DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban Chấp hành
Ban Thường vụ
Dấu hiệu vi phạm
Đoàn Kiểm tra
Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
Kiểm tra, giám sát
Kiểm tra đảng viên
Tổ chức đảng
Thẩm tra xác minh
Trong sạch vững mạnh
Tổ chức cơ sở đảng
Uỷ ban Kiểm tra
Vững mạnh toàn diện
Xây dựng Đảng
Chữ viết tắt
BCH
BTV
DHVP
ĐKT
NLLĐ, SCĐ
KT,GS
KTĐV
TCĐ
TTXM
TSVM
TCCSĐ
UBKT
VMTD
cường nâng cao chất lượng công tác kiểm tra đảng
viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của ủy ban
kiểm tra các cấp thuộc Đảng bộ thành phố Hải
Phòng trong giai đoạn hiện nay
2.2.
Những giải pháp tăng cường nâng cao chất lượng công
tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi
phạm của ủy ban kiểm tra các cấp thuộc Đảng bộ thành
phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang
3
13
1.1.
13
30
49
49
58
88
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của công tác KTĐV, TCĐ có DHVP đối
với việc nâng cao NLLĐ, SCĐ của cấp ủy, TCĐ. Những năm qua cấp uỷ,
BTV các cấp ở Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
các đảng uỷ, UBKT các cấp quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện nghiêm
3
các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về công tác KT, GS nói chung và
KTĐV, TCĐ có DHVP nói riêng. Dưới sự, lãnh đạo, chỉ đạo của đảng uỷ,
UBKT các cấp, công tác KTĐV, TCĐ có DHVP của các đảng uỷ trực thuộc
Thành ủy Hải Phòng trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến, tiến bộ
tích cực, ngày càng đi vào nền nếp, trực tiếp góp phần xây dựng TCĐ TSVM,
đơn vị VMTD, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trước yêu
cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và công tác XDĐ,
trên thực tế công tác KTĐV, TCĐ có DHVP là một vấn đề hết sức khó khăn,
nhạy cảm nên trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đã bộc lộ
không ít hạn chế, bất cập cả về mặt nhận thức, trách nhiệm và nội dung, hình
thức, cách thức tiến hành. NLLĐ, SCĐ của một số đảng uỷ, UBKT còn có
những hạn chế; chất lượng, hiệu quả công tác KTĐV, TCĐ có DHVP của
UBKT các cấp chưa cao; vẫn còn không ít đảng viên, TCĐ vi phạm kỷ luật
Đảng, pháp luật Nhà nước….
Ủy ban kiểm tra các cấp đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cùng
cấp; chủ trì phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy cùng cấp
tham mưu, giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo và quán triệt, tổ chức thực hiện công tác
kiểm tra, giám sát; xem xét, xử lý kỷ luật và giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật
đảng theo Điều 32, Điều lệ Đảng; tham mưu, giúp cấp ủy, ban thường vụ kết luận
các cuộc kiểm tra, đánh giá các cuộc giám sát; sơ kết, tổng kết thực hiện công tác
kiểm tra, giám sát; hướng dẫn các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cùng
cấp, ban cán sự đảng, đảng đoàn trực thuộc cấp ủy, hướng dẫn cấp ủy, tổ chức
hưởng đến tình hình nội bộ trong các cơ quan, đơn vị.
“Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra,
giám sát ở đảng bộ cơ sở trong quân đội hiện nay”, Bùi Quang Cường, Tạp
chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 5 (117), năm 2009. Tác giả đã
luận giải khái quát vị trí, tầm quan trọng của công tác KT, GS ở đảng bộ cơ
sở trong quân đội, những ưu điểm và khuyết điểm, hạn chế của công tác
KT, GS ở đảng bộ cơ sở trong quân đội theo tinh thần Nghị quyết 147NQ/ĐU và chỉ thị 316/CT của Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Chỉ rõ
nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, khuyết điểm và đưa ra năm giải
5
pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác KT, GS
ở các đảng bộ cơ sở trong quân đội hiện nay.
“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra ở các TCCSĐ Trường sĩ quan
chỉ huy kỹ thuật Thông tin”, Lê Văn Cơ, Luận văn Thạc sĩ XDĐ, Học viện
Chính trị quân sự, năm 2003. Sau khi phân tích vai trò ý nghĩa tác dụng của
công tác kiểm tra của đảng; vai trò công tác kiểm tra và trách nhiệm của đảng
uỷ cùng UBKT các cấp đối với công tác kiểm tra; tác giả khái quát những ưu,
khuyết điểm và những nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm của công tác
kiểm tra ở các TCCSĐ Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Thông tin; chỉ ra năm
yêu cầu và bốn giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra ở
các TCCSĐ Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Thông tin.
“Nâng cao năng lực công tác kiểm tra, giám sát của chi uỷ các chi bộ
đại đội quản lý học viên ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay” Nguyễn Văn
Doanh, Luận văn Thạc sĩ XDĐ, Học viện Chính trị quân sự, năm 2008. Tác
giả luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về năng lực KT, GS của chi uỷ các
chi bộ đại đội quản lý học viên ở Trường Sĩ quan Lục quân 2. Đánh giá những
ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh; đề xuất bốn giải
pháp nâng cao năng lực tiến hành công tác KT, GS của các chi uỷ đại đội
quan Chính trị. Phân tích làm rõ nội hàm quan niệm về công tác KT, GS, chỉ
rõ mục đích, chủ thể, lực lượng tiến hành, đối tượng và nội dung, hình thức
thực hiện công tác KT, GS của các đảng uỷ hệ, tiểu đoàn quản lý học viên ở
Trường Sĩ quan Chính trị. Xác định những vấn đề có tính nguyên tắc, đánh
giá những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và rút ra kinh nghiệm trong tiến
hành công tác KT, GS; dự báo các yếu tố tác động, xây dựng tiêu chí đánh giá
và đề xuất các giải pháp trong tiến hành công tác KT, GS của các đảng uỷ hệ,
tiểu đoàn quản lý học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay.
Ngoài ra còn có một số công trình tiêu biểu như: “Nâng cao chất
lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra huyện
ủy ở các tỉnh duyên hải miền trung hiện nay”, Nguyễn Thế Tư, Luận án tiến
sỹ khoa học chính trị, Chuyên ngành Xây dựng đảng, năm 2004. “Công tác
kiểm tra của Thành ủy Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Lê Tiến Hào, Luận
án tiến sỹ khoa học chính trị chuyên ngành Xây dựng đảng năm 2004.“Công
tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay
theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nguyễn Hoàng Minh, Luận văn Thạc sỹ khoa
học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học năm 2011.
7
Từ các góc độ nghiên cứu và cách tiếp cận, các công trình, đề tài khoa học
trên đã tập trung phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn; đề xuất các giải pháp
chủ yếu về công tác KT, GS của các TCCSĐ nói chung, công tác KTĐV, TCĐ
khi có DHVP nói riêng, đây là tư liệu, tài liệu quý để tác giả nghiên cứu kế thừa
có chọn lọc trong thực hiện đề tài. Tuy nhiên đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu, luận giải một cách có hệ thống, sâu sắc về vấn đề nâng cao chất lượng
công tác KTĐV, TCĐ khi có DHVP của UBKT Thành uỷ Hải Phòng. Vì vậy đề
tài mà tác giả đã chọn nghiên cứu không trùng lắp với bất kỳ công trình khoa học,
các đề tài luận văn, luận án đã được công bố.
*Nhóm công trình nghiên cứu về công tác của ủy ban kiểm tra và
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân ưu điểm, hạn chế,
khuyết điểm và rút ra một số kinh nghiệm trong triển khai thực hiện các nội
dung công tác KTĐV, TCĐ có DHVP của UBKT các cấp thuộc Đảng bộ
thành phố Hải Phòng.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường nâng cao
chất lượng KTĐV, TCĐ có DHVP của UBKT các cấp thuộc Đảng bộ thành
phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng công tác KTĐV, TCĐ có DHVP của
UBKT các cấp thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu, khảo sát thực tế hoạt động lãnh đạo,
chỉ đạo và tổ chức tiến hành công tác KTĐV, TCĐ có DHVP của UBKT các
cấp thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng. Các tư liệu, số liệu, điều tra, khảo sát
chủ yếu từ tháng 11/2010 đến tháng 11/2014.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận của đề tài: Là hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định
của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Thành ủy Hải Phòng;
hướng dẫn của UBKT Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
công tác KT, GS và kỷ luật Đảng và về KTĐV, TCĐ có DHVP nói riêng.
- Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công
tác KTĐV, TCĐ có DHVP của UBKT các cấp thuộc Đảng bộ Thành phố Hải
Phòng. Các báo cáo tổng kết công tác XDĐ, công tác KT, GS, các số liệu điều
tra, khảo sát của tác giả tại UBKT các cấp tại Đảng bộ thành phố Hải Phòng
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành, chú trọng các phương pháp:
bộ thành phố Hải Phòng
1.1.1. Ủy ban kiểm tra các cấp và công tác kiểm tra đảng viên, tổ
chức đảng có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra các cấp thuộc Đảng bộ
thành phố Hải Phòng
* Khái quát về thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái
Bình thuộc đồng bằng sông Hồng, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh,
phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía
Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch
Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình. Diện tích tự nhiên là
1.507,57 km2, Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người,
trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là
thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại 1 cấp
quốc gia gồm 7 quận, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo với 223 xã,
phường và thị trấn. Hải Phòng có cảng biển lớn nhất ở Miền Bắc, một đầu
mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng
không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các
tỉnh phía Bắc; trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam Trung Quốc. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng châu thổ sông
Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế
động lực phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong
13
những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước
(Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ).
Hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, mục tiêu của Chiến lược là đến
năm 2020 đưa Hải Phòng phát triển nhanh, bền vững, để cơ bản trở thành thành
phố công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu này, định hướng
trong thời gian tới là tập trung huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh
2015) sinh hoạt tại 35 đảng bộ trực thuộc Thành uỷ gồm 15 đảng bộ quận, huyện;
02 đảng bộ khối; 11 đảng bộ cấp trên cơ sở; 7 đảng bộ cơ sở (trong đó có 04 đảng
bộ được giao quyền cấp trên cơ sở); 1442 TCCSĐ (đảng bộ cơ sở là 585, chi bộ
cơ sở là 857); 6254 TCĐ trực thuộc đảng bộ cơ sở. Tổng số uỷ viên Thành uỷ là
55 đồng chí, cán bộ thuộc diện Thành uỷ quản lý có 420 đồng chí.
UBKT các cấp được tổ chức từ đảng ủy cơ sở trở lên theo hệ thống dọc
từ trên xuống gồm: UBKT Thành ủy (gồm 11 thành viên), UBKT quận
(huyện) ủy, đảng ủy khối, đảng ủy cấp trên cơ sở (gồm 35 UBKT với 175
thành viên) và 585 UBKT đảng ủy cơ sở với 1775 thành viên; Đồng chí chủ
nhiệm UBKT là Thường vụ cấp ủy cùng cấp, đồng chí phó chủ nhiệm thường
trực là cấp ủy viên cùng cấp (Phụ lục số 1).
Chức năng của UBKT các cấp theo Điều lệ Đảng gồm:
Nghiên cứu đề xuất với cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác KT, GS đối
với các tổ chức đảng trực thuộc; Giúp cấp ủy cùng cấp chỉ đạo, hướng dẫn
cấp ủy, UBKT cấp dưới về công tác KT, GS; Thực hiện KT, GS đảng viên,
TCĐ theo điều 32 Điều lệ Đảng.
Nhiệm vụ của UBKT các cấp được xác định theo điều 32 Điều lệ
Đảng:
KTĐV, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có DHVP tiêu chuẩn đảng viên,
tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
Kiểm tra TCĐ cấp dưới khi có DHVP trong việc chấp hành Cương lĩnh
chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của
Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng.
Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và
TCĐ cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị
quyết của các cấp ủy và đạo đức lối sống theo quy định của BCH Trung ương.
Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc
đề nghị cấp uỷ thi hành kỷ luật.
Giải quyết tố cáo đối với TCĐ và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng.
15
với cấp ủy chương trình, kế hoạch, kết quả thực hiện nhiệm vụ KT, GS, kỷ
luật đảng và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của cấp ủy
16
về công tác KT, GS, kỷ luật đảng, về quy chế làm việc của UBKT và các
nhiệm vụ do cấp ủy (BTV) giao; chịu sự KT, GS của cấp ủy (BTV) .
Với ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp: Ủy ban kiểm tra làm việc dưới
sự chỉ đạo, hướng dẫn, KT, GS của UBKT cấp trên về phương hướng, nhiệm
vụ, nghiệp vụ công tác KT, GS và thi hành kỷ luật trong Đảng. Chịu sự đôn
đốc, KT, GS của UBKT cấp trên về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBKT
theo quy định của Điều lệ Đảng. Khi cần thiết, UBKT cấp trên trực tiếp chỉ đạo
giải quyết một số vấn đề cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác KT, GS
và thi hành kỷ luật trong Đảng của UBKT cấp dưới. Phối hợp với ban tổ chức
của cấp ủy cùng cấp và cấp ủy cấp dưới chuẩn bị nhân sự UBKT theo hướng
dẫn của UBKT cấp trên; giúp cấp ủy ban hành quy chế làm việc của UBKT;
kiện toàn cơ quan UBKT.
* Công tác KTĐV, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm kỷ luật.
- Quan niệm.
Kiểm tra TCĐ cấp dưới và đảng viên có DHVP là một trong những
nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm của UBKT các cấp được quy định tại Điều
lệ Đảng, nhằm xem xét, kết luận đảng viên, TCĐ vi phạm (nếu có) tiêu chuẩn
đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; trong việc
chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, kết luận,
các nguyên tắc tổ chức của Đảng và Pháp luật của Nhà nước (đối với TCĐ);
xử lý kịp thời nếu có vi phạm đến mức phải xử lý.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác KT, GS và quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo công tác KTĐV, TCĐ có DHVP. Ngày 06-3-1956, Bộ Chính trị có
Ban Kiểm tra là: "Xem xét tư cách và cách làm việc của các đảng viên, chống
nạn quan liêu, hủ hoá, lạm dụng chức vụ..." [57, tr.16]. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III của Đảng (ban kiểm tra được gọi là UBKT) quy định nhiệm vụ
của UBKT là: "Kiểm tra những vụ đảng viên làm trái Điều lệ, kỷ luật của
Đảng, trái với đạo đức cách mạng và pháp luật của Nhà nước..." [25, tr.19].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng quy định: "Kiểm tra đảng viên
(kể cả cấp uỷ viên cùng cấp) chấp hành Điều lệ Đảng, nhằm vào việc chấp
hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, chấp hành kỷ luật của Đảng và
pháp luật Nhà nước, tư cách đảng viên..." [28, tr.27].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng quy định: "Kiểm tra
những vụ đảng viên (kể cả cấp uỷ viên cùng cấp) vi phạm Điều lệ Đảng, nhằm
18
vào những vụ vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, vi phạm kỷ luật
của Đảng và pháp luật Nhà nước, tư cách đảng viên..."[28, tr.24]. Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng quy định: "KTĐV (kể cả cấp uỷ viên cùng
cấp) chấp hành Điều lệ Đảng, nhằm vào việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt Đảng, chấp hành kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước, tư cách
đảng viên" [28, tr.24]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng quy
định: "KTĐV (kể cả cấp uỷ viên cùng cấp) chấp hành nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt Đảng, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng của đảng viên" [29,
tr.15]. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đến Đại hội lần thứ XI của
Đảng quy định: "KTĐV, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp khi có DHVP tiêu chuẩn
đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên"
[30, tr.15]
Như vậy, từ khi Ban Kiểm tra Trung ương (sau này là UBKT) được
thành lập đến nay, đều có nhiệm vụ điều tra, xem xét hoặc KTĐV. Nhiệm vụ
của UBKT các cấp về KTĐV luôn được Đảng ta bổ sung, sửa đổi để đáp ứng
với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Từ Đại hội VIII của Đảng đến
đảng viên hoặc nhằm phân tích chất lượng của tổ chức đảng, đảng viên. Kiểm
tra khi có dấu hiệu vi phạm chỉ được tiến hành kiểm tra khi đã phát hiện, có
cơ sở xác định có dấu hiệu vi phạm, nội dung kiểm tra theo nội dung phát
hiện dấu hiệu vi phạm, cụ thể hơn nội dung kiểm tra chấp hành; qua kiểm tra,
kết luận tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm hay không có vi phạm, vi phạm
đến mức phải xử lý hay không đến mức phải xử lý.
Mục đích KTĐV, TCĐ có DHVP nhằm ngăn chặn kịp thời, không để
khuyết điểm trở thành vi phạm lớn, vi phạm ít nghiêm trọng trở thành nghiêm
trọng, vi phạm của một người trở thành vi phạm của nhiều người.
Chủ thể kiểm tra ĐV, TCĐ cấp dưới khi có DHVP là UBKT các cấp ở
Đảng bộ Thành phố Hải Phòng; khi cần thiết, cấp ủy kiểm tra.
Đối tượng kiểm tra ĐV dưới khi có DHVP: Đảng viên khi có dấu hiệu vi
phạm, trước hết là cấp uỷ viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ
cùng cấp quản lý; khi cần thiết kiểm tra đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới
quản lý.
Đối tượng kiểm tra TCĐ cấp dưới khi có DHVP: Tổ chức đảng cấp dưới
là đối tượng kiểm tra của uỷ ban kiểm tra gồm tổ chức đảng do cấp uỷ, ban
thường vụ cấp uỷ cùng cấp lập ra và cấp uỷ, tổ chức đảng thuộc phạm vi lãnh
đạo, quản lý của cấp uỷ cùng cấp; trước hết là cấp dưới trực tiếp, khi cần thiết thì
20
kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới cách nhiều cấp. Khi kiểm tra tổ chức đảng cấp
dưới khi có dấu hiệu vi phạm có thể kết hợp kiểm tra đảng viên là thành viên của
tổ chức đảng đó.
Lực lượng tham gia: cấp ủy TCĐ các cấp, cán bộ, đảng viên, các cơ quan
ban ngành của cấp ủy, UBND các cấp và các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội.
Nội dung kiểm tra TCĐ cấp dưới khi có DHVP:
Đối với đảng viên có biểu hiện không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng quy định về thực hiện nhiệm vụ đảng viên (quy định tại Điều 2 của Điều
quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định cho chặt chẽ, đầy đủ, phù hợp
với tình hình thực tế.
Căn cứ, phương pháp phát hiện dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng
cấp dưới và đảng viên.
Căn cứ phát hiện dấu hiệu vi phạm:
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp ủy, tổ chức đảng, uỷ ban
kiểm tra, chi bộ; chương trình, kế hoạch công tác năm của cấp ủy, tổ chức
đảng, ủy ban kiểm tra và các đơn vị trong cơ quan uỷ ban kiểm tra (đối với
cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương). Chức
trách, nhiệm vụ của cấp ủy viên, thành viên của tổ chức đảng, thành viên uỷ
ban kiểm tra được phân công phụ trách, của cán bộ kiểm tra được phân công
theo dõi lĩnh vực, địa bàn.
Quy định của Bộ Chính trị, cấp ủy các cấp về phân cấp quản lý cán bộ.
Các thông tin, tài liệu, báo cáo, phản ánh về dấu hiệu vi phạm của tổ chức
đảng cấp dưới và đảng viên được thu thập, phát hiện từ các nguồn sau: Báo
cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, kiểm toán, kiểm
điểm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể chính trị - xã hội. Báo cáo tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng
và đảng viên; báo cáo kết quả bình xét, phân tích chất lượng đảng viên, tổ
chức đảng.Báo cáo, kiến nghị của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới; tố cáo,
khiếu nại, kiến nghị, phản ảnh, góp ý của đảng viên và quần chúng. Kết quả
khảo sát, thăm dò, thống kê, phân tích, tổng hợp dấu hiệu vi phạm đối với cấp
ủy, tổ chức đảng và đảng viên của ủy ban kiểm tra các cấp. Phản ánh của các
phương tiện thông tin đại chúng đã qua khảo sát, nắm tình hình bước đầu và
các nguồn thông tin khác
22
Phương pháp phát hiện dấu hiệu vi phạm: Cấp ủy viên, thành viên tổ
sở nhưng đối tượng vi phạm chưa rõ thì căn cứ vào các quy định hiện hành
của Đảng và Nhà nước để xác định, làm rõ đối tượng có dấu hiệu vi phạm.
Phương pháp xác định dấu hiệu vi phạm: Cán bộ kiểm tra được phân
công theo dõi lĩnh vực, địa bàn căn cứ các thông tin, tài liệu, hiện vật về
DHVP của TCĐ cấp dưới và đảng viên đã phát hiện và nhận được để tiến
hành phân tích, sàng lọc, phân loại, tổng hợp những thông tin có đủ căn cứ, cơ
sở, điều kiện xác định DHVP. Đối chiếu nội dung thông tin, tài liệu, hiện vật
về DHVP đã phát hiện với các quy định cụ thể của Đảng, Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có liên quan trực tiếp đến đối tượng
và nội dung DHVP. Xây dựng và báo cáo đề xuất việc kiểm tra khi có DHVP
trình thường trực UBKT hoặc UBKT xem xét, quyết định kiểm tra hay không
kiểm tra (đối với cấp huyện và tương đương trở xuống).
- Điều kiện quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
Báo cáo đề xuất quyết định kiểm tra của cán bộ kiểm tra (đối với cấp
huyện và tương đương trở xuống), của vụ (thuộc Cơ quan UBKT Trung
ương) hoặc phòng (thuộc cơ quan UBKT cấp tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực
thuộc Trung ương) hoặc do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ban thường vụ, thường
trực cấp ủy giao UBKT cùng cấp có đủ cơ sở để xác định cấp ủy, TCĐ cấp dưới,
đảng viên có DHVP và các tài liệu liên quan.
Việc phát hiện, xác định DHVP của TCĐ cấp dưới hoặc đảng viên bảo
đảm đúng nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình, thủ tục theo quy định của Đảng.
Các quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị - xã hội, quy định của cơ quan, đơn vị còn hiệu lực thi hành tại thời
điểm TCĐ cấp dưới hoặc đảng viên thực hiện hành vi vi phạm quy định đó.
Tình hình cụ thể về hoạt động, sinh hoạt của TCĐ, đảng viên dự kiến được
kiểm tra và tình hình, điều kiện thực tế của UBKT, năng lực cán bộ kiểm tra.
- Thẩm quyền quyết định kiểm tra khi có DHVP của UBKT các cấp ở
Đảng bộ thành phố Hải phòng
24
25