ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ MAI TRANG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG
Ở MỘT SỐ XÃ CỦA HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ HIỆU QUẢ CỦA PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ ` `
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ MAI TRANG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG
Ở MỘT SỐ XÃ CỦA HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ HIỆU QUẢ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Trang
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 33
Bảng 4.2. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở một số xã huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên .............................................................................. 34
Bảng 4.3. Tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng theo lứa tuổi .................... 35
Bảng 4.4.Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng theo tháng trong năm. ..... 37
Bảng 4.5. Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng theo tính biệt. ................. 38
Bảng 4.6.Triệu chứng lâm sàng cơ bản của lợn con mắc bệnh phân trắng .... 39
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn chết do mắc bệnh phân trắng theo tuổi ........................... 40
Bảng 4.8. Bệnh tích lợn con chết do mắc bệnh phân trắng ............................ 41
Bảng 4.9. Hiệu quả điều trị của hai loại thuốc phardiasol và spectinomycin ..... 42
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs:
Cộng sự
Thể trọng
STT:
Số thứ tự
Ss:
Sơ sinh
iv
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.1.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 2
1.1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................ 2
1.1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................... 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ...................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con trong thời gian theo
mẹ ..... 3
2.1.2. Đặc điểm tiêu hóa của lợn con ................................................................ 6
2.1.3.Những hiểu biết về vi khuẩn E.coli gây bệnh phân trắng lợn con ..... 8
2.1.4. Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con ........................................ 11
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 21
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 28
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển từ lâu đời, nó đã
và đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nền nông
nghiệp nước ta dựa trên hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi, trong đó
ngành chăn nuôi đóng vai trò rất quan trọng đặc biệt là chăn nuôi lợn. Thịt lợn
không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người mà còn phù hợp
với khẩu vị của đại đa số người dân. Thịt lợn chiếm 78-80% so với các loại
thịt khác trong chăn nuôi, nhu cầu sản phẩm thịt gia cầm chiếm 15%, thịt trâu
bò và các thịt khác là 10%.
Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác
giống và không ngừng nâng cao năng suất của ngành chăn nuôi lợn.
Hàng loạt các vấn đề quản lý, kỹ thuật nuôi lợn nước ta đã và đang
được các nhà khoa học nghiên cứu nhằm bắt kịp với trình độ chăn nuôi của
các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt nước ta là một nước thuộc
kiểu khí hậu gió mùa nóng ẩm, nên rất thích hợp cho các bệnh truyền nhiễm
phát triển mạnh và lây lan nhanh. Do đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành
chăn nuôi lợn. Ngoài ra các yếu tố giống, thức ăn, dinh dưỡng, điều kiện khí
hậu thì công tác thú y rất quan trọng quyết định đến sự thành bại của ngành
chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng.
Riêng trên con lợn với điều kiện nóng ẩm nước ta thì tình hình dịch
bệnh xảy ra còn rất phức tạp đặc biệt là lợn con mắc bệnh phân trắng, các lứa
tuổi khác nhau. Bệnh phân trắng lợn con làm cho lợn gầy sút, còi cọc làm
giảm năng suất, bệnh nặng có thể chết cả đàn lợn con, vì vậy việc phòng và
điều trị lợn con mắc bệnh phân trắng là một vấn đề hết sức cần thiết.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con trong thờiangitheo mẹ
Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh.
So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2
lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5-6 lần, lúc 40
ngày tuổi tăng gấp 7-8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày
tuổi tăng gấp 12-14 lần. Lợn con bú sữa sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng
không đồng đều qua các giai đoạn, trong 21 ngày tuổi đầu, sau đó giảm. Sự
giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ
bắt đầu giảm dần và hàm lượng Hemoglobuli trong máu của lợn con bị giảm.
Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần tuổi còn gọi là giai đoạn
khủng hoảng của lợn con. Chúng ta có thể hạn chế sự khủng hoảng này bằng
cách tập cho lợn con ăn sớm (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [13].
2.1.1.1. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu
tạo và hoàn thiện về chức năng tiêu hóa.
Dung tích dạ dày của lợn lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ
sinh, 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích
lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh,
lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích
ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ
sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần
(dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít).
trong chất tiết đã có men trypsin, thai càng lớn, hoạt tính của men trysin càng
5
cao. Khi lợn con mới đẻ ra, men trypsin của dịch tụy rất cao để bù đắp lại khả
năng tiêu hóa của men pepsin trong dạ dày.
Men catepsin là men tiêu hóa protein trong sữa. Đối với lợn con ở 3
tuần tuổi đầu, men catepsin có hoạt tính mạnh, sau đó hoạt tính giảm dần.
Men lactaza có tác dụng tiêu hóa đường lactose trong sữa. Men này có
hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2,
sau đó hoạt tính của men này giảm dần.
Men lipaza và chymosin có hoạt tính mạnh trong 3 tuần tuổi và sau đó
hoạt tính giảm dần.
Nói chung, lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa tốt các chất dinh
dưỡng trong sữa lợn mẹ, còn khả năng tiêu hóa thức ăn kém. Trong khâu nuôi
dưỡng, chúng ta cần chú y chế biến thức ăn tốt để nâng cao khả năng tiêu hóa
của lợn con (Trần Văn Phùng và cs, 2004)[13].
2.1.1.2. Đặc điểm cơ năng điều tiết của lợn con
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh. Vì vỏ đại não
của lợn con chưa phát triển hoàn thiện nên việc điều tiết thân nhiệt kém, năng
lực phản ứng yếu, dễ bị ảnh hưởng xấu bởi khí hậu nóng ẩm và lạnh từ môi
trường bên ngoài. Lợn con trong thời kỳ này nếu như trong chuồng nuôi có
nhiệt độ thấp, ẩm độ cao sẽ làm cho thân nhiệt của lợn con hạ xuống nhanh.
Khi còn là bào thai điều kiện sống tương đối ổn định, các chất dinh dưỡng do
mẹ cung cấp qua nhau thai. Sau khi sinh, cơ thể lợn con dễ mắc bệnh còi cọc
hoặc chết. Mùa đông ở nước ta thời tiết lạnh, đặc biệt có mưa phùn, lợn con
rất dễ bị cảm lạnh ỉa phân trắng, tỷ lệ chết rất cao.
Ngoài ra, do lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong
cơ thể còn thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt để chống rét còn hạn
nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển của cơ thể
lợn con là rất quan trọng. Vì vậy, sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và
điều trị bệnh phân trắng lợn con là rất cần thiết.
2.1.2. Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, sau cai sữa thì sống tự lập
cho nên phải trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái cấu tạo
và hoạt động sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện sống mới.
7
Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan tiêu hóa trong cơ thể chưa
thành thục nhất là cơ quan tiêu hóa. Hàm lượng HCL và các men tiêu hóa còn
hạn chế chưa đảm nhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa nên rất dễ gây rối loạn
trao đổi chất mà hậu quả dễ nhận biết nhất là rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy,
còi cọc, thiếu máu và chậm lớn.
Đặc biệt, ở lợn con giai đoạn này có HCL trong dạ dày. Giai đoạn này
được coi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên. Nhờ sự thích ứng này cơ
thể mới có khả năng hấp thu được kháng thể miễn dịch được đưa vào cùng
sữa đầu của lợn mẹ. Trong giai đoạn này, dịch vị không có hoạt tính phân giải
protein, mà chỉ có hoạt tính làm đông vón sữa đầu và sữa. Albumin và
globulin được chuyển xuống ruột già thẩm thấu vào máu.
Tuy nhiên, sau 14-16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCL ở dạ dày không
còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cs, 1986)
[3]. Tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt cai sữa sớm sẽ rút ngắn được giai đoạn
thiếu HCL, tăng cường hoạt động tiết dịch, tạo khả năng hình thành nhanh
chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Vì vậy, trong quá trình nuôi dưỡng lợn con theo mẹ chúng ta cần chú y
tới các thời kỳ phát triển. Lợn con sau khi sinh ra cần được bú sữa mẹ càng
sớm càng tốt, bởi vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể, chất khoáng và
-Tính chất bắt màu.
Vi khuẩn bắt màu Gram âm,có thể bắt màu đều hoặc sẫm ở hai đầu
khoảng giữa nhạt hơn. Nếu lấy vi khuẩn từ khuẩn lạc này để nhuộm có thể
thấy có giáp mô, còn khi soi tươi không nhìn thấy được.
Nếu cố định bằng axit osmic rồi quan sát dưới kính hiển vi điện tử
thì thấy tế bào E.coli có nhân đó là một khối nằm trong nguyên sinh chát,
sáng màu.
- Đặc tính nuôi cấy
E.coli phát triển rõ ràng trên các môi trường nuôi cấy thông thường.
Một số chủng loại có thể phát triển dược trên môi trường tổng hợp đơn giản
nên người ta đã chọn chúng làm mẫu để nghiên cứu về sinh vật học.
9
E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở
nhiệt độ 5-40 oC, nhiệt độ thích hợp là 37 oC , pH thích hợp là 7,2- 7,4, phát
triển được từ 5,5- 8.
+Thạch thường: Sau 24 giờ hình thành những lạc khuẩn tròn ướt,
không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi đường kính 2- 3 mm. Nuôi lâu
khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt và mọc rộng ra. Có thể quan sát thấy
những khuẩn lạc dạng R và M.
+ Nước thịt: Phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn màu tro nhạt,
lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi trường có
mùi phân thối.
+ Trong môi trường mule kopman (muller kauffman), môi trường lục
Malasit (Malachit) E.coli không mọc, môi trường Endo E.coli có khuẩn lạc
màu đỏ, môi trường EMB có khuẩn lạc màu tím đen, môi trường thạch E.coli
có khuẩn lạc đỏ. E.coli bị ức chế trong môi trường Vinson-Blai.
* Đặc tính sinh hóa
C trong vòng 2 giờ kháng nguyên A mới bị phá hủy.
- Kháng nguyên B
Kháng nguyên B gồm nhiều thành phần; B1, B2, B3, B4, B5.
Kháng nguyên B cũng ngăn không cho ngưng kết O của vi khuẩn sống
xảy ra. Đun 100 oC trong một giờ kháng nguyên này mới bị phá hủy một phần.
Sức đề kháng
Cũng như các loại vi khuẩn không sinh nha bào khác E.coli không chịu
được nhiệt độ, đun 55 oC trong 1 giờ, 60 oC trong 30 phút đun sôi 100 oC chết
ngay. Các chất sát trùng thông thường : axit phenic, biclorua thủy ngân,
phoocmon, hydroperoxit 1 phần nghìn diệt vi khuẩn sau 5 phút.
Tuy nhiên ở môi trường bên ngoài, các chủng E.coli độc có thể tồn tại
đến 4 tháng.
* Tính gây bệnh.
E.coli có sẵn trong ruột của động vật nhưng chỉ có tác động gây bệnh
khi sức đề kháng của con vật bị giảm sút (do chăm sóc, nuôi dưỡng, do cảm
lạnh hoặc cảm nắng).
11
E.coli gây bệnh cho súc vật mới đẻ từ 2-3 ngày hoặc 4-8 ngày.
Trong phòng thí nghiệm tiêm vi khuẩn vào dưới da cho chuột bạch,
chuột lang, thỏ có thể gây viêm cục bộ, nếu tiêm liều lượng lớn có thể gây bại
huyết, chết con vật.
* Độc tố
Trực khuẩn E.coli sinh ra 2 loại độc tố chủ yếu là nội độc tố và ngoại
độc tố:
- Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt độ dễ bị phá hủy ở
Nhiệt độ thích hợp nhất cho lợn con là từ 28-30oC, ẩm độ từ 75-80%. Do đó,
ở những tháng giao mùa, những tháng mưa nhiều, ẩm độ cao, nhiệt độ thay
đổi thất thường, tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng tăng lên rõ rệt. Ngoài ra,
nếu lợn con ở nơi ẩm ướt, thoáng gió thì sự thải nhiệt bằng truyền nhiệt,
khuyếch tán nhiệt càng mạnh, con vật mất nhiều nhiệt, cơ thể bị nhiễm lạnh,
dẫn đến rối loạn tiêu hóa và gây nên bệnh phân trắng lợn con (Đào Trọng Đạt
và cs, 1986)[3].
Nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con được xem như không đặc
hiệu và mang tính tổng hợp, trong đó lạnh ẩm là yếu tố hàng đầu của bệnh.
Lạnh ẩm gây rối loạn hệ thống điều hòa trao đổi nhiệt (trong đó, hệ thống
thần kinh và nội tiết giữ vai trò quan trọng) dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi
chất của các cơ quan, bắt đầu từ rối loạn tiêu hóa, hấp thu rồi đến rối loạn trao
đổi chất của các cơ quan, trao đổi chất ở mô và tế bào của cơ thể. Điều đó dẫn
tới đề kháng của cơ thể suy giảm, những vi khuẩn và vi rút có sẵn trong
đường ruột có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh.
Mặt khác, ở lợn con các men tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, trong dịch vị
chưa có đủ axit HCL tự do, nên không hoạt hóa được men pepsin, do đó
không tiêu hóa hết sữa mẹ, trong khi sữa mẹ lại là môi trường phát triển tốt
của nhiều loại vi khuẩn (Sử Anh Ninh, 1995)[11].
Đối với hộ chăn nuôi tập trung, công tác vệ sinh cần đặc biệt quan tâm.
Lợn mới đẻ ra cần được sưởi ấm bằng đèn hồng ngoại và bú sữa đầu để tăng
13
sức đề kháng cơ thể. Cần đảm bảo vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, vệ sinh máng
ăn mang uống thương xuyên, đối với lợn con đang tập ăn để thức ăn không bị
ôi thiu.
+ Do vi khuẩn
Với bệnh phân trắng lợn con, vai trò của vi khuẩn đã và đang được các
dày truyền nhiễm ở lợn. Đây là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, có
biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng. Bệnh thường xảy
ra ở nhiều hộ chăn nuôi tập trung vào thời tiết rét lạnh.
+ Do ký sinh trùng
Có nhiều nghiên cứu đã đề cập đến vai trò của ký sinh trùng đường
ruột, nhưng cho đến nay chưa có một minh chứng cụ thể nào.
Tác giả Nguyễn Kim Thành, (1999)[20] cho biết: Trong đường ruột của
lợn bị bệnh phân trắng đã tìm thấy giun đũa (Ascaris suum) ký sinh với một
lượng lớn gây tổn thương thành ruột, gây viêm ruột và tiêu chảy.
+ Do nấm mốc
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: Hầu hết thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam đều nhiễm nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt
gia súc, với biểu hiện nhiễm độc đường tiêu hóa, gây tiêu chảy dữ dội. Ngoài
việc gây tiêu chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho
người dùng thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn
dư trong thực phẩm.
2.1.4.2. Đường nhiễm bệnh
Nguồn phát bệnh chính là các lợn nái mang mầm bệnh. Theo các kết
quả nghiên cứu thì nguồn thải mầm bệnh nhiều nhất là các nái chờ phối
(96,9%) và ít nhất là nái chửa kỳ 2 (45%). Trong các trường hợp này lợn con
bị nhiễm E.coli từ những ngày đầu tiên sau khi đẻ và đến giai đoạn cai sữa
giảm xuống còn 67,5%. Tất nhiên sau cai sữa những lợn con ốm khỏi sẽ trở
thành vật mang bệnh. Do vậy trong chăn nuôi người ta thường bố trí chuồng
nái đẻ và lợn nuôi vỗ béo cách li nhau.
Lợn con nhiễm E.coli chủ yếu qua đường tiêu hóa, ít khi qua đường hô
hấp, niêm mạc mắt, trong một vài trường hợp có thể nhiễm E.coli qua đường
15
16
Iả chảy và bại huyết ở lợn sơ sinh xảy ra ngay trong ổ lợn đẻ từ 12 giờ 5 ngày tuổi hay thời gian lợn con theo mẹ. Tỷ lệ lợn sơ sinh mắc bệnh đến
70% hay 100% và do ỉa chảy đơn thuần khoảng 70% trong vài ngày đầu sau
sinh. Tỷ lệ con chết có thể giảm dưới 10% ở đàn lợn bệnh trên 2 tuần tuổi.
2.1.4.5. Bệnh tích
Lợn chết mất nước nghiêm trọng, xác chết khô đét, gan màu nâu đen,
dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu và những nốt đen trên thành do những
đám nhôi máu. Ruột non trương giãn to và xuất huyết, niêm mạc ruột bị hoại
tử từng đám, trong ruột già có thể thấy từng đám màu. Viêm ruột là hiện
tượng phổ biến, viêm thành ruột, xuất huyết màng treo ruột, dạ dày ruột ít sữa
đông đặc, vón, cá biệt có máu, mùi tanh. Trong ruột chứa phân màu vàng hay
trắng xám, hạch màng treo ruột sưng.
Một số trường hợp có thể thấy viêm phổi, xoang ngực và màng phổi
sưng dịch thẩm xuất (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004)[8].
2.1.4.6. Phòng và trị
Bệnh phân trắng lợn con được gây nên bởi nhiều nguyên nhân phức
tạp. Do đó phải cùng áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp giải quyết các vấn đề
trên ở từng khía cạnh mới có thể hạn chế đến mức thấp những thiệt hại do
bệnh gây ra.
- Phòng bệnh
+ Phòng bệnh bằng quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng
Theo Sử Anh Ninh (1995)[11], Faiborther (1992)[26], phải đảm bảo
lợn con được nuôi trong môi trường có nhiệt độ ổn định 30-34oC, thông
thoáng, không có rác bẩn, nền chuồng có nhiệt độ thấp. Lợn nái nên nuôi ở
môi trường 22oC, vì vậy trong chuồng lợn đẻ cần có ổ úm có nhiệt độ cao hơn
cho lợn con. Cũng theo Sử Anh Ninh (1995)[11], độ ẩm chuồng nuôi có ảnh
hưởng không nhỏ tới bệnh phân trắng ở lợn con. Do đó, cần hạn chế dùng
nước tắm cho lợn ở giai đoạn lợn con theo mẹ cũng như cai sữa, ẩm độ thích
dạng vô hoạt dùng tiêm cho lợn mẹ 1- 2 lần trước khi đẻ. Lợn mẹ được miễn
dịch sẽ truyền cho lợn con (miễn dịch thụ động) qua sữa nhất là sữa đầu, lợn
con có khả năng chống đỡ với các chủng E.coli gây bệnh.
18
Vacxin E.coli dạng uống: Vacxin được chế tạo từ các chủng E.coli gây
bệnh phân lập từ các địa phương, dùng cho lợn uống 3- 4 lần sau khi đẻ.
Hiện nay, trên thị trường Việt Nam, ngoài vacxin trong nước sản xuất
đang lưu hành các loại vacxin khác do nước ngoài sản xuất như: Neocolipor
của hãng Nisan chemical Indutries, vacxin Litter Guard LT-C của hãng
Embrex, Rokovac của hãng Bioveta, INC sản xuất phòng tiêu chảy do E.coli
và Clostridium perfringens, A.S phòng tiêu chảy do E.coli và rotavirus suis ở
lợn, Porcili coli của hãng Intervet (Lê Văn Tạo, 2007)[15].
2.1.4.7. Điều trị
Lê Văn Tạo (2007)[15] cho biết: Điều trị bệnh phân trắng lợn con và
tiêu chảy do E.coli gây ra trước hết phải tuân thủ nguyên lý điều trị chung các
mầm bệnh do vi khuẩn E.coli gây ra. Tức là phải kết hợp giữa tiêu diệt mầm
bệnh E.coli với việc bổ sung nước và dung dịch chất điện giải để chống mất
nước, nâng cao sức đề kháng của con vật trong khi sử dụng kháng sinh và hóa
dược để tiêu diệt mầm bệnh. Cần lưu ý đến tính kháng kháng sinh của vi
khuẩn E.coli gây bệnh phân lập được, để lựa chọn kháng sinh điều trị. Vì vậy,
nêú làm kháng sinh đồ thì căn cứ vào kết quả kháng sinh đồ, nếu không thì
chọn kháng sinh cơ sở chưa dùng hoặc ít dùng, kháng sinh có phổ kháng
khuẩn rộng dùng điều trị sẽ cho kết quả tốt hơn. Tốt nhất là nên lấy mẫu bệnh
phẩm, gửi các phòng thí nhiệm phân lập vi khuẩn, làm kháng sinh đồ, dùng
kháng sinh mẫn cảm để điều trị.
Qua theo dõi tính kháng thuốc của E.coli trong một số năm gần đây
thấy các loại kháng sinh con mẫn cảm cao với E.coli là neomycin, tetracylin.