm việc trong
các ngành nghề khác nhau, trong đó công nghiệp chiếm 12,3%, xây dựng trên
5,58%, nông lâm ngư trên 49,5% và dịch vụ (giao thông thương mại, bưu
điện, du lịch) 3,6%. Những năm gần đây Hải Phòng đã đạt được những kết
quả toàn diện trong lĩnh vực kinh tế và văn hoá xã hội. Tốc độ GDP tăng cao
đưa nền kinh tế ổn định và phát triển. Cơ cấu các thành phần kinh tế đang trên
đà chuyển biến theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, văn hoá xã hội tiến
bộ đã tạo tiền đề phát triển trong những năm tới. Hải Phòng được Trung ương
xác định là thành phố cảng, trung tâm kinh tế, thương mại du lịch của vùng
duyên hải bắc bộ, là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc và đầu mối giao
thông quan trọng của cả nước. Hải Phòng là nơi có danh lam thắng cảnh và di
tích lịch sử độc đáo, những đền chùa có kiến trúc cổ mang đậm nét văn hoá
phương đông. Khu du lịch Đồ Sơn có cảnh quan đẹp: các bãi tắm và rừng
thông xanh quanh năm. Đảo Cát Bà có rừng nguyên sinh quốc gia với hệ
động thực vật quý hiếm. Vịnh Lan Hạ với hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ và hang
động đã là nơi thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Hải Phòng là thành
phố cảng, thành phố công nghiệp có tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch rất
lớn.

13


Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn, bao gồm:
- Các hoạt động hàng hải:
+ Hoạt động xây dựng và khai thác cảng biển
+ Hoạt động vận tải biển và đội tàu

+ Tiến hành làm việc với Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng và Ban Quản lý
dự án hàng hải II.
+ Thu thập tài liệu, số liệu liên quan đến các hoạt động hàng hải tại khu
vực cảng biển Hải Phòng.
+ Tiến hành khảo sát các điểm gây ô nhiễm môi trường tại cảng.
+ Điều tra phỏng vấn các cán bộ quản lý và một số nhân viên vận hành
thiết bị, công trình cảng và một số hộ dân sống gần khu vực cảng.
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu có liên quan đến luận văn thực
hiện tại Bộ Giao thông vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Thống kê Hải
Phòng. Phương pháp này nhằm thu thập các số liệu khí tượng thủy văn, kinh
tế xã hội, hiện trạng hoạt động hàng hải, quy hoạch phát triển hệ thống cảng
biển, vận tải biển và công nghiệp đóng mới, sửa chữa tàu cũ tại khu vực cảng
biển Hải Phòng.
- Phương pháp phân tích tài liệu thu thập được từ khảo sát thực địa và
các cơ quan liên quan:
+ Tiến hành phân tích các tài liệu, thông tin số liệu về điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng môi trường nước, không khí, đất, trầm tích và
đa dạng sinh học, các tài liệu phân tích bao gồm:
Báo cáo tình hình tác động môi trường lĩnh vực hàng hải giai đoạn
2006-2010 và Kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm do hoạt động hàng hải giai đoạn
2011-2020.
Đề án bảo vệ môi trường Nghiên cứu xác định vùng thải nước dằn tàu
cho khu vực cảng biển Hải Phòng - Quảng Ninh, mã số MT.074006.

15


Đề án Quy hoạch vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng
đến năm 2030.
Quyết định số 2610/QĐ-TTg ngày 15/10/2009 của Thủ tướng Chính

03 bến, tiếp nhận tàu 7.000 DWT; Ninh Tiếp 02 bến, tiếp nhận tàu 15.000
DWT; Bến Gót 02 bến, tiếp nhận tàu 30.000 DWT và 50.000 DWT); 04 khu
neo đậu chuyển tải là Hạ Long, Lan Hạ, Bến Gót và Bạch Đằng. Hệ thống
cầu, bến cảng và luồng hàng hải tại khu vực Hải Phòng trong những năm qua
đã được các doanh nghiệp và nhà nước quan tâm đầu tư, nâng cấp góp phần
nâng cao sản lượng hàng hóa thông qua cảng và số lượng tàu có trọng tải lớn
ra vào cảng ngày càng tăng.
Theo báo cáo tổng kết hoạt động quản lý của Cảng vụ Hàng hải Hải
Phòng năm 2011, các cảng biển khu vực Hải Phòng đang tiếp tục được đầu tư
mở rộng, nâng cấp về cơ sở hạ tầng và tuyến luồng tàu vào cảng để tăng năng
suất xếp dỡ hàng hoá. Độ sâu đối với luồng sông là -5,5m, đối với luồng biển
là -7,2m. Tổng khối lượng bùn nạo vét trong giai đoạn này là 13.000.000m3.
Các thiết bị hàng hải sẽ được cải tạo và nâng cấp. Hai cầu tàu dài 350m
chuyên dụng làm hàng container đang được xây dựng, kèm theo đó là một
khu bãi xếp container mới rộng 64.000m2 sẽ được đưa vào sử dụng. Bước 2
đoạn luồng sông được tiếp tục nạo vét đến -7,0mHĐ, thì khu vực cảng nổi
Bến Gót đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các tàu có trọng tải lớn hành
thuỷ trong điều kiện hạn chế ra vào cảng. Khi đó việc tiếp nhận các tàu có
trọng tải đến 20.000 DWT và các tàu lớn hơn có kích thước LxB = (230240)x(30-33)m giảm tải mớn 8,5-9,6m tương đương 40.000 DWT tại khu
Đình Vũ sẽ thuận lợi hơn nhiều do luồng tàu ngắn, rộng, bán kính cong lớn và

17


độ sâu luồng được cải thiện đáng kể và vị trí vũng quay tàu không bị hạn chế.
Luồng Hải Phòng có tổng chiều dài khoảng 85 km, bao gồm các đoạn
luồng Lạch Huyện, Hà Nam, Bạch Đằng, Sông Cấm, Vật Cách, Phà Rừng và
Nam Triệu. Hiện tại, độ sâu đoạn luồng Lạch Huyện đạt - 6,4 m, kênh Hà
Nam - 6,4 m, Bạch Đằng - 6,5 m, sông Cấm từ - 5,3 m đến - 6,3 m, Vật Cách
- 3,4 m, Phà Rừng từ - 1,8 m đến - 3,6 m, Nam Triệu - 1,2 m đến - 2,6 m. Hệ

2011

Độ s u nạo vét (m)
Lạch



Bạch

Sông

Huyện

Nam

Đằng

Cấm

-7,2

-7,2

-7,0

-5,5

-7,2

-7,2


-5,1

-5,1

-5,2

-6,4

-6,4

-6,4

-5,5

-6,1

-5,0

-5,0

-5,3

-5,8

-5,0

-5,0

-5,3

977.390

79,6

Không

Không

936.000

152

Nguồn: Tổng Công ty bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc

Về cơ bản các cảng biển khu vực Hải Phòng được xây dựng và khai
thác theo quy hoạch, tuân thủ và chấp hành các vấn đề về an toàn, an ninh
hàng hải tại cảng biển dưới sự quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng
Nhà nước. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý khai thác cảng chủ
yếu được áp dụng tại các bến cảng container và đã bước đầu phát huy tốt vai
trò, làm tăng hiệu quả bốc xếp, giải phóng tàu nhanh. Tuy nhiên, việc đầu tư
nâng cấp chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của thành phố. Do đó khả
năng tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn đầy tải ra, vào làm hàng còn hạn chế,
sự tăng trưởng theo đó cũng bị ảnh hưởng. Vấn đề bảo vệ môi trường tại cảng
biển nói chung chưa được các cảng quan tâm đầu tư thực hiện một cách đúng
mức mà vẫn mang tính hình thức. Đối với các bến cảng bốc xếp hàng tổng

19


hợp, bách hóa thì việc áp dụng khoa học công nghệ vào quản lý khai thác

3.1.3. Hoạt động đóng mới, sửa chữa và phá dỡ tàu cũ [6]
Trên địa bàn thành phố Hải Phòng có khoảng 23 doanh nghiệp đóng và
sửa chữa tàu biển. Tiêu biểu như: Tổng công ty đóng tàu Bạch Đằng, Tổng
công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu, Tổng công ty đóng tàu Phà Rừng,
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chế tạo Thiết bị và đóng tàu Hải
Phòng, Công ty Cổ phần đóng tàu Sông Cấm, Công ty đóng tàu thuỷ sản Hải
Phòng, Công ty Cổ phần cơ khí đóng tàu thuỷ sản Việt Nam, ... Trong năm
qua các doanh nghiệp này tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp lại sản xuất,
khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt kế hoạch đề ra, đảm bảo ổn định
sản xuất và tạo việc làm, thu nhập cho người lao động. Năm 2011, các doanh
nghiệp này đã đóng và bàn giao với số lượng lớn các tàu có trọng tải từ
22.500DWT đến 53.000DWT. Cụ thể, Tổng công ty đóng tàu Bạch Đằng
đóng và hạ thủy 06 tàu, bàn giao 11 tàu; Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ
Nam Triệu đóng và hạ thủy 02 tàu, bàn giao 07 tàu; Tổng công ty đóng tàu
Phà Rừng đóng và hạ thủy 01 tàu, bàn giao 03 tàu,...
3.2. Tổng quan về quy hoạch cảng biển, đội tàu vận tải biển và công
nghiệp tàu thủy khu vực cảng biển Hải Phòng.
3.2.1. Quy hoạch phát triển cảng biển khu vực Hải Phòng [10].
3.2.1.1. Phân khu chức năng (chi tiết xem phụ lục 2):
Cảng Hải phòng được phân thành 04 bến cảng chính gồm có:
Bến cảng trên Sông Cấm
Bến cảng Đình Vũ
Bến cảng Yên Hưng, Sông Chanh
Bến cảng Lạch Huyện
Khu chuyển tải được bố trí tại Bến Gót (theo quyết định 885/QĐ -TTg).
Các khu neo đậu chuyển tại vịnh Lan Hạ và khu vực Hòn Gai bố trí tạm thời
và được duy trì cho đến khu bến cảng Lạch Huyện đưa vào sử dụng.
Quy hoạch khu bến thủy đội cảng và các bến dịch vụ:

21

22


- Đoạn luồng trên sông Chanh (tiếp nối Lạch Huyện đến khu bến Yên
Hưng) : giai đoạn 2015: Nạo vét đến cao trình -7,5m, bề rộng 110m, đảm bảo
cho tàu tổng hợp 3 vạn DWT lợi dụng mực nước ra vào cảng; đến 2020
nghiên cứu nạo vét đến cao trình -8,5m.
3.2.2. Quy hoạch phát triển đội tàu biển Việt Nam đến 2020 [9]
Căn cứ Quy hoạch tổng thể phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 15/10/2009 thì quan điểm và mục tiêu
phát triển đội tàu biển quốc gia tới năm 2020, định hướng đến năm 2030 như
sau:
Phát triển đội tàu theo hướng hiện đại, trẻ hóa và chú trọng phát triển
các loại tàu chuyên dùng như tàu container, hàng rời cỡ lớn, tùa dầu, tàu khí
hóa lỏng, tàu lash.v.v. Nghiên cứu phát triển tàu chở khách cao tốc Bắc - Nam
và tùa khách du lịch.
Đảm nhận 100% nhu cầu vận tải biển nội địa, nâng thị phần vận chuyển
hàng hóa xuất nhập khẩu đạt 25-35% kết hợp chở thuê hàng hóa nước ngoài.
Quy mô đội tàu dự kiến năm 2020 đạt 11,5-12 triệu DWT
Cỡ tàu vận hành trên các tuyến trong nước và quốc tế của đội tàu biển
Việt Nam dự kiến:
Tuyến quốc tế:
(1). Tàu hàng rời: Tùy thuộc tuyến và mặt hàng sử dụng cỡ tàu từ
30.000-200.000DWT.
- Nhập than cho nhà máy nhiệt điện, quặng cho nhà máy liên hợp
gang thép dùng tàu cỡ 100.000-200.000DWT.
- Xuất boxit sử dụng cỡ tàu 70.000-100.000DWT.
- Xuất lương thực, nhập phân bón, clanker... sử dụng cỡ tàu từ
30.000-50.000DWT.

- Dầu sản phẩm:cỡ tàu từ 1.000-30.000DWT
Bảng 2. Quy mô, cơ cấu đội tàu vận tải biển Việt Nam n m 2015, 2020
TT

Trọng tải (106DWT)

Loại tàu
Hiện có 2008

N m 2015

N m 2020

1

Tàu bách hóa

2,48

2,98-3,27

3,87-4,45

2

Tàu hàng rời

1,85

2,09-2,6


1,92-2,21

Nguồn: Cục Hàng hải Việt Nam

3.2.3. Quy hoạch công nghiệp tàu thủy khu vực Hải Phòng
Để đạt được mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể nêu trên, quy

24


hoạch phát triển mạng lưới CNTT khu vực Hải Phòng đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030 được thực hiện tập trung vào 4 lĩnh vực chính là đóng
mới tàu, sửa chữa tàu, công nghiệp phụ trợ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực,
cụ thể như sau:
3.2.3.1. Lĩnh vực đóng tàu:
Được cơ cấu một cách toàn diện, triệt để nhằm hình thành một số trung
tâm đóng tàu vận tải, trung tâm đóng tàu chuyên dụng tại các khu vực có điều
kiện thuận lợi (có lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thị trường, thương
mại, công nghiệp hỗ trợ và quỹ đất) đóng được các gam tàu có yêu cầu kỹ
thuật và hiệu quả kinh tế cao (tàu container, tàu chở ô tô, tàu dầu, tàu khách,
tàu TKCN, tàu nghiên cứu biển, tàu tuần tra cao tốc, tàu công trình...) đáp ứng
các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, tiến độ phục vụ nhu cầu trong nước và
xuất khẩu
Trung tâm đóng tàu vận tải: Theo quy hoạch phát triển tổng thể công
nghiệp tàu thủy Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, thì
trung tâm đóng tàu được xây dựng tại Hải Phòng trên cơ sở 3 nhà máy lớn
hiện có thuộc tập đoàn CNTT Việt Nam là Nam Triệu, Phà Rừng, Bạch Đằng,
trong đó:
- Nhà máy đóng tàu Nam Triệu (Xã Tam Hưng - Huyện Thủy Nguyên TP. Hải Phòng): diện tích 62,4ha, trên đó có 1 ụ khô 5.500DWT, đà tàu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status