MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1
4
CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG
13
VIÊN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER CỦA CÁC
ĐẢNG BỘ XÃ Ở TỈNH BẠC LIÊU - NHỮNG VẤN
ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Các đảng bộ xã và chất lượng công tác phát triển
13
đảng viên là người dân tộc Khmer của các đảng bộ
xã ở tỉnh Bạc Liêu
1.2. Thực trạng và một số kinh nghiệm nâng cao chất
32
lượng công tác phát triển đảng viên là người dân tộc
Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu
Chương 2
PHƯƠNG HƯỚNG, YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI
50
2
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
Công tác phát triển đảng viên
CTPTĐV
Đội ngũ đảng viên
ĐNĐV
Hệ thống chính trị
HTCT
Năng lực lãnh đạo
NLLĐ
Tổ chức cơ sở đảng
phương hướng phát triển đảng viên được Đảng ta chỉ ra và nhất quán thực hiện
trong suốt quá trình XDĐ và lãnh đạo cách mạng.
TCCSĐ nói chung, các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu nói riêng có vị trí, vai trò
rất quan trọng trong hệ thống tổ chức và hoạt động của Đảng. Đảng bộ xã là nơi
trực tiếp gắn bó với nhân dân, là cầu nối giữa Đảng với dân, là hạt nhân chính trị
lãnh đạo ở xã, nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước vào cuộc sống; đồng thời là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động
xây dựng nội bộ Đảng, nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên và tiến
hành công tác phát triển đảng, sàng lọc đảng viên.
Nhận thức rõ được vị trí, vai trò, tầm quan trọng đó, những năm qua cấp
ủy, tổ chức đảng các cấp ở tỉnh Bạc Liêu luôn coi trọng và quan tâm CTPTĐV,
4
nhất là CTPTĐV là người dân tộc Khmer. Do đó CTPTĐV đã đạt được những
kết quả quan trọng, số lượng đảng viên là người dân tộc Khmer ngày càng tăng,
tuyệt đại đa số đảng viên là người dân tộc Khmer đã phát huy tốt vai trò tiền
phong gương mẫu, góp phần cải thiện cơ cấu và nâng cao chất lượng ĐNĐV của
các đảng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để các đảng bộ xã lãnh đạo thực hiện thắng
lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hoàn thành
mục tiêu, nhiệm vụ công cuộc đổi mới ở địa phương.
Tuy nhiên, CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh
Bạc Liêu còn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định cả về nhận thức, trách
nhiệm của các tổ chức, các lực lượng; nội dung, hình thức, biện pháp chưa thật
sát hợp, có lúc, có nơi còn chạy theo số lượng đơn thuần, coi nhẹ, hạ thấp chất
lượng, tiêu chuẩn đảng viên hoặc xem nhẹ CTPTĐV là người dân tộc Khmer;
hẹp hòi, định kiến, tuyệt đối hóa tiêu chuẩn đảng viên.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang có những diễn biến
nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Các thế lực đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến
hòa bình”, bạo loạn lật đổ hòng phá hoại Đảng, phá hoại công cuộc đổi mới trên đất
nhiệm vụ kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và thực hiện có hiệu
quả xây dựng đảng bộ theo nghị quyết, Điều lệ Đảng. Trên cơ sở phân tích thực
trạng, nguyên nhân của thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao
chất lượng các đảng bộ cấp xã hiện nay.
“Chất lượng các đảng bộ xã vùng đồng bằng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
hiện nay” (2004), Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành XDĐ Cộng
sản Việt Nam của Lê Xuân Thành. Tác giả luận văn đã đưa ra quan niệm về chất
lượng và các tiêu chí đánh giá chất lượng, đánh giá thực trạng chất lượng các
đảng bộ xã vùng đồng bằng tỉnh Thanh Hóa, đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao chất lượng các đảng bộ xã vùng đồng bằng tỉnh Thanh Hóa hiện
nay.
“Chất lượng các đảng bộ xã có đồng bào theo đạo thiên chúa ở miền
Đông Nam Bộ hiện nay”, Luận án tiến sĩ khoa học chính trị của Phạm Thanh
Kiều, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2008). Luận án
6
đã luận giải làm rõ vai trò, chức năng, đặc điểm của các xã có đồng bào theo đạo
thiên chúa, phân tích những vấn đề cơ bản về chất lượng các đảng bộ xã có đồng
bào theo đạo thiên chúa ở miền Đông Nam Bộ. Trên cơ sở đánh giá thực trạng,
nguyên nhân, luận án đã xác định mục tiêu, phương hướng, đề xuất những giải
pháp chủ yếu nâng cao chất lượng các đảng bộ xã có đồng bào theo đạo thiên
chúa ở miền Đông Nam Bộ đến năm 2020.
Dương Trung Ý, Nâng cao chất lượng đảng bộ xã trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Nxb CTQG, H, 2012.
Tác giả đã luận giải làm rõ yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đối với các đảng bộ xã trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; thực trạng chất lượng
các đảng bộ xã và đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng các
đảng bộ xã giai đoạn hiện nay.
* Những công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng CTPTĐV.
Lê Văn Cương (2005), Công tác phát triển đảng viên trong nữ thanh niên
dân tộc thiểu số của các đảng bộ xã miền núi tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn
hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành XDĐ Cộng sản
Việt Nam. Luận văn đã phân tích vai trò của xã và đảng bộ xã miền núi tỉnh
Thanh Hóa, đặc điểm, vai trò của nữ thanh niên dân tộc thiểu số. Luận giải
những vấn đề cơ bản về lý luận CTPTĐV trong nữ thanh niên dân tộc thiểu số;
trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, xác định phương hướng,
yêu cầu, đề xuất những giải pháp cơ bản tăng cường CTPTĐV trong nữ thanh
niên dân tộc thiểu số của các đảng bộ xã miền núi tỉnh Thanh Hóa giai đoạn hiện
nay.
Nguyễn Thị Ngọc Loan (2006), Chất lượng đội ngũ đảng viên là cán bộ
chuyên trách ở các phường thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc
sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong
đề tài này, tác giả đã đi sâu phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vai
trò chất lượng đội ngũ đảng viên của các đảng bộ phường thành phố Hà Nội giai
đoạn hiện nay. Từ đó, xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ
8
yếu góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là cán bộ chuyên trách của
các phường thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay.
Nguyễn Văn Hào (2013), Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong
thanh niên của các đảng bộ xã ở Thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay, Luận
văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành XDĐ Cộng sản Việt Nam. Tác giả
đã phân tích làm rõ đặc điểm, nhiệm vụ của các đảng bộ và CTPTĐV của các
đảng bộ xã ở Thành phố Đà Nẵng, đề xuất những giải pháp đẩy mạnh CTPTĐV
trong thanh niên của các đảng bộ xã ở Thành phố Đà Nẵng.
Ngoài ra, trên phạm vi cả nước còn có một số công trình khoa học, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, sách, các bài báo viết nghiên cứu về nâng cao chất
lượng đảng viên, xây dựng ĐNĐV như: Nguyễn Văn Giang, Nâng cao chất
tích thực trạng, nguyên nhân, đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất
lượng CTPTĐV và xây dựng ĐNĐV.
Tuy nhiên, do đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phạm vi, phương
pháp nghiên cứu của mỗi công trình khác nhau. Do đó, cho đến nay chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản hệ thống, toàn diện, cụ thể về
chất lượng CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc
Liêu hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích:
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuất
những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng CTPTĐV là người dân tộc Khmer
của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chất lượng CTPTĐV là người dân
tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu.
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh
nghiệm nâng cao chất lượng CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ
xã ở tỉnh Bạc Liêu.
10
Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng
CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh
Bạc Liêu.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng CTPTĐV là người dân tộc
Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu. Phạm vi điều tra khảo sát là các xã
các cấp ủy, đảng bộ, chi bộ của các xã, phường, thị trấn của tỉnh Bạc Liêu trong
lãnh đạo, chỉ đạo CTPTĐV là người dân tộc Khmer hiện nay.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy,
học tập môn XDĐ ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục.
12
Chương 1
CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN
LÀ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ
Ở TỈNH BẠC LIÊU - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Các đảng bộ xã và chất lượng công tác phát triển đảng viên là
người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu
1.1.1. Các đảng bộ xã và công tác phát triển đảng viên là người dân tộc
Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu
* Khái quát về tỉnh Bạc Liêu.
Bạc Liêu là tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau miền đất cực Nam của Tổ quốc.
Cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km, thành phố Cần Thơ 110 km về phía Bắc và
cách thành phố Cà Mau 67 km về phía Nam. Phía Bắc giáp các tỉnh Hậu Giang và
Kiên Giang, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, Tây và Tây Nam giáp tỉnh
Cà Mau, Đông và Đông Nam giáp biển Đông. Bạc Liêu có diện tích tự nhiên
2.570 km2, bằng 1/16 diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Có bờ biển dài
56 km, với các cửa biển quan trọng như: Gành Hào, Cái Cùng, Nhà Mát, là nơi
trung chuyển hàng hóa của nhiều cơ sở kinh tế trong và ngoài tỉnh.
Theo số liệu thống kê dân số tỉnh Bạc Liêu năm 2010 là 867.750 người,
bằng 5,02% dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long và gần bằng 1% dân số cả
tộc Khmer năm 2000 là 72% đến năm 2010 giảm xuống còn 26%, cơ bản được giải
quyết về nhà ở, đất sản xuất và việc làm.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Bạc Liêu vẫn còn nhiều khó
khăn, chậm phát triển so với các tỉnh bạn trong khu vực. Đời sống một bộ phận
nhân dân cũng còn nghèo, đặc biệt là vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũ,
vùng đồng bào dân tộc Khmer. Khoảng cách giàu nghèo ở vùng nông thôn so
với thành thị ngày càng tăng; số lao động không có việc làm và việc làm không
ổn định, nhất là một tỉnh thế mạnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nhưng trước
tình hình sản xuất nông nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn như hiện nay là
14
những vấn đề nan giải đang đặt ra đối với cấp ủy, chính quyền cần phải giải
quyết.
Mặt khác, HTCT ở cơ sở tuy đã được thường xuyên củng cố, xây dựng,
nhưng chưa thật hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Chất
lượng TCCSĐ và đảng viên còn nhiều hạn chế, là một tỉnh có đông đồng bào
dân tộc Khmer sinh sống nhưng tổ chức đảng và đảng viên là người Khmer ít,
chất lượng thấp. Bên cạnh đó, tình hình trong dân tộc Khmer nổi lên một số vấn
đề nhạy cảm, phức tạp, một số đối tượng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phản
động, chống phá Đảng và nhà nước ta, chúng mốc nối, cài cắm lực lượng ngầm,
lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ đồng bào trong dân tộc Khmer khiếu kiện, vượt biên
qua biên giới Campuchia trái phép, kích động đấu tranh đòi lại cái gọi là “Nhà
nước Khmer Krôm”, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa
phương.
Những đặc điểm trên đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để xác định đúng
nội dung, yêu cầu và đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng
CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
* Đặc điểm tình hình dân tộc Khmer các xã ở tỉnh Bạc Liêu.
Đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Bạc Liêu có 66.954 người, chiếm gần
không tham gia các công việc của xã, ấp, nhưng không thể không tham gia công
việc của nhà chùa, vì lợi ích tinh thần của họ hầu như gắn bó với chùa nhiều hơn là
gắn bó với xã, ấp. Mặc dù đang sống trong một xã hội hiện đại với nhiều nét đổi
thay do công cuộc đổi mới đất nước đem lại, song các thiết chế văn hóa, xã hội cổ
truyền vẫn đang ảnh hưởng và chi phối cuộc sống hằng ngày của người dân
Khmer.
Trong lối sống của đồng bào dân tộc Khmer nổi bật là tính cộng đồng, tinh
thần đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; đồng bào luôn
cần cù trong lao động sản xuất, chịu thương, chịu khó.
Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, nhất là từ khi thực hiện Chỉ thị
68-CT/TW, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư (khóa VI) về công tác ở vùng đồng
bào dân tộc Khmer, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc, các
16
chương trình mục tiêu quốc gia 134, 135… nên đời sống mọi mặt trong đồng
bào dân tộc Khmer có sự thay đổi rõ rệt, trình độ dân trí được nâng cao đáng kể,
đẩy lùi các hủ tục lạc lậu. Trong đó, đi đầu là lực lượng thanh niên trẻ họ không
những hăng hái trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế mà còn tích cực trong
các phong trào của Đoàn, của Hội. Từ những chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước, ngày nay đồng bào dân tộc Khmer luôn mở
rộng giao lưu về văn hóa - xã hội, làm ăn kinh tế và đồng bào đang tiếp cận dần
với nền kinh tế thị trường. Nhiều tấm gương, mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi
là người dân tộc Khmer xuất hiện. Điều đó chứng tỏ đồng bào dân tộc Khmer ở
tỉnh Bạc Liêu đã và đang phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình
trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước.
Đời sống vật chất được nâng lên, góp phần làm cho đời sống tinh thần
trong đồng bào dân tộc Khmer thêm phong phú. Họ rất phấn khởi, tin tưởng vào
Đảng và chính quyền, do vậy đồng bào đã tham gia tích cực vào các tổ chức
chính trị - xã hội, như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân…, các đoàn
nhưng nhìn chung trình độ, năng lực của ĐNĐV ở xã còn hụt hẫng so với nhu
cầu phát triển của xã hội, một bộ phận đảng viên, đặc biệt là đảng viên Khmer
còn có khó khăn về đời sống.
ĐNĐV và các tổ chức đảng trực thuộc của các đảng bộ xã là tương đối
thuần nhất: phần lớn đảng viên là nông dân và cán bộ tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp công tác đảng, nhà nước, đoàn thể ở xã và cán bộ ấp. Số đảng bộ có
đảng viên là người dân tộc Khmer không nhiều (3,12%). Một số lượng rất nhỏ
đảng viên là cán bộ nghỉ hưu, mất sức (0,2%), gốc tôn giáo (0,51%). Trong số
551 chi bộ thuộc 50 đảng bộ xã thì có tới 489 (89%) chi bộ ấp và liên ấp, số còn
lại là chi bộ cơ quan và trường học, một số chi bộ khu dân cư nằm ở địa bàn ven
quốc lộ có đặc thù tương đối khác tạo nên sự đa dạng trong hoạt động lãnh đạo
của các đảng bộ xã. Các đảng bộ xã thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn với cơ cấu kinh tế phong phú, đa dạng, kinh tế nông
nghiệp giữ vai trò chủ yếu. Kinh tế công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ trên các
địa bàn xã còn nhỏ bé.
Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ xã:
18
Các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu là loại hình TCCSĐ ở xã, có chức năng,
nhiệm vụ theo Quy định số 95-QĐ/TW, ngày 03/3/2004 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã. Theo quy định
này, chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ xã được cụ thể hóa thành những điểm
chủ yếu sau:
Chức năng: Đảng bộ cơ sở xã ở tỉnh Bạc Liêu là hạt nhân chính trị, lãnh đạo
thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng HTCT ở xã vững mạnh, nông thôn
giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Nhiệm vụ:
các đơn vị kinh tế, sự nghiệp ở cơ sở vững mạnh; tiến hành các khâu của công
tác cán bộ, xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, tích cực tạo nguồn cán bộ tại chỗ. Xây dựng quy chế về công tác tổ chức,
cán bộ; quản lý và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với cán bộ cơ sở; đề
xuất ý kiến trong việc lựa chọn, giới thiệu cán bộ tham gia các cơ quan của
Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cấp trên và cán bộ chủ chốt ở cơ sở do cấp trên
quản lý.
Thứ tư, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Các đảng bộ xã lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
ở xã vững mạnh, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và
điều lệ của mỗi đoàn thể. Thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước về xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, về công tác
dân tộc, tôn giáo. Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây
dựng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và
các nhiệm vụ của địa phương.
Thứ năm, xây dựng tổ chức đảng.
Các đảng bộ xã tiến hành các hoạt động XDĐ; đề ra nhiệm vụ, giải pháp
xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, gắn liền với việc xây dựng,
củng cố HTCT ở cơ sở, nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ; thực hiện đúng
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng. Giáo dục, rèn luyện ĐNĐV; xây dựng kế
20
hoạch và biện pháp quản lý, phân công nhiệm vụ và tạo điều kiện để đảng viên
hoàn thành nhiệm vụ, làm tốt nhiệm vụ động viên, khen thưởng, kỷ luật đảng
viên và công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên. Xây dựng cấp ủy và bí thư cấp
ủy đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, thực sự là trung tâm đoàn kết,
hoạt động có hiệu quả. Cấp ủy thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên
chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của Bộ Chính
trị về những điều đảng viên không được làm.
Các đảng bộ xã ở tỉnh Bạc Liêu là nền tảng của Đảng ở nông thôn, là loại
hình tổ chức chiếm phần lớn tổ chức đảng và đảng viên của đảng bộ tỉnh, là nơi
trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và phát triển ĐNĐV ở nông thôn. Các
đảng bộ xã là hạt nhân chính trị ở xã, trực tiếp lãnh đạo giai cấp nông dân thực
hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
nhất là đường lối phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; có vai trò
quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, thế trận an ninh nhân dân,
quốc phòng toàn dân, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện
vọng chính đáng của nông dân để phản ánh với Đảng. Nơi nhân dân cung cấp cho
Đảng nguồn lực, tố chất mới để tăng cường số lượng và chất lượng ĐNĐV cho
Đảng, nhất là trong đồng bào dân tộc Khmer ở Bạc Liêu.
* Quan niệm CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã.
Trong hoạt động thực tiễn, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
đồng thời với việc khẳng định sức mạnh của tổ chức đã chỉ rõ cốt lõi của việc
tạo dựng tổ chức chính là phát triển đảng viên và xây dựng ĐNĐV.
Quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về XDĐ, đặc biệt
khi bàn về CTPTĐV, Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng “cũng ở trong xã hội”, Đảng
là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, có hấp thu, có
đào thải. Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới hình thành nên tổ
chức đảng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ đại, lâu dài phải do
nhiều thế hệ chiến sĩ cộng sản tham gia gánh vác. Đảng phải liên hệ mật thiết với
quần chúng, phải không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu tương
xứng với đòi hỏi khách quan của tình hình nhiệm vụ. NLLĐ và SCĐ chỉ có thể
trên cơ sở số lượng, chất lượng ĐNĐV tương ứng. Do đó, Đảng phải thường xuyên
làm tốt CTPTĐV.
22
Tư tưởng xuyên suốt trong quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển
đảng viên là coi trọng chất lượng cùng với việc xác định đúng tiêu chuẩn đảng
Khmer đang sinh sống tại địa bàn các xã ở tỉnh Bạc Liêu.
Phương châm, phương hướng: tích cực, thận trọng, coi trọng chất lượng,
không chạy theo số lượng đơn thuần, phát triển đảng phải đi đôi với củng cố tổ
chức đảng; giữ vững bản chất giai cấp công nhân, chăm lo bồi dưỡng kết nạp
những quần chúng ưu tú đủ điều kiện kết nạp vào Đảng, tập trung vào đối tượng
người dân tộc Khmer là cán bộ xã, ấp, giáo viên các trường học, đội ngũ y bác sĩ và
nhân viên các trạm y tế xã, đoàn viên, hội viên tiêu biểu của các đoàn thể, người có
uy tín và lực lượng cốt cán trong đồng bào dân tộc Khmer, các chức sắc, chức việc
và ban quản trị các chùa khmer thể hiện sự mẫu mực, có nhận thức tốt về Đảng, có
động cơ phấn đấu trong sáng, liên tục.
Nội dung quy trình phát triển đảng viên là người dân tộc Khmer của các
đảng bộ xã theo các bước: Xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên mới là người
dân tộc Khmer; tạo nguồn, bồi dưỡng, rèn luyện nguồn, tổ chức bồi dưỡng kiến
thức về Đảng cho quần chúng ưu tú; giới thiệu quần chúng ưu tú vào Đảng; thực
hiện nghiêm các thủ tục, lập hoàn chỉnh hồ sơ phát triển đảng viên; xác minh thẩm
tra lý lịch đối tượng kết nạp Đảng, lấy ý kiến nhận xét của các tổ chức đoàn thể; chi
bộ, đảng bộ xét đề nghị kết nạp đảng viên; cấp ủy cấp trên chuẩn y kết nạp quần
chúng ưu tú là người dân tộc Khmer vào Đảng; đồng thời tiếp tục theo dõi, giáo
dục, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên dự bị và xét công nhận đảng viên chính
thức. Các nội dung quy trình phát triển đảng viên được tiến hành thường xuyên,
liên tục, mỗi nội dung có vị trí, vai trò nhất định, song giữa chúng có mối quan
hệ biện chứng tác động ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động ảnh hưởng đến
chất lượng, hiệu quả CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở
tỉnh Bạc Liêu. Vì vậy, CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở
tỉnh Bạc Liêu phải chú ý thực hiện đầy đủ, có chất lượng các bước, các khâu cụ
thể, phù hợp.
Hình thức, biện pháp: Tiến hành bằng nhiều hình thức, biện pháp như:
Thông qua hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức, các lực lượng,
25
tổ chức và phát huy sức mạnh tập thể, động viên mọi người ra sức thực hiện tốt
nhiệm vụ chính trị.
Bốn là, CTPTĐV là người dân tộc Khmer ở các xã của tỉnh Bạc Liêu góp
phần quan trọng nâng cao chất lượng ĐNĐV của các đảng bộ xã. Làm tốt
CTPTĐV là người dân tộc Khmer góp phần bổ sung số lượng đảng viên trẻ,
những người có trình độ, kiến thức, những người năng động, nhạy bén, sáng tạo
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, từ đó khắc phục tình trạng “lão hóa
đảng” ở các đảng bộ, chi bộ. Đẩy lùi những quan niệm bảo thủ, trì trệ, duy ý chí,
lối làm việc theo tập quán và tâm lý tộc người trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên người dân tộc Khmer, góp phần nâng cao tầm trí tuệ của Đảng bộ, làm cho
Đảng bộ các xã phát triển theo kịp sự phát triển chung trong toàn tỉnh.
* Đặc điểm CTPTĐV là người dân tộc Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh
Bạc Liêu.
Thứ nhất, đối tượng công tác phát triển đảng của các đảng bộ xã ở tỉnh
Bạc Liêu khá đa dạng và không đồng đều. Đối tượng công tác phát triển đảng
viên là người dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu là cán bộ, đoàn viên,
hội viên các đoàn thể và người dân Khmer đang sinh sống, lao động, công tác
ở các xã. Do đặc thù về tập quán và điều kiện sinh sống của người dân Khmer
nên đối tượng thành phần rất đa dạng tùy thuộc vào địa bàn cư trú, trình độ học
vấn, hoạt động nghề nghiệp, vị thế xã hội trong cộng đồng, người dân tộc
Khmer có thể có vị trí, chỗ đứng khác nhau trong cộng đồng xã hội của mình:
có những người là chức sắc tôn giáo, có những người là trưởng tộc, đứng đầu
một dòng họ, có những người là cán bộ ấp, xã, đa số còn lại là những người
dân bình thường. Những người có vị thế xã hội cao trong cộng đồng dân tộc
Khmer thường được đồng bào rất kính trọng và có uy tín cao.
Thứ hai, công tác giáo dục, bồi dưỡng, tạo nguồn, phân công cán bộ,
đảng viên giúp đỡ quần chúng phấn đấu trở thành đảng viên của các chi bộ,