MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau sự đổ vỡ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, CNXH
hiện thực tạm lâm vào thoái trào, ảnh hưởng bất lợi cho phong trào cách mạng thế giới. Công cuộc đổi mới
của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được nhiều thành tựu, song cũng đang phải vượt lên
những thách thức và nguy cơ to lớn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong và ngoài nước
đang ra sức tấn công một cách tinh vi và hiểm độc vào cách mạng nước ta hòng lật đổ chế độ XHCN, xoá
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, làm biến đổi xã hội ta theo quỹ đạo của CNTB. Kinh tế thị trường và toàn cầu
hoá kinh tế với tất cả những mặt trái của nó đang làm cho cuộc đấu tranh ý thức hệ diễn ra hết sức quyết
liệt ở nước ta và trên thế giới. Chưa bao giờ cuộc ĐTTT-LL lại diễn ra phức tạp, gay gắt như lúc này. Trong
cuộc ĐTTT-LL để bảo vệ sự trong sáng CNM-LN và TTHCM, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng
XHCN, vai trò lãnh đạo của Đảng đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải giữ vững niềm tin khoa
học đối với mục tiêu, lý tưởng mà chúng ta đã chọn, đề cao cảnh giác cách mạng trước các luận điệu thù
địch, không bị mất phương hướng chính trị ở thời điểm bước ngoặt - điều mà V.I.Lênin coi là nguy hiểm, tệ
hại nhất, là một sự tự sát chính trị.
Muốn vậy, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng - lý luận của Đảng, trong đó một lực lượng rất
quan trọng là các giảng viên KHXH ở các nhà trường trong và ngoài quân đội phải không ngừng nâng
cao năng lực ĐTTT-LL trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hoạt động chính trị - xã hội. Năng lực
đó giúp họ đủ sức bảo vệ học thuyết khoa học và cách mạng là CNM-LN và TTHCM - thế giới quan,
phương pháp luận, hệ tư tưởng của những người mác xít, cơ sở lý luận đem lại sự giác ngộ và niềm tin
khoa học về CNXH và chủ nghĩa cộng sản, nền tảng lý luận của Đảng ta. Năng lực đó giúp họ đủ sức phê
phán, vạch trần những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận CNM-LN, TTHCM và CNXH hiện thực của các thế
lực thù địch. Đồng thời, năng lực đó cũng giúp cho giảng viên KHXH trang bị cơ sở lý luận và thực tiễn cho
học viên để họ đủ sức tự phân tích, phê phán những nhận thức mơ hồ, không đúng đắn, biết vạch ra tính
chất phản động của kẻ thù, ngăn ngừa và loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực, sự dao động, bấp bênh về tư
tưởng- chính trị trong quân đội. Đương nhiên, đối tượng của ĐTTT-LL trước hết và chủ yếu là các thế lực
chống độc lập dân tộc và CNXH. Còn làm rõ đúng, sai về nhận thức, lý luận, tư tưởng ở các NTQĐ là thuộc
phạm trù đấu tranh tư tưởng nội bộ, là thực hiện phương pháp gắn “Xây” với “Chống” trong quá trình giáo
dục- đào tạo. Trong tình hình kẻ thù đang ráo riết đẩy mạnh "DBHB", ra sức chống phá ta trên mặt trận tư
tưởng- lý luận, âm mưu phi chính trị hoá quân đội, hòng tạo nên “tự diễn biến” nội bộ, loại bỏ vai trò lãnh
viên KHXH trong các NTQĐ.
- Đánh giá thực trạng và chỉ ra nguyên nhân thực trạng năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH ở
các NTQĐ hiện nay.
- Luận giải tính tất yếu khách quan và yêu cầu nâng cao năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH
ở các NTQĐ.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH ở các
NTQĐ hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH ở các
NTQĐ, trong đó chủ yếu là giảng viên các khoa học Mác - Lênin, TTHCM, Lịch sử đảng và Công tác đảng,
công tác chính trị. Khái niệm “các nhà trường quân đội” dùng trong luận án này bao gồm các học viện,
trường đại học đào tạo sĩ quan quân đội...(không kể các nhà trường như: trường quân sự quân khu, quân
đoàn, tỉnh thành; trường cao đẳng, trung cấp, nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật sơ cấp v.v.). Thời gian chủ
yếu trong những năm đổi mới đất nước từ 1986 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm của CNM-LN, TTHCM, Đảng Cộng sản Việt
Nam về năng lực, về công tác tư tưởng, lý luận, về năng lực ĐTTT-LL của người cách mạng.
Luận án cũng dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc
phòng về công tác nhà trường, về xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy ở các NTQĐ, nhất là giảng viên
KHXH, về vai trò của giảng viên KHXH trong ĐTTT-LL; tham khảo và kế thừa có chọn lọc các công
trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan.
Cơ sở thực tiễn của luận án là hoạt động của giảng viên KHXH, trực tiếp nhất là giáo dục- đào
tạo, nghiên cứu khoa học và ĐTTT-LL; những báo cáo tổng kết của các cơ quan chức năng về các vấn
đề liên quan đến luận án; các kết quả điều tra, khảo sát của tác giả luận án về hoạt động và những
kinh nghiệm ĐTTT-LL của giảng viên KHXH ở các NTQĐ những năm qua; những đòi hỏi của thực tiễn
về nâng cao năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH đáp ứng với tình hình mới.
Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Tác giả chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu: kết hợp logíc- lịch sử, phân tích,
tổng hợp, thu thập tư liệu, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh và vận dụng các phương pháp nghiên
hoàn thành một công việc nào đó. Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là: “1. khả năng, điều kiện chủ quan
hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. 2. Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con
người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.”[74,tr.565]. Tâm lý học, đạo
đức học đặt thuật ngữ năng lực trong quan hệ với thuật ngữ phẩm chất để phản ánh những thuộc tính
của nhân cách, trong đó, năng lực đồng nghĩa với “tài” (thuật ngữ sử dụng đi đôi với đức), là khả năng
nhận thức những hoạt động nhất định và thực hiện có hiệu quả những hoạt động đó. Như vây, năng lực
bao giờ cũng là của một chủ thể cụ thể: một cộng đồng, một tổ chức hay một con người. Về mỗi con
người mà xét, hiếm có hoặc khó có con người có năng lực toàn diện với ý nghĩa hiểu biết sâu sắc “bách
khoa” và tác động có hiệu quả cải biến mọi đối tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Hơn nữa, năng lực còn
được phân thành các cấp độ (thấp, cao) khác nhau như: năng lực thông thường, tài năng và thiên tài.
Năng lực thông thường có tính phổ biến ở mỗi người lao động trong từng lĩnh vực, ngành, nghề. Tài
năng được xếp vào năng lực vượt trội, có ở một số người, đặc biệt, mà cao nhất là thiên tài, có ở rất ít
người. Ngoài ra khi nói người có năng lực hạn chế, hoặc không có năng lực là nói người đó kém hoặc
không có khả năng hoàn thành được công việc phụ trách. Theo quan điểm triết học mác xít, luận án này
bàn về năng lực chung của con người từ mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể con người với khách thể
đối tượng của hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người; trên cơ sở đó, vạch ra bản chất, vai trò
và đặc trưng của năng lực con người. Với cách tiếp cận này, năng lực được hiểu như là khả năng,
điều kiện chủ quan bên trong để con người thực hiện có hiệu quả hoạt động nhận thức và cải tạo thế
giới nhằm phục vụ cuộc sống của mình. Mỗi bước tiến của con người trong quá trình vươn lên làm chủ
tự nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện nhân cách là mỗi nấc thang đánh dấu sự phát triển của năng lực
“Người”.
Đương nhiên, để hành động cải tạo thế giới và cải tạo bản thân, con người phải nhận thức. Muốn
nhận thức được con người cũng phải có năng lực. Khi Mác viết: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế
giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới”[46, tr. 12] là nhằm vạch ra vai trò
của thực tiễn để chống chủ nghĩa duy tâm các loại, chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của
con người, không thừa nhận hoặc coi nhẹ vai trò của thực tiễn, chứ không phải không coi trọng nhận
thức (nhất là nhận thức lý luận), bởi hành động có hiệu quả đến mức nào trước hết phụ thuộc vào mức
độ đúng đắn của nhận thức. Nhận thức không phải do lực lượng siêu nhiên phú cho, cũng không phải
“Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác, do luyện tập
mà có...”[57, tr. 280]. Như vậy, năng lực người và sự phát triển của nó luôn gắn liền với hoạt động sống
của con người và được biểu hiện cụ thể trong các hoạt động đó. Không có năng lực tách rời hoạt động
thực tiễn.
Triết học Mác- Lênin khái quát, năng lực là sức mạnh của con người trong hoạt động cải tạo hiện
thực, mang tính cụ thể và phong phú. Có thể phân năng lực thành hai dạng chính là năng lực cải biến tự
nhiên và năng lực cải biến xã hội. Năng lực cải biến tự nhiên là những khả năng của con người để sử
dụng và chinh phục tự nhiên phục vụ cho mình. Năng lực cải biến xã hội là năng lực thúc đẩy xã hội phát
triển theo tiến bộ lịch sử, từ thấp lên cao. Giữa năng lực cải biến tự nhiên và năng lực cải biến xã hội có
mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Đã có thời kỳ con người mắc sai lầm trong giải quyết mối
quan hệ đó và đã phải trả giá. Ngày nay, con người đang phải xem lại thái độ của chính mình trong ứng
xử với tự nhiên, không còn là chinh phục tự nhiên theo kiểu chỉ khai thác, chiếm đoạt nữa mà là hài hoà,
đồng thuận với tự nhiên, bảo vệ môi trường, cái “thân thể vô cơ” của mình như Mác nói.
Nhưng tính phức tạp của xã hội là ở chỗ lực cản đối với xây dựng xã hội mới, cải tạo xã hội cũ
cũng chính là con người. Đó là các lực lượng lỗi thời, bảo thủ. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp bóc lột,
áp bức thống trị lạc hậu là lực cản tiến bộ xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế,
văn hoá xã hội...). Do đó, lực lượng tiến bộ để thúc đẩy lịch sử phát triển chẳng những phải có năng lực
xây dựng xã hội mới mà còn phải có năng lực chống lại sự chống phá của các thế lực bảo thủ, lạc hậu,
phản cách mạng.
Do hoạt động thực tiễn, năng lực con người rất phong phú, sống động nên có thể xem năng lực
trong mối quan hệ với tư cách và đạo đức, gắn với các mối quan hệ cụ thể như với công việc, với con
người và với chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tư cách người công an cách mệnh:
Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tuỵ.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo [58, tr. 406].
giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân vũ trang bằng CNM-LN
chống mọi biểu hiện của hệ tư tưởng tư sản. Trong nội bộ phong trào công nhân: biểu hiện giữa
CNM-LN với sự xuyên tạc hữu khuynh, tả khuynh CNM-LN, tức là chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét
lại...[100, tr. 121]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đấu tranh tư tưởng là: Đấu tranh trên lĩnh vực hình thái ý thức;
một trong những hình thức đấu tranh giai cấp quan trọng... Bất cứ lúc nào, nhất là trong điều kiện diễn ra
cuộc đấu tranh giữa CNXH và CNTB trên phạm vi toàn thế giới, các chính đảng vô sản cầm quyền tại
các nước XHCN, cũng như các đảng cộng sản và công nhân trên toàn cầu đều không thể coi nhẹ đấu
tranh tư tưởng, công tác lý luận [101, tr. 763].
Lý luận mác xít chỉ rõ, trong xã hội có giai cấp tất yếu có đấu tranh giai cấp, trong đó có đấu tranh
kinh tế, đấu tranh chính trị, đấu tranh văn hoá... Đấu tranh tư tưởng diễn ra suốt quá trình đấu tranh giai
cấp, đi cùng đấu tranh kinh tế, chính trị, văn hoá... Dưới chủ nghiã tư bản, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra
quyết liệt, phức tạp. Đấu tranh ý thức hệ là đấu tranh tư tưởng, luôn luôn gắn liền với đấu tranh lý luận.
Đảng ta nêu thuật ngữ “tư tưởng, lý luận” là cụ thể hoá thuật ngữ hệ tư tưởng, nhằm chỉ ra cuộc đấu
tranh tư tưởng ở nước ta bao gồm đấu tranh trên các quan điểm, học thuyết lý luận.
Để chống lại các thế lực phản động, bảo thủ, trước hết phải chống lại chúng trên mặt trận tư tưởng
- lý luận. Giai cấp tư sản đã từng làm cuộc cách mạng văn hoá (Thời kỳ phục hưng ở Châu âu), thực
chất là đấu tranh tư tưởng để chuẩn bị tiền đề cho cuộc cách mạng chính trị, giành chính quyền, lật đổ
chế độ phong kiến.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã tự giải phóng mình khỏi hệ tư tưởng tư sản, xây dựng hệ tư tưởng độc
lập cho giai cấp công nhân và đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản ảnh hưởng trong phong trào công
nhân. V.I.Lênin còn nhấn mạnh: “Không có gì quan trọng bằng... bảo vệ những cơ sở lý luận và những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác đang bị những phe đối lập nhất xuyên tạc bằng cách gieo rắc ảnh
hưởng tư sản vào “những bạn đường” khác nhau của chủ nghĩa Mác”[36, tr. 104].
Cuộc ĐTTT-LL mà Đảng và nhân dân ta đang tiến hành là một hình thức của đấu tranh giai cấp trên
lĩnh vực hình thái ý thức xã hội chống lại những quan điểm, tư tưởng tư sản và các quan điểm lạc hậu,
phản khoa học, phản động, nhằm bảo vệ CNM-LN, TTHCM và đường lối, quan điểm của Đảng. Quá trình
đấu tranh đó vừa chống kẻ thù giai cấp và dân tộc, trong nước và ngoài nước với các lý luận nguỵ biện, mị
cả các giai tầng bị áp bức, bóc lột, đấu tranh nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và chế độ TBCN,
xoá bỏ mọi nguồn gốc nảy sinh chế độ người bóc lột người. Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, đánh dấu
bằng sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã trở thành học thuyết soi đường cho cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động chống lại giai cấp tư sản. Vì thế, nó vấp phải sự chống phá quyết liệt của hệ tư
tưởng và giai cấp tư sản, nhất là giới lý luận gia tư sản. Đúng như V.I.Lênin nhận xét, học thuyết của Mác đã
gây ra sự cừu địch mạnh nhất và lòng căm thù trong toàn thế giới khoa học tư sản, giới khoa học này xem
chủ nghĩa Mác như một môn phái có hại. Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong một xã hội có giai cấp và đấu tranh
giai cấp thì không thể có một KHXH “vô tư”. Toàn bộ khoa học chính trị, xã hội của giai cấp tư sản, của các
thế lực phản động đều bênh vực, bằng cách này hay cách khác cho chế độ nô lệ làm thuê, chế độ áp bức bóc
lột; còn Chủ nghĩa Mác thì quyết liệt tuyên chiến với chế độ nô lệ, chế độ áp bức bóc lột ấy. Trong xã hội có
giai cấp, không thể có hệ tư tưởng phi giai cấp; đòi hỏi KHXH “phi tính đảng” là sự “khờ dại, ngây thơ”.
V.I.Lênin còn nói rõ hơn, chỉ có hệ tư tưởng tư sản hoặc hệ tư tưởng XHCN, không có hệ tư tưởng trung
gian, “thứ ba” nào cả. Mọi sự coi nhẹ tư tưởng XHCN đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản [35,
tr. 45, 50].
Tính đảng của CNM-LN, của KHXH mác xít thể hiện ý chí, nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi cho
giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Tính đảng đó hoàn toàn đối lập với tính đảng trong các KHXH
tư sản. Tính đảng khác nhau đó phản ánh lợi ích của hai giai cấp cơ bản có lợi ích, địa vị khác nhau,
hoàn toàn đối lập nhau; giữa một bên là giai cấp, tầng lớp bị áp bức, bóc lột, với bên kia là giai cấp thống
trị, bóc lột. Tuy vậy, khác với tính đảng tư sản, tính đảng của KHXH của giai cấp công nhân, đặc biệt là
CNM-LN thống nhất với tính khách quan khoa học, biết vận dụng, kế thừa và phát triển những thành tựu
khoa học tiến bộ của nhân loại, những tinh hoa văn hoá mà loài người đã tạo ra, ngày nay, tiếp tục tiếp
thu những thành tựu khoa học của các học giả tư sản. Chủ nghĩa Mác ra đời trên cơ sở thừa kế trực tiếp
học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị và trong CNXH không
tưởng. TTHCM là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo CNM-LN vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại… Chính điều đó làm cho KHXH của giai cấp công nhân, nhất là CNM-LN, TTHCM vượt lên, trở
thành những khoa học đúng đắn, đầy đủ và cách mạng nhất. Do vậy, trong khi giai cấp tư sản che giấu
tính đảng của hệ tư tưởng tư sản thì các Đảng Cộng sản công khai tính đảng của hệ tư tưởng của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam công khai tính đảng đó, đòi hỏi đảng viên kiên định CNM-LN và TTHCM, đấu
giá bất cứ một vấn đề cụ thể nào phải đặt nó trong những điều kiện không gian, thời gian nhất định; chỉ
rõ quá trình vận động, biến đổi và phát triển của nó; tìm ra bản chất và phải vạch rõ con đường, cách
thức giải quyết phù hợp, đạt kết quả cao. Để bảo vệ và phát triển CNM-LN trong bối cảnh mới, chúng ta
cần khẳng định tính cách mạng, khoa học của lý luận mác xít, những giá trị đích thực, căn bản, mang
tính định hướng dẫn đường của CNM-LN; chỉ rõ những nhận thức và vận dụng lệch lạc, sai lầm CNM-LN
góp phần làm nảy sinh khủng hoảng CNXH hiện thực; sự vận dụng sáng tạo CNM-LN trong thời đại hiện
nay; những tri thức mới của thời đại cần tiếp tục bổ sung, phát triển CNM-LN. Làm được điều đó là “sự
hồi sinh và phát triển ngọn đuốc cách mạng và sáng tạo của Mác, Ănghen, Lênin trong thời đại mới, vừa
kiên trì những tư tưởng bất diệt của CNM-LN, vừa không rơi vào bảo thủ, giáo điều hoặc phản bội nó”[6,
tr. 6].
Tính khoa học của năng lực ĐTTT-LL có nội dung phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan. Cho
nên, chủ thể của nó phải hết sức coi trọng việc phát hiện, nhận thức sâu sắc những quy luật vận động,
phát triển của thế giới khách quan, đặc biệt trong việc vận dụng các quy luật ấy. Bảo đảm cung cấp căn
cứ khoa học, làm cho mọi người hiểu được các quy luật vận động và phát triển của xã hội; thấy được
tính đúng đắn của CNM-LN, TTHCM và đường lối của Đảng, con đường đi lên CNXH của đất nước; chỉ
rõ tính chất sai lầm, phản khoa học, phản động của các quan điểm phi vô sản. Tính khoa học của năng
lực ĐTTT-LL càng cao thì càng giác ngộ, phát huy cao độ tính tự giác của quần chúng, vì thế càng có
khả năng đánh bại các quan điểm sai trái, bảo vệ và phát triển CNM-LN, TTHCM, đường lối của Đảng;
phục vụ tốt sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Tính khoa học của năng lực ĐTTT-LL cũng thể hiện ở sự xác thực. Sự xác thực là một tiêu
chuẩn quan trọng của hoạt động ĐTTT-LL, tuyên truyền, thuyết phục quần chúng. Trong đấu tranh với
các quan điểm sai trái phản động, những người Cộng sản phải nói lên sự thật, phải phân tích sâu sắc,
chỉ rõ đúng sai trong các quan điểm đó một cách khách quan. Đồng thời cũng phải dũng cảm nhìn
thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, chỉ cho nhân dân những giá trị và những khiếm khuyết cần bổ
sung của lý luận; những thuận lợi và khó khăn, những thành công và thất bại, những ưu điểm và thiếu
sót của sự nghiệp cách mạng; khắc phục thói “tô hồng” làm cho quần chúng say sưa với thành tích,
thắng lợi mà không thấy hết khó khăn, khuyết điểm; mặt khác, kiên quyết chống lại hiện tượng “bôi
đen”, khuyếch trương quá mức sai lầm, khuyết điểm, khó khăn tạm thời mà không thấy hoặc phủ nhận
Phương pháp gắn liền với lý luận và thực tiễn, là trình độ khoa học đúng đắn, trung thực, chứ không phải
là mỹ thuật, thủ thuật, tiểu xảo, tránh những khiên cưỡng, giả tạo dẫn đến những phản cảm trong quan
hệ với đối tượng.
Tính nghệ thuật của năng lực ĐTTT-LL thể hiện rõ trong việc sử dụng ngôn ngữ phân tích, luận
chiến. Sử dụng ngôn ngữ trong ĐTTT-LL vô cùng quan trọng, là phương tiện chuyển tải những hiểu biết,
nội dung, ý định của chủ thể đến đối tượng tiếp nhận. Dùng ngôn ngữ trong sáng, có tính khái quát và
giàu hình tượng; câu văn ngắn gọn, chặt chẽ, súc tích; diễn đạt mạch lạc, sâu sắc và gợi cảm không
những chuyển tải đầy đủ nội dung, ý định mà còn nâng cao hiệu quả thuyết phục của chủ thể đến đối
tượng tiếp nhận. Sử dụng ngôn ngữ mang tính nghệ thuật cao có tác dụng cảm hoá to lớn trong hoạt
động ĐTTT-LL. Vì vậy, chủ thể ĐTTT-LL cần hết sức chú ý học tập, rèn luyện nâng cao khả năng sử
dụng ngôn ngữ, phục vụ đắc lực cho cuộc ĐTTT-LL; khắc phục lối sử dụng ngôn ngữ tuỳ tiện, diễn đạt
dài dòng, không chặt chẽ, thiếu sự khái quát.
Tính đảng, tính khoa học và tính nghệ thuật của năng lực ĐTTT-LL luôn có sự thống nhất, quan hệ
biện chứng tác động thúc đẩy lẫn nhau. Cả ba đặc tính này xét đến cùng chính là trình độ trí tuệ khoa
học, đạo đức, động cơ, lập trường, quan điểm chính trị. Tổng hợp những cái đó là năng lực văn hoá
chính trị như cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc thù hoạt động ĐTTT-LL đã đòi hỏi rất cao tính đảng
mác xít, tính khoa học và tính nghệ thuật. Hơn nữa, trong các KHXH và hoạt động ĐTTT-LL có sự thống
nhất biện chứng giữa tính đảng với tính khoa học và tính nghệ thuật. Cơ sở của sự thống nhất biện
chứng đó là sự phù hợp giữa mục đích của các KHXH và hoạt động ĐTTT-LL với các quy luật phát tiển
xã hội, với ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động và khát vọng lâu đời của nhân loại. Quan niệm
đối lập, tuyệt đối hoá hoặc tách rời tính đảng với tính khoa học và tính nghệ thuật là của chủ nghĩa duy
tâm chủ quan, siêu hình. Thiếu tính đảng trong năng lực ĐTTT-LL thì hoạt động ĐTTT-LL không chỉ mắc
sai lầm về chính trị, mà còn sai lầm về phương diện khoa học, và thiếu đi tính hấp dẫn, thuyết phục.
Nhưng chỉ có tính đảng mà thiếu tính khoa học và nghệ thuật thì năng lực ĐTTT-LL không thể bền vững,
khi đó hoạt động ĐTTT-LL chỉ như kiểu “hô khẩu hiệu”, ít khả năng thuyết phục và kém hiệu quả. Ngược
lại, năng lực ĐTTT-LL có tính đảng và tính khoa học nhưng thiếu tính nghệ thuật thì hoạt động ĐTTT-LL
của chủ thể dễ rơi vào khô khan, cứng nhắc, khó gây thiện cảm, đồng tình, ủng hộ của người tiếp nhận.
Do đó, năng lực ĐTTT-LL của chủ thể chỉ thực sự vững mạnh khi mang đầy đủ tính đảng, tính khoa học
đại học và sĩ quan cấp phân đội - sơ cấp...Về cơ bản, giảng viên ở các học viện có tuổi đời, tuổi quân,
quân hàm, học vấn cao hơn ở các trường sĩ quan... Khái niệm giảng viên KHXH ở trong luận án này chỉ
đối tượng giảng dạy ở các học viện, trường sĩ quan, trường đại học. Nằm trong hệ thống giáo dục- đào
tạo chung của cả nước, giảng viên KHXH ở các NTQĐ cũng có nhiều trình độ: giảng viên, giảng viên
chính, giảng viên cao cấp, phó giáo sư, giáo sư.
Mặt khác, KHXH được phân thành nhiều môn (các nhà trường quân đội đang giảng dạy từ 24- 27
chuyên ngành KHXH [41, tr. 55]) nên năng lực và nhiệm vụ ĐTTT-LL của giảng viên KHXH không giống
hệt nhau. Do đặc thù chuyên ngành, các môn Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học,
TTHCM... đòi hỏi ĐTTT-LL rất cao. Tác giả luận án chủ yếu đề cập đến giảng viên các môn khoa học
này. Song không vì thế mà xem nhẹ ĐTTT-LL ở các môn Dân tộc học, Tâm lý học, Giáo dục học...
Tuy có những điểm khác biệt nhất định, giảng viên KHXH ở các NTQĐ đều là một bộ phận của đội
ngũ làm công tác tư tưởng- lý luận và giáo dục- đào tạo cán bộ về KHXH, có nhiệm vụ ĐTTT-LL. Việc
tham gia ĐTTT-LL của giảng viên KHXH gắn liền với hoạt động của họ tại các NTQĐ.
Giảng viên KHXH ở các NTQĐ tham gia vào nhiều hoạt động như: giảng dạy, nghiên cứu khoa
học, ĐTTT-LL, các hoạt động lãnh đạo chỉ huy; các giao tiếp ứng xử trong và ngoài quân đội. Tuy nhiên,
chức năng cơ bản nhất của họ là giáo dục- đào tạo. Việc ĐTTT-LL cũng chủ yếu thực hiện trong quá
trình giáo dục - đào tạo. Ở đây, tác giả tập trung đề cập hoạt động của giảng viên này theo chức trách
nhiệm vụ chủ yếu của họ.
Hoạt động chủ yếu, cơ bản nhất của giảng viên KHXH là giáo dục- đào tạo cán bộ, sĩ quan đáp
ứng yêu cầu xây dựng quân đội về chính trị. Họ truyền thụ cho học viên những tri thức KHXH, trang bị
thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận của CNM-LN, TTHCM, quan điểm đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; giáo dục nguyên tắc và nghiệp vụ CTĐ, CTCT đáp ứng yêu
cầu đào tạo, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, nhân cách đạo đức và kỹ năng công tác theo chức trách từng
loại cán bộ. Do đó, hoạt động của giảng viên KHXH ở các NTQĐ mang đậm tính chính trị sâu sắc trong
đặc thù lĩnh vực quân sự, biểu hiện tập trung là quán triệt sâu sắc cho cán bộ, học viên quân đội nguyên
tắc: quân sự phục tùng chính trị, đường lối quân sự phục tùng đường lối cách mạng của Đảng, Đảng
lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt các lực lượng vũ trang nhân dân; “kiên quyết đập tan mọi luận
điệu của các thế lực thù địch đang ra sức kích động “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang, làm biến chất
Đảng và quân đội ta hòng gây ra “tự diễn biến” từ trong nội bộ...”[69, tr 5]; đồng thời cũng chống các luận
điệu xuyên tạc của kẻ thù đối với bạo lực cách mạng, coi hoạt động vũ trang cách mạng là không có tính
Kẻ địch ở bên trong là chủ nghĩa cá nhân, là nạn tham nhũng và tệ quan liêu. Theo Bác Hồ, chủ
nghĩa cá nhân, nạn tham nhũng là những căn bệnh nguy hiểm, từ đó sinh ra các bệnh khác như: tham
lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, mất dân chủ, hẹp hòi... mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ
địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại
từ trong phá ra [57, tr. 238 và 239]. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cuộc vận động nâng cao ý thức trách
nhiệm, tăng cường giáo dục, quản lý chống chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí, quan liêu là một cuộc
cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa đạo
đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là nạn tham ô, lãng phí, quan liêu [66,
tr. 578].
V.I.Lênin cũng đã chỉ rõ kẻ địch ở bên trong (mà chúng ta thấy rất đúng với tình hình hiện nay):
“Theo tôi, hiện giờ có ba kẻ thù chính đang dứng trước mỗi người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương
vị nào... Trước mặt họ ba kẻ thù chính ấy là: kẻ thù thứ nhất- tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù
thứ hai- nạn mù chữ; kẻ thù thứ ba- nạn hối lộ”[39, tr. 217].
Về kẻ địch ở bên trong, Đảng ta đã chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương năm (khoá IX) về nhiệm vụ
của công tác tư tưởng, lý luận. Đó là: “tạo sự thống nhất cao hơn nữa trong Đảng, sự đồng thuận trong
nhân dân”; “chống chủ nghĩ cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, chặn đà suy thoái về đạo đức lối sống”;
“Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị- xã hội nắm chắc diễn biến tư tưởng ở từng địa bàn,
đối tượng, có phương án kịp thời xử lý những tình huống phức tạp có thể xảy ra; đề phòng nguy cơ “tự
diễn biến” từ trong nội bộ”[18, tr. 135, 136, 137].
Đối tượng ĐTTT-LL còn ở chính trong nội bộ Đảng, nội bộ quân đội và nhân dân ta để khẳng định
đường lối đúng, xem xét lại những quyết sách sai, sửa chữa khuyết điểm, khám phá chân lý, phát triển lý
luận, tìm ranhững con đường, những cách thức, những biện pháp tốt nhất để giành thắng lợi.
V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã từng thể hiện sự mẫu mực về cuộc ĐTTT-LL trong nội bộ.
V.I.Lênin đã vạch rõ những sai lầm để khẳng định chính sách kinh tế mới (NEP), để thanh đảng, để xây
dựng pháp luật Xô Viết. Người viết: “Chế độ trưng thu lương thực thừa ở nông thôn, cách giải quyết
những nhiệm vụ xây dựng ở thành thị...đứng về mặt đường lối và chính sách của chúng ta mà xét...là
một sự thất bại rất nặng nề và một sự rút lui rất nghiêm trọng”[39, tr. 119]. V.I.Lênin đã từng chỉ ra nhiệm
vụ cho các nhà giáo dục chính trị: “Khi chúng ta hát: “Đấu tranh này là trận cuối cùng”, thì đáng tiếc rằng
Từ những phân tích trên, chúng tôi quan niệm: năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH ở các
NTQĐ là tổng hoà những khả năng phát hiện, phê phán, ngăn chặn và khắc phục ảnh hưởng của
những quan điểm, tư tưởng thù địch, phản động, sai trái nhằm bảo vệ, vận dụng và phát triển
sáng tạo CNM-LN, TTHCM, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, bản chất truyền thống
quân đội và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong quá trình giáo dục - đào tạo, nghiên cứu
khoa học và các hoạt động xã hội khác.
Năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH ở các NTQĐ biểu hiện chủ yếu trong thực hiện các chức
năng chính là giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học. Giảng viên này là một bộ phận quan trọng
trong đội ngũ các chiến sỹ tiên phong của Đảng trên mặt trận tư tưởng - lý luận. Năng lực ĐTTT-LL của
họ có cái chung như các giảng viên KHXH khác, nhưng có cái riêng là thực hiện trong lĩnh vực đặc thù
quân sự.
1.1.2. Những nhân tố cơ bản cấu thành năng lực đấu tranh tư tưởng - lý luận của giảng
viên khoa học xã hội ở các nhà trường Quân đội
1.1.2.1. Năng lực nhận thức lý luận
Lý luận mác xít chỉ rõ: nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào óc người một cách
tích cực, sáng tạo. Nhận thức lý luận là trình độ cao của nhận thức. Hoạt động ĐTTT-LL chỉ được thực
hiện có hiệu quả khi chủ thể có năng lực nhận thức lý luận.
Năng lực nhận thức lý luận nâng cao khả năng lĩnh hội và hiểu biết toàn diện của giảng viên KHXH
ở các NTQĐ, nhất là về khoa học cơ bản và chuyên ngành. Nó được lượng hoá bằng những tri thức toàn
diện, ở trình độ cao, đặc biệt là nắm vững bản chất, nội dung các quan điểm CNM-LN, TTHCM, đường
lối của Đảng, các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật; am hiểu sâu sắc môn học
mình giảng dạy và nghiên cứu; nhạy bén phát hiện những sai lầm, phản động và tác hại của các quan
điểm ngoài mác xít. Người giảng viên KHXH còn phải hiểu tường tận các đối tượng giao tiếp, nhất là
người học, về mục tiêu, yêu cầu đào tạo, về các quy luật nhận thức của học viên, về các quy tắc ứng xử,
kỹ năng giao tiếp, các phương pháp dạy học hiện đại… Đó là biểu hiện cụ thể về sự phát triển của trí tuệ,
về thế giới quan, phương pháp luận khoa học để phân tích, đánh giá tình hình, chỉ đạo hoạt động thực
tiễn. Những tri thức đó liên tục được củng cố, bổ sung và phát triển không ngừng.
Trình độ nhận thức lý luận thể hiện ở khả năng phân biệt bản chất các quan điểm lý luận KHXH,
1.1.2.2. Năng lực thu thập, xử lý thông tin, phát hiện vấn đề trong đấu tranh tư tưởng - lý luận.
Thu thập, xử lý thông tin là hoạt động tìm kiếm, tích luỹ, phân loại để rút ra những tri thức mới
phục vụ cho hoạt động thực tiễn của con người.
Thu thập và xử lý thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong nâng cao trình độ nhận thức và chỉ
đạo hoạt động thực tiễn. Bởi vì, xã hội càng phát triển, lượng thông tin, tri thức càng nhiều, tăng theo cấp
số nhân. Nếu không có quá trình thường xuyên cập nhật, lựa chọn, phân loại, lưu trữ và xử lý thông tin
để bổ sung tri thức thì chúng ta sẽ nhanh chóng bị lạc hậu. Để nhận thức phát triển và hoạt động thực tiễn
có hiệu quả, không cho phép bất cứ ai (kể cả những người tài giỏi nhất) có thể thoả mãn dừng lại, không
tích cực trau dồi, mở mang hiểu biết. Giảng viên KHXH nếu không thường xuyên thu thập, xử lý thông tin
sẽ không đủ kiến thức, năng lực để giảng dạy, giáo dục, càng không thể ĐTTT-LL có hiệu quả. Ngoài ra, sự
thiếu hụt thông tin, trình độ hạn chế, kiến thức lạc hậu, nghèo nàn, đơn điệu, nông cạn sẽ làm giảm sút uy
tín của người thầy, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng và hiệu quả công tác. Vì vậy, thu thập và xử lý
thông tin là công việc thường xuyên và cấp thiết đối với mọi người, đặc biệt là với người giảng viên KHXH
ở các NTQĐ ta hiện nay.
Năng lực thu thập và xử lý thông tin của người giảng viên KHXH ở các NTQĐ được thể hiện trong
việc sưu tầm tư liệu, tài liệu, số liệu liên quan tới KHXH, các quan điểm, trường phái tư tưởng- lý luận,
những thành tựu khoa học mới, những vấn đề đang tiếp tục nghiên cứu, tranh luận v.v. Thu thập và xử lý
thông tin là quá trình thường xuyên, đòi hỏi tính kiên trì, say mê và có phương pháp khoa học. Thông tin
phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, ĐTTT-LL của giảng viên KHXH rất phong phú, được thu
thập từ các phương tiện nghe nhìn (sách, báo, tạp chí), từ trong cuộc sống; theo nguồn chính thống và
không chính thống; có thông tin chính diện, thông tin phản diện; thông tin chuyên ngành, thông tin đa
ngành… Vì vậy, vấn đề quan trọng là phải có năng lực và phương pháp nhận biết, xử lý thông tin đa
chiều. Giảng viên KHXH cần có sự lựa chọn, xử lý và lưu trữ thông tin khoa học; cần nắm thông tin cả
diện rộng và chiều sâu, nắm cái bản chất trong vô vàn cái hiện tượng, những giả tưởng. Thước đo năng
lực thu thập và xử lý thông tin được thể hiện ở tính hệ thống, chính xác, chân thực, cập nhật, phong phú
và hữu ích của thông tin.
Cùng với thu thập và xử lý thông tin, người giảng viên KHXH phải có năng lực phát hiện vấn đề
ĐTTT-LL. Năng lực đó được thể hiện ở khả năng nhận thức đúng đắn, kịp thời, chính xác đối tượng cần
vật, hiện tượng và tìm tòi tri thức lý luận mới bằng các hình thức khái niệm, phán đoán, suy luận. Nếu
quá trình tư duy thể hiện ở tính khái quát hoá, trừu tượng hoá và gián tiếp gắn liền với ngôn ngữ thì quá
trình tư duy lý luận thể hiện ở sự hoàn thiện các đặc điểm đó. Quá trình tư duy khoa học là quá trình
phân tích, đánh giá, khái quát hoá các tài liệu kinh nghiệm lên trình độ lý luận, phản ánh đúng bản chất,
quy luật. Tư duy chỉ thực sự khoa học khi đạt đến trình độ tư duy lý luận, nhưng không vì thế mà bỏ qua
hoặc coi nhẹ tư duy kinh nghiệm.
Tư duy khoa học được đặt trên cơ sở phương pháp tư duy biện chứng. Nó nhìn sự vật hiện tượng
(cả tự nhiên, xã hội và tư duy) một cách khách quan, toàn diện, hệ thống, trong sự vận động phát triển,
mang tính lịch sử, cụ thể và sáng tạo. Nó đối lập với kiểu tư duy siêu hình, duy tâm, giáo điều. Tư duy
khoa học mang tính sáng tạo cao, không thoả mãn dừng lại những tri thức, kinh nghiệm đã có mà quan
trọng hơn là liên tục tìm tòi, khái quát mới.
Ngày nay, yêu cầu về năng lực tư duy lý luận rất cao. Người giảng viên KHXH phải am hiểu và sử
dụng thành thạo nội dung, phương pháp tư duy khoa học để biến những tri thức đã có thành những tri
thức mới, khắc phục những nhận thức lệch lạc; không ngừng phát triển tư duy sáng tạo, có khả năng tự
học, tự hoàn thiện và phát triển, khả năng làm việc với con người và trong tập thể khoa học. Việc phát
hiện và vạch trần bản chất các quan điểm sai trái, phản động rất khó khăn, phức tạp. Bởi vì, các quan
điểm đó (có thể sai về khoa học hoặc phản động về chính trị) là kết quả của quá trình “nhào nặn”, khái
quát bởi những lý luận gia tư sản hoặc một số nhà lý luận vốn một thời có uy tín lớn trong giới lãnh đạo
và trí thức nay đã từ bỏ cách mạng. Những quan điểm đó thường được luận chứng khá chặt chẽ theo
lôgíc hình thức, nhìn thoáng qua có vẻ hợp lý, có thể đáp ứng một số nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích nào
đó của một bộ phận nhỏ quần chúng nhân dân; được cổ vũ, ủng hộ bằng nhiều phương tiện thông tin đại
chúng hiện đại và đã ít nhiều “mê hoặc” được một số ít nhân dân, có cả cán bộ, đảng viên.
Nhờ năng lực tư duy lý luận, người giảng viên KHXH nhận thức bản chất vấn đề ĐTTT-LL, gạt bỏ
những hiện tượng bên ngoài đánh lừa để xác định bản chất, lựa chọn và sử dụng biện pháp đấu tranh phù
hợp. Năng lực tư duy lý luận không chỉ dừng lại phân tích, khái quát, tổng hợp các vấn đề lý luận của cuộc
ĐTTT-LL đang diễn ra và vạch hướng cho cuộc đấu tranh đó, mà còn dự báo đúng đắn và chỉ ra cách thức
đối phó với cuộc ĐTTT-LL tương lai. Giảng viên KHXH ở các NTQĐ vừa phải biết khái quát hoá, suy luận
tình hình ĐTTT-LL, vừa biết cụ thể hoá trong từng vấn đề đấu tranh một cách đúng đắn, sáng tạo.
cao của tư duy lý luận. Tất nhiên để đạt tới cấp độ đó, con người phải có cả một quá trình học tập, rèn
luyện, tích luỹ và trải nghiệm hoạt động thực tiễn; phải thông qua tất cả các cấp độ từ thấp đến cao, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Như vậy, thông qua các chỉ số về độ nhanh nhạy, độ chuẩn xác và trình độ tư duy, chúng ta có thể
đánh giá được chất lượng và hiệu quả của tư duy lý luận. Người giảng viên KHXH ở các NTQĐ trong
ĐTTT-LL phải bộc lộ khả năng tư duy lý luận của mình qua các tiêu chí trên. Họ phải đánh giá đúng đối
tượng người học, mục tiêu, yêu cầu đào tạo, đối tượng môn học, nội dung cơ bản, phương pháp nghiên
cứu… từ đó xác định dung lượng, cụ thể hoá nội dung lý luận, gắn lý luận với giải quyết những vấn đề
thực tiễn cách mạng, phê phán những quan điểm lệch lạc; tìm ra phương pháp trình bày tối ưu, vừa khái
quát, vừa cụ thể và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp. Nghĩa là, giảng viên KHXH phải có kiến thức và
phương pháp tư duy khoa học, đặc biệt là phương pháp. Phương pháp đó đã được lý luận hoá, trở
thành phương pháp luận. Bởi vì, cùng một mặt bằng kiến thức, nhưng do phương pháp khác nhau mà
chất lượng và hiệu quả hoạt động thực tiễn của mỗi người rất khác nhau. Sự trưởng thành của năng lực
tư duy khoa học là ở phương pháp sáng tạo.
Năng lực tư duy lý luận của giảng viên KHXH ở các NTQĐ còn thể hiện qua việc tổng kết thực tiễn
giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác. Quá trình hoạt động, người giảng viên phải sử
dụng tổng hợp các khả năng, đặc biệt là tư duy lý luận. Thực tiễn ĐTTT-LL có nhiều vấn đề mới nảy sinh
cần sự khái quát, hướng dẫn của lý luận. Tổng kết thực tiễn để giải quyết yêu cầu đó, đồng thời phát
triển lý luận. Vấn đề quan trọng là phải đúc kết thực tiễn và nâng lên trình độ bản thân những vấn đề lý
luận mới đúc rút không những là các vấn đề của đời sống hiện thực mà còn là lời giải đáp đúng đắn cho
thực tiễn ĐTTT-LL. Tư duy lý luận của mỗi giảng viên bao giờ cũng có cả ưu điểm và hạn chế. Vì vậy,
không ngừng bổ sung và hoàn thiện năng lực tư duy lý luận của giảng viên KHXH luôn là một vấn đề cơ
bản và mang tính thời sự cấp thiết. Thường xuyên tổng kết thực tiễn là một giải pháp quan trọng để thực
hiện sự hoàn thiện đó, rút ra những bài học cả về thành công cũng như thất bại giúp cho nâng cao năng
lực tư duy lý luận.
1.1.2.4. Năng lực tổ chức thực tiễn đấu tranh tư tưởng - lý luận
Năng lực tổ chức thực tiễn ĐTTT-LL là tổng hợp những khả năng của chủ thể có thể huy động cho
hoạt động ĐTTT-LL. Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng và hiệu quả ĐTTT-LL, chứng tỏ