Luận án Tiến sĩ: Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay - Pdf 59

LICAMOAN

Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tác giả. Các
số liệu, trích dẫn trong luận án là trung
thực, có xuất xứ rõ ràng và không trùng
lặp với những công trình đã công bố.

TCGILUNN

TrnVitHng


MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ 
ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN 
ĐỀ TÀI
Chương  MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ 
1
TRÍ THỨC KHOA HỌC MÁC ­ LÊNIN TRONG CÁC 
NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1.
Quan niệm, đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức khoa 
học  Mác ­ Lênin trong  các  nhà trường Quân đội nhân 
dân Việt Nam

50

70
70
99

109
109


đội nhân dân Việt Nam hiện nay
3.2.
Những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức khoa học 
Mác ­ Lênin trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt 
Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐàCÔNG BỐ 
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
1
2
3
4
5
6
7

̣
̀
̣
Quân đôi nhân dân Viêt Nam
̣
̣
Quân uỷ Trung ương

Chư viêt tăt
̃ ́ ́
CTQG
CNXH
CNH, HĐH
ĐUQSTƯ
ĐNTT
GD&ĐT
KH&CN
QĐNDVN
QUTƯ

123
163
166
167
177


5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án

Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc, đánh giá cao vị trí, vai trò, đặc biệt là phát 
huy vai trò ĐNTT trong sự  nghiệp cách mạng. Chủ  tịch Hồ  Chí Minh cho  
rằng: Trong cách mạng dân tộc dân chủ  nhân dân trí thức cũng cần, trong 
cách mạng xã hội chủ nghĩa trí thức càng cần. Đảng và Nhà nước ta đã có 
nhiều chủ  trương, chính sách nhằm tôn vinh, xây dựng và phát huy vai trò  
của ĐNTT, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, gắn với 
phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Nghị quyết Đại hội đại biểu  
toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh vị trí, vai 
trò quan trọng của ĐNTT trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay, 
đồng thời đề ra yêu cầu cần phải: “Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có 
chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước” [49, tr. 241].
Đội ngũ trí thức khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường quân đội là 
một bộ  phận của ĐNTT quân đội và ĐNTT Việt Nam; là lực lượng nòng  
cốt giảng dạy các môn lý luận chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, trang bị  thế  giới  
quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản cho học viên trong các nhà trường 
quân đội, góp phần quan trọng đào tạo ra các thế hệ cán bộ, sĩ quan có bản  
lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành 
mạnh, có năng lực lãnh đạo, chỉ  huy và chuyên môn nghiệp vụ  theo chức 
trách, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, 
bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với giảng dạy, ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường 
quân đội còn là một lực lượng nòng cốt nghiên cứu, phát triển và tuyên truyền 
lý luận chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm 
của Đảng; tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống lại các  
luận điệu thù địch, sai trái, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng, đường lối, 


7
quan điểm của Đảng; góp phần xây dựng và củng cố vững chắc trận địa tư 
tưởng của Đảng trong quân đội.

pháp của Nhà nước. Một trong những mũi nhọn chống phá của các thế lực 
thù địch là xuyên tạc bản chất và truyền thống cách mạng hòng “Phi chính 
trị hoá”, vô hiệu hoá quân đội ta. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và 
nghiên cứu khoa học trong các nhà trường quân đội hiện nay cần phải đặc 
biệt coi trọng xây dựng ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin vững mạnh, thực sự là 
một trong những lực lượng nòng cốt xây dựng quân đội vững mạnh về 
chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân 
dân giao phó. Đó cũng chính là lý do để tác giả lựa chọn đề  tài:  Xây dựng  
đội ngũ trí thức khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường Quân đội nhân  
dân Việt Nam hiện nay  làm luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành chủ 
nghĩa xã hội khoa học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu 
Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng  
ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường QĐNDVN, xác định yêu 
cầu và đề  xuất những giải pháp cơ  bản xây dựng ĐNTT khoa học Mác ­ 
Lênin trong các nhà trường QĐNDVN vững mạnh cả  về  số  lượng, chất  
lượng, cơ cấu, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
­ Làm rõ một số vấn đề lý luận về ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin, xây 
dựng ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường QĐNDVN.
­ Khảo cứu thực tiễn  xây dựng ĐNTT  khoa học  Mác ­ Lênin trong 
các nhà trường quân đội, làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và 
rút ra những kinh nghiệm. 
­ Đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản xây dựng ĐNTT khoa học Mác ­  
Lênin trong các nhà trường quân đội hiện nay. 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
* Đối tượng nghiên cứu



10
thống ­ cấu trúc, phân tích ­ tổng hợp, điều tra khảo sát và phương pháp  
chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án
­ Phân tích làm sáng tỏ quan niệm, đặc điểm của ĐNTT khoa học Mác ­ 
Lênin trong các nhà trường QĐNDVN; quan niệm và những vấn đề có tính quy 
luật xây dựng ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường QĐNDVN.
­ Khái quát những kinh nghiệm thực tiễn xây dựng ĐNTT khoa học Mác ­ 
Lênin trong các nhà trường QĐNDVN những năm qua; đề xuất những yêu cầu, 
giải pháp cơ bản xây dựng ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường  
quân đội vững mạnh, đáp ứng tốt nhiệm vụ trong những năm tới.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa lý luận
Kết quả  nghiên cứu của luận án góp phần  làm sáng tỏ  thêm quan 
niệm, đặc điểm của ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường  
quân đội; đặc biệt là làm sáng tỏ  quan niệm và những vấn đề  có tính quy  
luật xây dựng ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các nhà trường quân đội 
hiện nay. 
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học 
phục vụ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng ĐNTT khoa học 
Mác ­ Lênin trong các nhà trường quân đội hiện nay.
Luận án có thể  được sử  dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ  công 
tác GD&ĐT, nghiên cứu khoa học ở các nhà trường quân đội.
8. Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án gồm: Phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên  
cứu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công  
bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.



được diễn đạt thành những “lao động tri thức” và “kỹ thuật viên tri thức”. Đây 
cũng là lần đầu tiên ông nêu khái niệm “lao động tri thức”, “người công nhân tri  
thức” vì ông cho rằng thế giới đang dần dịch chuyển từ nền kinh tế hàng hoá 
sang nền kinh tế tri thức. Bây giờ những khái niệm này đã trở thành chuyện bình 
thường nhưng vào thời đó nền công nghiệp Mỹ đang chịu ảnh hưởng của tư 
tưởng sản xuất dây chuyền của Frederick Taylor, công nhân được xem như 
“những con rôbốt chỉ biết siết ốc”.
Những quan niệm trên đây phản ánh xu hướng xích lại gần nhau giữa  
giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức trong quá trình phát triển mạnh mẽ của  
khu vực kinh tế tri thức, nhất là tại các nước tư bản phát triển. Xu hướng xích 
lại gần nhau này tuy thế, không thể  dẫn đến chỗ  sáp nhập toàn bộ  trí thức 
vào giai cấp công nhân, và cũng không thể chuyển giai cấp công nhân thành trí 
thức. Bởi lẽ, bản chất lao động, vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức và giai cấp 
công nhân trước sau vẫn có những đặc điểm riêng. Do đó, cần thiết phải 
nghiên cứu tầng lớp trí thức nói chung và ĐNTT các môn lý luận Mác ­ Lênin 
nói riêng theo lập trường Mácxít, thì mới có những kiến giải xác thực về khoa 
học và thực tiễn.
Tác phẩm  “Về  trí thức Nga” của nhiều tác giả  (Nga) (2009) [110] là 
công trình tập hợp 12 bài viết của nhiều trí thức trước Cách mạng tháng 
Mười (1917) của nước Nga thuộc Liên Xô cũ và thời kỳ “hậu Xô  viết”. Thời 
gian công bố các bài viết ấy trải dài gần một trăm năm, từ những bài trong 
tập Những cột mốc (Vekhi) công bố năm 1909 cho tới những bài viết thời  
nay. Các tác giả đã tiếp cận dưới các góc độ khác nhau: Tầng lớp trí thức là  
gì? Trí thức và nhận thức pháp quyền, trí thức và chủ nghĩa xã hội, bàn về 
phương hướng và nhiệm vụ  của giới trí thức Nga, những người trí thức 
Nga sau năm 1917 là những người như  thế nào?   Ở  nước Nga hiện nay có 
tồn tại một giới trí thức hay không? v.v... Nội dung các bài viết là những 


13

14
như  một cơ quan độc lập nhằm tài trợ  cơ  sở  hạ  tầng cho nghiên cứu khoa 
học. Các biện pháp khác được áp dụng sau đó, như lập ra các khoản trợ cấp  
đặc biệt cho các học giả mới nổi hoặc xuất chúng ở Canađa và nước ngoài; 
tạo dựng các hiệp hội nghiên cứu có sinh lời giữa các nghiên cứu sinh hậu  
tiến sĩ  ở  Canađa và nước ngoài. Với chiến lược phát triển đúng đắn, hiện  
nay Canađa đã thu hút được các chuyên gia hàng đầu thế giới đến làm việc  
tại quốc gia này, trở thành quốc gia “đi từ chỗ không được xếp hạng để trở 
thành một nước được tham gia vào cuộc đua”.
Vào những năm 90 của thế kỷ XX, ở Trung Quốc trong khuôn khổ lý 
luận về CNXH phát triển, đã có quan niệm coi tầng lớp trí thức là một bộ 
phận của giai cấp công nhân. Cơ  sở  xuất phát của quan niệm này là thành 
phần xuất thân của trí thức chủ yếu từ hai giai cấp cơ bản trong xã hội, là 
công nhân và nông dân.  Trong bài diễn văn của Tổng Bí thư  Đảng Cộng 
sản Trung Quốc đọc tại Lễ  kỷ  niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng  
sản Trung Quốc (01­7­2001) đã khẳng định: “Tầng lớp trí thức với tư cách 
là một bộ  phận của giai cấp công nhân, đã tăng cường mạnh mẽ  tố  chất  
văn hoá, khoa học, kỹ  thuật cho giai cấp công nhân” [118, tr. 69].  Trung 
Quốc  cũng  là một quốc gia rất xem trọng việc   xây dựng,  đào tạo, bồi 
dưỡng ĐNTT. Trên thực tế có nhiều công trình khoa học  của nhiều tác giả 
nghiên cứu về ĐNTT ở quốc gia này. Tiêu biểu phải kể đến: 
Hai   tác  giả  Thẩm   Vinh  Hoa  và  Ngô  Quốc  Diệu  (đồng  chủ  biên) 
(2008)  với  cuốn sách “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế  lớn trăm  
năm chấn hưng đất nước” [65]. Các tác giả đã trình bày nhiều nội dung nổi 
bật trong tư  tưởng của Đặng Tiểu Bình, người được coi là “Tổng công 
trình sư của công cuộc cải cách, mở  cửa và xây dựng hiện đại hoá xã hội 
chủ  nghĩa của Trung Quốc”, về những vấn đề  rất cơ  bản như: đường lối 
tổ  chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; nhân tài là then chốt của phát 
triển; tư  tưởng chiến lược về  bồi dưỡng và giáo dục nhân tài; về  tuyển  


được vị trí, vai trò của mình và trở thành giai cấp độc lập. Đồng thời, trong 
xã hội kinh tế  tri thức thì tất  cả  các giai cấp đều đang tiến từ  phần tử trí 
thức hoá, trở  thành giai cấp của phần tử  trí thức. Đây cũng sẽ  là giai cấp 
sau cùng của xã hội loài người để đi đến xã hội không còn giai cấp.
Tác giả Lăng Tường (2002) với bài viết “Tổng quan về 5 trường đại  
học tổng hợp trong toàn quân” [134] đã đề cập trực tiếp đến các nhà trường 
của quân đội Trung Quốc, phân tích việc kiện toàn hệ  thống nhà trường 
quân sự, đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ 
khoa học quân sự. Theo tác giả, hệ  thống các trường quân sự  của Trung 
Quốc được kiện toàn, đổi mới từ  những năm 1980 với mục tiêu đào tạo 
ĐNTT chất lượng cao đáp  ứng yêu cầu chiến tranh hiện đại. Các trường 
quân sự của Trung Quốc rất chú trọng đào tạo đội ngũ giảng viên và cán bộ 


16
quản lý giáo dục. Đội ngũ giảng viên các trường quân sự, nhất là giảng viên  
có học hàm, học vị  cao được quan tâm phát triển toàn diện và chiếm tỉ  lệ 
ngày càng cao trong tổng số  trí  thức  quân đội Trung Quốc. Chẳng hạn, 
trường Đại học Khoa học kĩ thuật quốc phòng có 1049 Giáo sư và Phó Giáo  
sư; Đại học Công trình Vật lý có 543 Giáo sư và Phó Giáo sư, 276 người có 
học vị Sau đại học; Đại học Công trình Thông tin có trên 500 Giáo sư và Phó 
Giáo sư…
Liên quan trực tiếp đến ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các trường  
quân đội về cơ bản chỉ được đề cập đến ở Liên Xô trước đây. Chẳng hạn, 
cuốn sách, “Phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội” của X.G. Lu­
cô­nhin và V.V. Xê­rê­bri­an­ni­cốp (chủ  biên) (1981) [89]. Cuốn sách tổng 
kết những kinh nghiệm giảng dạy khoa học xã hội ­ trong đó có khoa học  
Mác ­ Lênin ở các trường quân sự Liên Xô, vận dụng những phương pháp và  
hình thức tiên tiến trong giảng dạy khoa học xã hội, nhằm phổ  biến kinh 
nghiệm giảng dạy cho tất cả  giảng viên, đặc biệt là đối với những giảng 

thức, thúc đẩy dân chủ hoá, khoa học hoá; Tăng cường công tác chính trị tư 
tưởng cho đội ngũ trí thức, làm cho họ  kết hợp hài hoà giữa nhu cầu cá 
nhân và việc phục vụ Nhà nước; Hoàn thiện môi trường xã hội để trí thức 
phát huy được hết tài năng.
2. Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài
Chủ đề về trí thức cũng được nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc 
độ  và phạm vi khác nhau. Trong những năm qua, đặc biệt từ khi đất nước  
bước  vào  công cuộc  đổi  mới   đến nay, vấn  đề  trí  thức  được  quan tâm 
nghiên cứu tương đối hệ thống, qua một số chương trình khoa học cấp nhà 


18
nước, công trình nghiên cứu độc lập, luận văn, luận án và một số  bài viết 
đáng lưu ý như:
* Những công trình khoa học nghiên cứu mang tính tổng quan về trí  
thức và xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
Tác phẩm “Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất  
nước”  của nguyên Tổng bí thư  Đỗ  Mười  (1995)  [98]. Đây là công trình 
được xuất bản trên cơ  sở  tập hợp các bài viết của tác giả  về  trí thức.  
Trong công trình này, tác giả khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và 
Nhà nước trong đánh giá về  vai trò của trí thức Việt Nam đối với công 
cuộc phát triển đất nước trên tất cả  các lĩnh vực của đời sống xã hội; đề 
cập trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng và phát huy 
vai trò của trí thức nhằm đáp  ứng yêu cầu của sự  nghiệp đổi mới. Bên 
cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế, thiếu sót cần phải khắc phục  
nhằm phát huy một cách tốt nhất tiềm năng, trí tuệ của ĐNTT.
Tác giả  Phạm Tất Dong (chủ  biên)  (2001) với công trình khoa học 
“Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá,  
hiện đại hoá” [28]. Công trình đã nghiên cứu một cách toàn diện về trí thức  
Việt Nam. Trong đó, tác giả  khẳng định vị  trí, vai trò của trí thức; đi sâu  

việc phân bố trí thức theo các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế…; đề xuất 
một số giải pháp phát triển trí thức trong điều kiện mới.
Đề tài cấp Nhà nước “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn  
2011 ­ 2020” do tác giả Đàm Đức Vượng làm chủ nhiệm (2010) [142]. Đây 
là công trình nghiên cứu mang tính tổng thể  về  đội ngũ trí thức Việt Nam 
trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở trình bày những vấn đề lý luận chung  
về  trí thức, đề  tài đi sâu phân tích thực trạng của trí thức và sử  dụng trí 


20
thức trên tất cả các lĩnh vực hoạt động. Đặc biệt, để  phân tích thực trạng 
của trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, công trình đưa ra nhiều số 
liệu khách quan góp phần minh chứng cho các lập luận được trình bày 
trong đề  tài và đưa ra các phương hướng, giải pháp xây dựng ĐNTT Việt  
Nam giai đoạn 2011 ­ 2020. Trong đó, ngoài các giải pháp mang tính tổng 
thể, đề tài phân tích nhiều giải pháp có ý nghĩa để xây dựng và phát huy vai  
trò của trí thức trên từng lĩnh vực hoạt động. Qua đó, góp phần cung cấp  
các luận cứ  khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính 
sách đối với ĐNTT Việt Nam trong những năm tới.
Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích yêu cầu của sự  nghiệp 
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, của hội nhập quốc tế  đối với việc xây  
dựng, phát triển ĐNTT Việt Nam, các nhóm trí thức thuộc các lĩnh vực 
khác nhau; dự báo tình hình trong nước và thế giới trong những năm tới tác 
động đến việc xây dựng ĐNTT Việt Nam, từ đó nêu lên một số giải pháp,  
biện pháp cụ  thể  nhằm xây dựng ĐNTT Việt Nam cũng như  các nhóm trí 
thức đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới.
*  Những công trình khoa học nghiên cứu về  xây dựng, phát huy  
vai trò của đội ngũ trí thức trong các ngành, lĩnh vực và các lực lượng  
trí thức khác nhau trong quá trình cách mạng
Tác giả  Ngô Thị  Phượng  (2007) với công trình  “Đội ngũ trí thức  

các trường đại học (trừ  các trường đại học thuộc lực lượng vũ trang)  ở 
nước ta hiện nay. Song cũng có đề cập ở một mức độ hợp lý đến những trí 
thức khoa học Mác ­ Lênin làm việc  ở  các lĩnh vực khác trong các trường 
đại học. Qua công trình này, tác giả cung cấp cho người đọc một bức tranh  
chung nhất về  trí thức khoa học Mác ­ Lênin  trong các trường đại học  ở 
nước ta hiện nay. Theo đó, với tư  cách là một bộ  phận quan trọng của  


22
ĐNTT, trí thức khoa học Mác ­ Lênin trong các trường đại học có đặc điểm 
và vai trò riêng, có chức năng nghiên cứu, truyền bá, phát triển chủ  nghĩa  
Mác ­ Lênin trong thời kỳ  mới. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, lực 
lượng này vẫn còn nhiều hạn chế  cần được khắc phục cả  về  số  lượng,  
chất lượng và cơ  cấu. Công trình cũng khẳng định rằng, để  giữ  vững và 
phát triển nền tảng tư  tưởng của Đảng, Đảng và Nhà nước cần có chính 
sách chăm lo đến ĐNTT khoa học Mác ­ Lênin trong các trường đại học ở 
nước ta hiện nay như là bộ phận đặc thù trong ĐNTT Việt Nam.
Tác giả  Lê Quang Quý  (2005) với công trình  “Xây dựng đội ngũ trí  
thức ngành kiến trúc trong công cuộc đổi mới  ở  nước ta hiện nay”  [106]. 
Nội dung của công trình nghiên cứu một cách cơ bản về ĐNTT ngành kiến 
trúc trong công cuộc đổi mới. Trong đó, trên cơ sở phân tích đặc điểm và vai 
trò của ĐNTT ngành kiến trúc, công trình đi sâu nghiên cứu thực trạng của 
việc xây dựng ĐNTT ngành kiến trúc và xu hướng phát triển của lực lượng  
này; đồng thời, chỉ ra yêu cầu và giải pháp xây dựng đội ngũ này trong công 
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. 
Bàn về  vai trò của trí thức ngành y tế có công trình “Phát huy vai trò  
của trí thức ngành y tế  Việt Nam trong công cuộc đổi mới”  của tác giả 
Nguyễn Thị Hoà Bình (2006) [11]. Nội dung đi sâu nghiên cứu những vấn đề 
cơ bản nhất về trí thức ngành y tế ở Việt Nam, từ đặc điểm, vai trò đến thực  
trạng và xu hướng biến đổi của lực lượng này trong công cuộc đổi mới  ở 

(2012) [74]. Đây là công trình khoa học nghiên cứu một cách cơ  bản, có hệ 
thống về đội ngũ trí thức quân đội thời kỳ mới. Nội dung tập trung làm sáng  
tỏ: quan niệm, vai trò, tiêu chí đánh giá xây dựng đội ngũ trí thức quân đội;  
phân tích làm rõ thực trạng xây dựng đội ngũ trí thức quân đội, chỉ ra ưu điểm,  


24
hạn chế và nguyên nhân của nó, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm 
xây dựng đội ngũ trí thức quân đội; phân tích sâu sắc những nhân tố  khách  
quan, chủ quan tác động, từ đó đề xuất các yêu cầu và giải pháp cơ bản xây  
dựng đội ngũ trí thức quân đội trong thời kỳ mới. Một trong những thành công 
của công trình là đã đưa ra được quan niệm khá đầy đủ  về  đội ngũ trí thức 
quân đội. Đây là một công trình khoa học rất có giá trị cả về lý luận và thực  
tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, quân đội xây  
dựng đội ngũ trí thức quân đội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo 
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Đề tài khoa học cấp Tổng cục Chính trị “Xây dựng đội ngũ cán bộ đầu  
ngành khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội thời kỳ mới”  của tác giả 
Nguyễn Văn Quang  (2012)  [104]. Tác giả  quan niệm: “Cán bộ  đầu ngành 
khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội là trí thức khoa học xã hội và nhân  
văn có phẩm chất, năng lực và uy tín cao nhất về một ngành, có khả năng chủ 
trì, tổ chức, dẫn dắt và định hướng hoạt động một chuyên ngành khoa học xã 
hội và nhân văn trong quân đội”[104, tr.16]. Từ phân tích vai trò của đội ngũ 
cán bộ đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội và thực trạng 
xây dựng đội ngũ cán bộ đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn trong quân 
đội, tác giả dự báo những nhân tố tác động, đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ 
bản xây dựng đội ngũ cán bộ  đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn trong  
quân đội thời kỳ mới.
Tác giả  Nguyễn Văn Tháp (2009) với công trình “Xây dựng đội ngũ  
giảng viên khoa học xã hội nhân văn trong các trường đào tạo sỹ  quan  

trường quân đội có công trình “Phát triển bản lĩnh chính trị  và tri thức khoa  
học của giảng viên trẻ khoa học xã hội nhân văn ở các trường sĩ quan Quân  
đội nhân dân Việt Nam hiện nay” của tác giả Lương Thanh Hân (2011) [63]. 
Nội dung nghiên cứu một cách cơ bản, chuyên sâu về đội ngũ giảng viên trẻ 
khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội. Trên cơ sở phân tích 
khá nổi bật vai trò của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường  


26
sĩ quan quân đội và sự  cần thiết phải phát triển bản lĩnh chính trị  và tri thức  
khoa học của đội ngũ này, tác giả quan niệm: “Phát triển bản lĩnh chính trị và 
tri thức khoa học của giảng viên trẻ  khoa học xã hội nhân văn là quá trình  
chuyển hoá không ngừng cả hai mặt bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học từ 
trình độ chưa có sự gắn bó hoà quyện, hỗ trợ cho nhau đến sự hội tụ, thống  
nhất hài hoà, tác động lẫn nhau, thúc đẩy sự phát triển các yếu tố bên trong của  
mỗi mặt, làm cho bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học phát triển đồng bộ, bổ 
sung hỗ trợ cho nhau trong nhân cách sư phạm thoả mãn yêu cầu giảng dạy và 
nghiên cứu khoa học của giảng viên trẻ khoa học xã hội nhân văn ở các trường 
sỹ quan”[63, tr. 50].
Tác giả Đức Lê (2001) với bài viết “Suy nghĩ về xây dựng nguồn lực  
con người cho quân đội trong tình hình hiện nay” [83]. Qua bài viết tác giả 
khẳng định vai trò của việc xây dựng nguồn lực con người cho quân đội 
hiện nay là để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới của quân đội; xây dựng 
nguồn lực con người cho quân đội hiện nay phải được thực hiện đồng bộ 
trên cả ba mặt: số lượng, chất lượng và cơ cấu; đề  xuất một số giải pháp  
để xây dựng nguồn lực con người cho quân đội trong tình hình hiện nay.
Tác giả  Lê Văn Dũng  (2011) với  bài viết  “Phát huy vai trò lực  
lượ ng trí thức quân đội trong xây dựng và bảo vệ  Tổ  quốc”   [30] cho 
rằng, những năm qua trí thức quân đội thuộc nhiều chuyên ngành trong 
lĩnh vực quân sự thực sự là lực lượng nòng cốt, đóng góp quan trọng vào  


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status