1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm (DHVP) có tác
dụng quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; ngăn ngừa, phát hiện các khuyết
điểm, sai phạm và kịp thời xử lý những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng,
nhằm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Đồng thời, giúp tổ chức đảng
quản lý đảng viên thấy rõ vai trò, trách nhiệm trong việc quản lý, giáo dục và
kiểm tra đảng viên. Đây là vấn đề quan trọng, cấp thiết của Đảng ta hiện nay.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V trở về trước dù tên gọi có khác nhau nhưng
chủ yếu vẫn là kiểm tra đảng viên vi phạm. Đến Đại hội VI, Đại hội VII qui định cho Ủy
ban Kiểm tra (UBKT) các cấp kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng. Trước những
hạn chế, tính hiệu quả không cao của kiểm tra đảng viên chấp hành, Đại hội VIII, Đại hội
IX của Đảng lại qui định cho UBKT các cấp có nhiệm vụ: "Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp
ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và
trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên" [20, tr. 45], gọi tắt là kiểm tra đảng viên khi có
DHVP.
Mặc dù đây là vấn đề mới được tổ chức thực hiện từ Đại hội VIII
(6-1996), nhưng trong những năm qua, các UBKT huyện ủy ở các tỉnh
Duyên hải miền Trung (DHMT) đã quán triệt, bám sát quy định của Điều lệ
Đảng, sự hướng dẫn của UBKT Trung ương, nên đã thu được kết quả bước
đầu đáng khích lệ; góp phần giáo dục, ngăn chặn kịp thời các DHVP Điều lệ
Đảng,
chủ trương, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở một bộ phận
đảng viên trên địa bàn. Những kết quả trên có tác động rất lớn đến việc
nâng cao chất lượng đảng viên, giữ vững nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng
và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các đảng bộ huyện ở các
tỉnh DHMT.
Kiểm tra, số 9/2003; Đỗ Hùng Cường: Kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm, Tạp chí
Kiểm tra, số 3/2003; Hồng Phúc Lập: Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đã là
vấn đề cấp bách chưa? Tạp chí Kiểm tra, số 5/2004.
Nhìn chung, các công trình khoa học này, các tác giả đã đưa ra những quan niệm
của mình về khái niệm DHVP và phân tích luận giải, đối chứng với khái niệm vi phạm.
Hai vấn đề này tuy có khác nhau nhưng liên quan chặt chẽ với nhau. Các tác giả còn phân
5
tích làm rõ tính chủ động và tiêu chí đánh giá trong công tác kiểm tra đảng viên khi có
DHVP, xác định những căn cứ để nắm thông tin, nhận diện DHVP. Từ thực tiễn hoạt động
của UBKT các cấp, một số tác giả rút ra những kinh nghiệm, giải pháp, kiến nghị để nâng
cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP. Đây là những ý tưởng, kênh kiến thức
chính liên quan trực tiếp đến nội dung của luận án đề cập.
Loại vấn đề thứ ba, các tác giả đi sâu nghiên cứu phương pháp thẩm tra, xác
minh - phương pháp cơ bản quyết định đến chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP.
Chẳng hạn, Vĩnh Lộc: Tìm chứng cứ trong khâu thẩm tra, xác minh, Tạp chí
Kiểm tra, số 2/2000; Việt Đông: Vài suy nghĩ về hoạt động thẩm tra, xác minh, Tạp chí
Kiểm tra, số 2/2001; Phạm Thị Ngạn: Mấy vấn đề tâm lý trong công tác thẩm tra, xác
minh, Tạp chí Kiểm tra, số 7/2002; Nguyễn Anh Liên: Một số vấn đề lý luận nghiệp vụ
thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng, đăng tải nhiều kỳ ở Tạp chí Kiểm
tra, (số 1/2001, số 2/2001, số 5/2003). Đi sâu hơn vấn đề này có đề tài khoa học cấp ngành
do Nguyễn Anh Liên làm chủ nhiệm: Cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới và nâng cao hiệu
quả thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng (mã số KHBĐ 0015), Hà Nội,
2000 - 2001. Điểm thành công của đề tài đã làm rõ các khái niệm, nhất là khái niệm thẩm
tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng. Từ đó đề xuất các giải pháp, quy trình để
nâng cao chất lượng thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng. Nội dung của
các công trình này tuy bàn về một vấn đề cụ thể, nhưng giúp tác giả luận án tham khảo, để
nâng cao chất lượng luận án.
Loại vấn đề thứ năm, chủ yếu các chuyên luận đề cập đến vai trò, tính tất yếu, nội
dung, cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành có liên quan, tạo điều kiện cho UBKT các cấp
hoàn thành nhiệm vụ như: Hoàng Kim Sơn: Một vài suy nghĩ về sự phối hợp giữa Ủy ban
Kiểm tra của Đảng và Thanh tra Nhà nước, Tạp chí Kiểm tra, số 9/1997; Hà Mạnh Trí:
Tăng cường sự phối hợp giữa công tác kiểm tra của Đảng và công tác kiểm sát của ngành
kiểm sát nhân dân, Tạp chí Kiểm tra, số 10/1998; Việt Hà: Một số ý kiến về sự phối hợp
giữa Thanh tra Nhà nước và Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Tạp chí Thanh tra, số
1+2/2002; Bùi Thế Sảng: Sự phối, kết hợp công tác giữa Thanh tra Nhà nước với kiểm tra
Đảng, Tạp chí Kiểm tra, số 8/2002; Lê Văn Giảng: Mấy suy nghĩ về mối quan hệ giữa
kiểm tra Đảng và Thanh tra Nhà nước, Tạp chí Thanh tra, số 7/2003; Trần Đình Hoan:
7
Tăng cường mối quan hệ giữa công tác tổ chức cán bộ với công tác kiểm tra trong xây
dựng Đảng hiện nay, Tạp chí Kiểm tra, số 10/2003.
Song, nhìn chung chưa có tác giả và công trình khoa học nào thực sự nghiên cứu
về vấn đề nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP của UBKT huyện ủy
trong cả nước nói chung, ở các tỉnh DHMT nói riêng. Do đó, sẽ là những ý tưởng, gợi mở
cho tác giả tiến hành nghiên cứu vấn đề trên một cách có hệ thống, toàn diện.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích:
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng
kiểm tra đảng viên khi có DHVP của các UBKT huyện ủy ở các tỉnh Duyên hải miền
Trung. Trên cơ sở đó đề xuất những mục tiêu, phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP ở địa bàn có vị trí quan trọng và đặc
thù này.
- Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng và công tác kiểm tra
của Đảng. Đồng thời, luận án quan tâm tham khảo các công trình khoa học của các nhà
khoa học, các tác giả hoạt động thực tiễn đã được công bố liên quan đến đề tài. Cơ sở
thực tiễn là thực trạng công tác kiểm tra của các UBKT huyện ủy ở các tỉnh DHMT từ
năm 1996 đến nay.
- Phương pháp nghiên cứu
+ Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, trong đó bao gồm phương pháp lịch sử - lôgíc, phương pháp phân tích - tổng hợp,
phương pháp quy nạp và diễn dịch.
+ Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn trên cơ sở thực trạng, kết quả, số liệu, trực
tiếp trao đổi, đàm thoại. Đặc biệt, luận án còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để
khái quát, tổng kết.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án đưa ra khái niệm kiểm tra đảng viên khi có DHVP, làm rõ quan niệm, tiêu chí
đánh giá về nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi
có DHVP.
- Phân tích làm rõ những đặc điểm của chủ thể và đối tượng kiểm tra trên địa bàn DHMT.
9
- Bước đầu rút ra những kinh nghiệm về công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP của các
UBKT huyện ủy ở các tỉnh DHMT thời kỳ 1996 - 2003.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên
khi có DHVP của các UBKT huyện ủy ở các tỉnh DHMT, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu và giảng dạy môn xây dựng Đảng trong hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
viên vi phạm kỷ luật đảng là hành vi không chấp hành đầy đủ hoặc làm trái
quy định của Đảng.
- Dấu hiệu vi phạm: Đây là khái niệm ghép của hai khái niệm dấu
hiệu và vi phạm. Theo tác giả luận án, DHVP được hiểu là hành vi có thể đã,
đang làm sai, trái hoặc không tuân theo những quy định.
Từ các khái niệm liên quan trên, tác giả luận án đưa ra khái niệm kiểm tra đảng
viên khi có DHVP như sau: Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm là hoạt động
kiểm tra của các tổ chức đảng có thẩm quyền để tiến hành xem xét, thẩm tra, xác minh,
nhằm xác định đảng viên có hay không có vi phạm các quy định của Điều lệ Đảng do các
tổ chức hoặc cá nhân phát hiện.
Như vậy, khái niệm kiểm tra đảng viên khi có DHVP, nội hàm của nó được thể
hiện ở các nội dung sau:
- Xác định chủ thể và đối tượng kiểm tra.
+ Chủ thể kiểm tra bao gồm những tổ chức đảng có thẩm quyền sau đây: Cấp ủy,
UBKT, chi bộ, nhưng trong đó ở cấp huyện thì UBKT huyện ủy là chủ thể kiểm tra trực
tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng mà luận án đã
xác định ở mục đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Đương nhiên chủ thể cấp ủy, chi bộ tuy có
liên quan đến UBKT, kiểm tra đảng viên khi có DHVP nhưng không phải là chủ thể của
11
trung tâm luận án đề cập.
+ Đối tượng kiểm tra: Là những đảng viên khi có DHVP. Thông tư số 19TT/KT
ngày 26-11-1996 của UBKT Trung ương hướng dẫn "Ủy ban Kiểm tra các cấp, kể cả ủy
ban kiểm tra của Đảng ủy cơ sở chỉ kiểm tra những đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm"
[102, tr. 8].
- Nội dung vi phạm (vi phạm cái gì).
Trong điểm 1, Điều 32 Điều lệ Đảng khóa IX xác định UBKT các cấp có nhiệm vụ:
Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng
được mức độ vi phạm, hoặc chưa vi phạm để xem xét, kết luận chính xác các DHVP.
Kiểm tra khi có DHVP không có nghĩa là đảng viên hoặc tổ chức đảng được
kiểm tra đã có vi phạm [33, tr. 24]. Do vậy, nếu tuyệt đối hóa đảng viên khi có DHVP
(hiện tượng) chưa có vi phạm gì, hoặc đã hoàn toàn vi phạm đều không chính xác. Vì vậy,
DHVP của đảng viên được biểu hiện ở các mức khác nhau: Có thể mới dừng lại ở khuyết
điểm, vi phạm ít nghiêm trọng, vi phạm nghiêm trọng, vi phạm đặc biệt nghiêm trọng... và
cũng có thể qua kiểm tra kết luận không có vi phạm. Hoặc mức độ của DHVP có thể mới
manh nha, khởi phát nhưng cũng có thể DHVP đó tiềm ẩn chiều hướng sẽ dẫn tới vi
phạm, thậm chí đã vi phạm. Về thời gian biểu hiện, DHVP có thể mới xảy ra hoặc xảy ra
từ lâu nay mới bộc lộ qua hiện tượng.
Thực tế cho thấy, do một số tổ chức đảng buông lỏng giáo dục, quản lý, kiểm tra
đảng viên, thậm chí né tránh ngại va chạm, nên các DHVP của đảng viên chậm được phát
hiện, dẫn tới vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước mới tiến hành kiểm
tra. Chính vì vậy, UBKT Trung ương đã hướng dẫn, chỉ đạo UBKT các cấp là đảng viên
khi có DHVP phải chủ động tiến hành kiểm tra ngay, không để chậm trễ kéo dài, gây tác
động xấu đến nội bộ đảng và xã hội. Theo chúng tôi, cụm từ "khi có" nó vừa thể hiện mức
độ DHVP mới dừng lại ở hiện tượng, khuyết điểm, vừa chỉ về mặt thời gian mới bộc lộ
chứ không phải xảy ra đã lâu. Bởi vậy đặt ra cho UBKT các cấp tính chủ động, kịp thời khi
phát hiện DHVP phải tổ chức tiến hành kiểm tra.
Tựu trung lại, đảng viên khi có DHVP cần được hiểu theo ba bình diện sau:
Thứ nhất, qua kiểm tra kết luận đảng viên không có vi phạm.
Thứ hai, DHVP của đảng viên tồn nghi trong nhiều năm, không có cơ sở thẩm
tra, xác minh để xem xét, kết luận làm rõ đúng, sai.
13
Thứ ba, qua kiểm tra kết luận đảng viên có vi phạm và mức độ vi phạm đã được
phân tích ở trên.
- Dù mức độ dấu hiệu vi phạm biểu hiện có khác nhau nhưng phải thông qua
bản về chính đảng cộng sản. Ngay từ năm 1847, hai ông đã chủ trương thành lập một
chính đảng độc lập. Tư tưởng đó bắt nguồn từ luận điểm khoa học về vai trò sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện sứ mệnh lịch sử của
mình khi nó có một chính đảng cách mạng độc lập lãnh đạo. Đó là điều kiện tiên quyết, là
yếu tố đảm bảo cho cách mạng xã hội thắng lợi và thực hiện được mục đích của nó là xóa
bỏ giai cấp, để giải phóng loài người khỏi ách áp bức bóc lột, xây dựng một xã hội cộng
sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội XHCN.
Dưới sự chỉ đạo của C. Mác, Ph. Ăngghen, Điều lệ Đồng minh những người cộng
sản đã được khởi thảo, trong đó thể hiện rõ những tư tưởng cơ bản về tổ chức xây dựng
đảng. Điểm then chốt mà hai ông đã khẳng định là: Đảng phải là một đội ngũ có tổ chức
tập trung chặt chẽ, các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải được bầu cử một cách dân chủ và
họ có thể bị bãi miễn bất kỳ lúc nào nếu họ không hoàn thành được nhiệm vụ của tổ chức
giao cho; đảng phải là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Chính vì lẽ
đó mà
C. Mác, Ph. Ăngghen đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và các biểu hiện vi
phạm kỷ luật đảng. C.Mác đã thấy rõ sự cần thiết phải duy trì kỷ luật đảng, nếu không mọi
thứ sẽ mất hết. Như vậy, hai ông luôn đòi hỏi cao ở một chính đảng cách mạng là phải
luôn giữ vững nguyên tắc hoạt động, có sự thống nhất và kỷ luật nghiêm minh. Một chính
đảng như vậy tất yếu phải có đội ngũ đảng viên tiên phong cả về lý luận và hành động
thực tiễn. Bởi đảng viên là nhân tố cơ bản hợp thành tổ chức đảng. Nhưng tổ chức đảng
chỉ tồn tại khi xác định nhiệm vụ chính trị đúng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị có
hiệu quả. Do đó, trong quá trình lãnh đạo và xây dựng nội bộ đảng, tất yếu Đảng Cộng sản
cầm quyền phải tiến hành hoạt động kiểm tra. Không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra thực
hiện đường lối, quan điểm, mà còn kiểm tra đội ngũ đảng viên của Đảng trong việc thực
hiện vai trò là chiến sĩ tiên phong, phấn đấu rèn luyện theo mục tiêu lý tưởng của Đảng.
Hoạt động có ý thức của con người và của tổ chức trong xã hội là hoạt động có
mục đích. Chính hoạt động có ý thức đó đã hàm chứa trong đó yếu tố tự điều chỉnh, tự
kiểm tra. Khi con người biết lao động một cách có ý thức là đã xuất hiện yêu cầu tất yếu là
vi phạm kỷ luật đảng nghiêm trọng hơn.
16
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên đối với công tác xây dựng Đảng nói chung,
công tác kiểm tra nói riêng, Người đã dành sự quan tâm đặc biệt. Bởi "Đảng có vững, cách
mệnh mới thành công" [50, tr. 268]. Những chỉ dẫn sâu sắc, những lời khuyên chân tình,
những ý kiến nhắc nhở phê bình nghiêm khắc của Hồ Chí Minh đều nhằm mục đích xây
dựng Đảng ta thật trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Căn bệnh quan liêu độc đoán, chuyên quyền, xa rời nhân dân, đặc quyền, đặc lợi,
tham nhũng, lãng phí… là nguy cơ có thể xảy ra đối với đảng cầm quyền. Do đó, Người
luôn nhắc nhở Đảng phải đề phòng và có biện pháp ngăn ngừa nguy cơ ấy. Người coi đó
là thứ giặc "nội xâm", là kẻ thù bên trong luôn tìm mọi cách để phá vỡ kỷ cương, làm tha
hóa biến chất một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm suy giảm uy tín và sức mạnh của Đảng,
Nhà nước ta. Trước các tệ nạn này, Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu sự phối kết hợp đấu
tranh giữa các tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể nhân dân, mà còn phải củng cố kỷ luật
của Đảng, pháp luật nhà nước, xét xử kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi
phạm. Người luôn luôn coi công tác kiểm tra là một nội dung lãnh đạo, một khâu rất quan
trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng. Trong tác phẩm "Một việc mà các cơ quan lãnh
đạo cần thực hành ngay", viết năm 1948, Người khẳng định: "Khi đã có chính sách đúng,
thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa
chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô
ích" [51, tr. 520]. Hơn nữa, theo Hồ Chí Minh, "có kiểm tra mới huy động được tinh thần
tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ,
mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời" [51, tr. 520]. Thực tiễn cho thấy, nếu buông lỏng, chậm trễ
trong công tác kiểm tra sẽ dẫn tới "cộng nhiều khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm to,
sẽ rất có hại" [51, tr. 232]. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh chưa nói đến cụm từ khi có
DHVP, nhưng chúng ta đi sâu phân tích, xem xét cách biểu đạt của Người thông qua ngôn
Qua hơn tám năm thực hiện quy định này với những kết quả đạt được của ngành kiểm tra
Đảng khẳng định đây là bước tiến về nhận thức lý luận trong công tác kiểm tra của Đảng,
làm cơ sở định hướng cho những nhiệm kỳ Đại hội Đảng tiếp theo.
Vì sao kiểm tra đảng viên là một tất yếu khách quan trong xây dựng nội bộ Đảng
Thực tiễn và các quan hệ xã hội luôn luôn vận động và phát triển theo quy luật khách
quan. Trong khi đó nhận thức của con người là một quá trình. Con đường nhận thức
18
chân lý khách quan của con người đi từ hiện tượng đến bản chất. Dù ý định của con
người được tính toán cân nhắc kỹ tới mấy, chắc chắn vẫn có những sơ hở, khiếm khuyết.
Nhận thức của đội ngũ đảng viên vẫn không nằm ngoài quy luật chung đó. Trong đội
ngũ đảng viên, bên cạnh số đông là những người tiên tiến, có giác ngộ lý tưởng cách
mạng, nhận thức được quy luật của thực tiễn cách mạng, thì vẫn còn một số đảng viên
do nhận thức chưa đầy đủ các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
nên cũng dễ mắc phải sai lầm, khuyết điểm. Song, ngay cả những đảng viên hội đủ sự
nhiệt tình, năng nổ và tính trách nhiệm cao cũng có khi thất bại, thậm chí vi phạm các
quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước khi ở họ mong muốn sự thể nghiệm những ý
tưởng, việc làm vượt quá những điều kiện vật chất cho phép. Nhận thức của đảng viên
đúng hay sai sẽ ảnh hưởng đến năng lực tổ chức thực tiễn và hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ chính trị của mình.
Khi trở thành đảng cầm quyền, bình diện và quy mô lãnh đạo của Đảng mở rộng đa dạng,
phong phú và phức tạp. Sự vận động, biến đổi của xã hội theo hướng phát triển, tiến bộ,
theo đó mà yêu cầu của nhiệm vụ chính trị cũng có sự thay đổi cho phù hợp với từng giai
đoạn lịch sử cụ thể. Trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ chính trị chủ yếu nổi lên
là làm sao đập tan chế độ thực dân phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, con người
được giải phóng, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột. Còn trong cách mạng XHCN, nhất là thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH thì yêu cầu nhiệm vụ chính trị càng nặng nề, phức tạp hơn,
nhiều vấn đề mới đặt ra cho chủ thể lãnh đạo, đội ngũ đảng viên phải giải quyết. Cơ chế
Thực tế vừa qua cho thấy, có những đảng viên là giám đốc với bản lĩnh, tinh thần trách
nhiệm cao nhưng do nôn nóng muốn thể nghiệm ý tưởng mới, nhưng chưa được chuẩn bị
kỹ các điều kiện vật chất cần thiết nên đã thất bại trong việc hiện thực hóa chủ trương đó,
và phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước về lỗi sai phạm của mình. Vì vậy, phải
tăng cường kiểm tra để ngăn chặn các sai phạm có thể xảy ra ở một bộ phận đảng viên đó.
Đương nhiên, chủ động kiểm tra để ngăn chặn sai phạm của đảng viên, nhưng phải biết
khích lệ cái đúng, cái tiên tiến. Bởi vì, cái mới, cái tiên tiến xuất hiện chưa dễ gì được mọi
người chấp nhận ngay. Cần bảo vệ, nuôi dưỡng tư tưởng tiên tiến dù còn manh nha, nhưng
đó là tố chất góp phần tạo nên sự đúng đắn của các chủ trương, nghị quyết của Đảng.
Từ các vấn đề phân tích trên cho thấy, do những tác động khách quan, nếu cán bộ, đảng
20
viên hạn chế về nhận thức, thiếu tu dưỡng, rèn luyện thì rất dễ dẫn tới các khuyết điểm, sai
phạm. Do bị chế ước bởi các điều kiện về kinh tế, xã hội, tâm lý, quá trình phấn đấu rèn
luyện, nên nhận thức giác ngộ lý tưởng của đảng viên cũng khác nhau. Do đó, cũng dễ
hiểu khi trong Đảng đa số đảng viên toàn tâm, toàn ý phấn đấu cho sự nghiệp chung,
nhưng vẫn còn một bộ phận không nhỏ phai nhạt lý tưởng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân,
thoái hóa biến chất, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước. Để đội ngũ đảng viên
của Đảng luôn là những chiến sĩ tiên phong cả về nhận thức và hành động luôn là những
"công bộc" của dân thì đòi hỏi các cấp ủy đảng, UBKT phải luôn tăng cường kiểm tra.
Qua đó có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, giúp đảng viên ý thức rõ hơn trách nhiệm,
nghĩa vụ của người cộng sản.
Do đó, kiểm tra không chỉ là ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một tổ chức nào mà là tất
yếu khách quan, cần thiết đối với mỗi con người và tổ chức trong xã hội. Ý thức càng cao,
nhiệm vụ chính trị càng nặng nề, phức tạp càng đòi hỏi phải tăng cường công tác kiểm tra.
Đặc biệt, đối với tổ chức đảng, muốn làm tròn vai trò tiên phong đối với xã hội, để đảng
viên luôn là những nhân cách trong sáng thì phải thường xuyên coi trọng và làm tốt công
tác kiểm tra.
cấp công nhân của Đảng thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là hết sức cấp
bách. Có thể nói rằng, kiểm tra đảng viên khi có DHVP có vai trò to lớn tác động đến
công tác tổ chức, chấn chỉnh nâng cao chất lượng các mặt của đảng viên. Kiểm tra có tác
dụng giáo dục, kịp thời ngăn chặn khuyết điểm, sai phạm ở một bộ phận cán bộ, đảng
viên, nhằm giúp đảng viên có DHVP khắc phục khuyết điểm, phấn đấu rèn luyện tốt hơn.
Thực tế vừa qua cho thấy, ở đâu mà UBKT coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra thì ở đó
chất lượng các mặt của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng cao, kỷ luật, kỷ cương được
giữ vững; chi bộ, đảng bộ luôn trong sạch vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với
chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đương nhiên, có thể và không tránh khỏi
trong tổ chức đảng có một số rất ít đảng viên không xứng đáng, cá biệt có cả những phần tử
phản bội, sâu mọt nhưng tổ chức đảng vẫn mạnh. Nhưng nếu số đông đảng viên thoái hóa
biến chất về phẩm chất đạo đức, yếu kém về trình độ và năng lực thì Đảng sẽ suy yếu, chất
lượng lãnh đạo giảm sút, không làm tròn vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị.
UBKT các cấp làm tốt công tác kiểm tra sẽ góp phần giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên,
nhằm giúp đảng viên có DHVP trở về vị trí tiên phong của người lãnh đạo. Lý luận và thực
22
tiễn cho thấy, do thiếu kiên trì phấn đấu rèn luyện, nên sự tụt hậu, yếu kém, sai phạm ở một
bộ phận đảng viên là không tránh khỏi. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Bất cứ người lao động
nào dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới
không sai lầm mà thôi" [50, tr. 165], "có làm việc thì có sai lầm" [51, tr. 283].
Khi đảng viên có DHVP được UBKT, các tổ chức đảng, đảng viên chỉ rõ khuyết điểm thì
mới có hướng để khắc phục, sửa chữa. Do tự phê bình còn hạn chế, nên đảng viên cũng
khó có thể nhìn nhận chính xác các khuyết điểm, đánh giá đúng những tác hại do sai lầm
của bản thân gây ra. Coi nhẹ sự quản lý, kiểm tra của cấp ủy đảng, UBKT, sự giúp đỡ
chân tình, thân ái của các đảng viên trong chi bộ, sẽ làm cho đảng viên trượt dài theo các
sai phạm của mình. Thực chất kiểm tra cũng là một quá trình tác động, giáo dục, cảm hóa
đối với đảng viên có DHVP, để đảng viên tự giác sửa chữa khuyết điểm, gột rửa "vết nhọ"
dân đối với Đảng
Sức mạnh của Đảng chính là ở mối liên hệ máu thịt tự nhiên giữa Đảng với quần chúng.
Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất năng lực, gương mẫu trước quần
chúng sẽ tôn vinh uy tín của Đảng. Khi đảng viên quyết tâm khắc phục sửa chữa sai lầm,
khuyết điểm sẽ làm cho tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; mặt khác, quần chúng cũng
tin tưởng vào sự nghiêm minh, xử lý kịp thời của tổ chức đảng đối với những đảng viên
khi có DHVP. Đảng liên hệ, gắn bó máu thịt với quần chúng thông qua các kênh: đường
lối, chính sách, các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Trong các kênh đó, thì thông qua
đảng viên là kênh trực tiếp cơ bản. Đảng viên không chỉ là người tổ chức thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng mà còn là người vận động quần chúng nhân dân thực hiện các
chủ trương, chính sách, nghị quyết đó. Sự mẫu mực về nhân cách, thể hiện ở mỗi cử chỉ,
lời nói của đảng viên sẽ có tác động lan tỏa rất lớn đến quần chúng nhân dân. Ngược lại,
"đảng viên phạm sai lầm thì sẽ đưa quần chúng đến sai lầm" [55, tr. 289].
Thực tế cho thấy, ở địa phương này hay địa phương khác, số ít đảng viên thiếu gương mẫu về
đạo đức lối sống, thoái hóa, biến chất, tham nhũng, trù dập, ức hiếp quần chúng thì uy tín của
chi, đảng bộ đó đối với quần chúng không cao. Bất luận trong hoàn cảnh, điều kiện nào,
người cộng sản cũng phải luôn trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của
Đảng lên trên lợi ích cá nhân, thống nhất giữa nói và làm. "Không phải ta cứ viết lên trán chữ
"cộng sản" mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo
24
đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước" [51, tr.
552]. Có như vậy sự nêu gương của đảng viên mới lâu bền và được nhân dân tín nhiệm, đồng
lòng ủng hộ. Mục đích chính của kiểm tra là lấy giáo dục, phòng ngừa làm chính; nhưng đối
với những đảng viên đã có DHVP thì phải chủ động xem xét, kết luận làm rõ, không để dây
dưa kéo dài, từ một người liên quan đến nhiều người. Việc giải quyết dứt điểm, công minh,
chính xác, kịp thời các DHVP ở số ít đảng viên không chỉ giáo dục, uốn nắn, làm chuyển
biến nhận thức ở đối tượng được kiểm tra, mà còn làm cho tổ chức đảng và đảng viên
1.1.2.1. Nhóm nhân tố khách quan
+ Mặt trái của kinh tế thị trường tác động.
Lựa chọn kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng
XHCN là một quyết sách đúng đắn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của Đảng ta. Tuy nhiên, "cơ chế thị trường có những tác động tiêu cực
mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội" [14, tr. 26]. Cơ chế thị trường
trong bản chất của nó đã hàm chứa cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực. Kinh
tế thị trường về bản chất là hoạt động trên cơ sở quy luật giá trị, quy luật cạnh
tranh. Cơ chế thị trường đặt ra cho các chủ thể kinh tế phải luôn luôn quan
tâm và chạy đua với lợi nhuận, với cạnh tranh và cạnh tranh không phải khi
nào cũng lành mạnh. Do đó, đội ngũ đảng viên của Đảng ta cũng chịu tác
động từ mặt trái của cơ chế thị trường. Bởi vì, con người bao giờ cũng mang
dấu ấn của một thể chế, cơ chế. Qua những năm thực hiện công cuộc đổi mới,
vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã đạt được
những thành tựu to lớn. Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta phải trả giá không
nhỏ cho những hiện tượng tiêu cực. Sự băng hoại các giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, kinh doanh bằng
bất cứ giá nào, tội lừa đảo gây tội ác là hệ quả khó tránh khỏi của cơ chế thị
trường. Cơ chế thị trường cuốn hút con người vào cuộc đua tranh kinh tế, làm
cho một số cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ, đảng viên có chức, có
quyền dễ coi đồng tiền là trên hết, chạy theo lợi nhuận không chính đáng.
Chính vì vậy mà không ít cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất, sa ngã
trước những cám dỗ của đồng tiền, địa vị, sắc đẹp. Điều dễ nhận thấy là so
với thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì tình hình DHVP của đảng