LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của tư DUY BIỆN CHỨNG đối với cán bộ LÃNH đạo KINH tế TRONG QUÁ TRÌNH đổi mới ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 40

5

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn Việt Nam trong những năm vừa qua đã khẳng định rằng
cán bộ là một nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, là
khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Hiện nay, công cuộc đổi
mới, mà trọng tâm là đổi mới kinh tế ở nước ta chỉ có thể thắng lợi khi các
cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực cần thiết, có trình độ tư duy cao đáp
ứng được nhiệm vụ mới - đó là tư duy biện chứng mácxít.
Nhận thức rõ điều đó, nghị quyết các Đại hội Đảng lần thứ VI, VII,
VIII, cũng như các Nghị quyết 3, 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng,
các Nghị quyết 01, 09 của Bộ Chính trị (khóa VII) và gần đây nhất là Nghị
quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đặc biệt
nhấn mạnh tầm quan trọng của tư duy, trí tuệ đối với cán bộ, nhất là cán bộ
lãnh đạo kinh tế.
Với một đội ngũ khá đông được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau
và trưởng thành từ thực tiễn chỉ đạo sản xuất, kinh doanh, cán bộ lãnh đạo
kinh tế ở nước ta thời gian qua đã góp phần không nhỏ đưa đất nước thoát
ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh về phẩm chất đạo đức, kinh
nghiệm thực tiễn và năng lực tư duy, những yếu kém về tư duy lý luận, sự
lạc hậu của tư duy so với sự phát triển của thực tiễn, mà đặc biệt là sự yếu
kém về tư duy biện chứng, được biểu hiện trên các căn bệnh trong phương
pháp tư duy như lối tư duy siêu hình, kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều,
bảo thủ, chủ quan duy ý chí... đã dẫn tới những sai lầm nghiêm trọng trong
chỉ đạo hoạt động kinh tế thời gian qua. Những yếu kém về tư duy biện


6



7

bày về lịch sử triết học, về phép biện chứng, lôgíc học hoặc những vấn đề
của lý luận nhận thức. Xin nêu một số công trình quan trọng sau:
- I. X. Nar-xki, Gor-xki: Phép biện chứng của nhận thức khoa học,
Mát-xcơva, 1978;
N.C. Vắc-tô-min: Thực tiễn - tư duy - tri thức, Mát-xcơva, 1978.
- M. M. Rô-den-tan: Nguyên lý lôgíc biện chứng, Trường Đảng cao
cấp Nguyễn Ái Quốc, 1979;
- K. C. O-rut-jep: Lôgic biện chứng, Mát-xcơva, 1981;
- I. D. An-đrây-ep: Lôgíc biện chứng, Mát-xcơva, 1985;
- Lịch sử phép biện chứng mácxít. Từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác
đến giai đoạn Lênin. Nxb Tiến bộ, Mát-xcơva, 1986;
- A.P. Sep-tu-lin: Phương pháp nhận thức biện chứng, Nxb Sách
giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1987.
Ở nước ta, nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều bài viết trên tạp chí,
một số luận án đã đề cập đến vấn đề đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế,
vấn đề nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, ý nghĩa của
tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo. Đặc biệt nhiều tác giả tập trung
tìm hiểu thực trạng tư duy của đội ngũ cán bộ đảng viên và đã nêu ra một
số căn bệnh trong phương pháp tư duy. Xin nêu một số công trình cơ bản
sau:
- Ngô Thành Dương: Một số khía cạnh về phép biện chứng duy vật,
Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1986.
- Nguyễn Văn Linh: Đổi mới tư duy và phong cách, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1987.
- Nguyễn Duy Quý: Đổi mới tư duy: Nội dung và phương hướng,
Triết học, số 1/1987;



9

dân tộc với mong muốn kết hợp truyền thống tư duy của dân tộc với các
phương pháp tư duy hiện đại nhằm xây dựng một tư duy mới. Và, có một
điểm chung dễ dàng nhận thấy là đa số các tác giả đều tiếp cận vấn đề từ
góc độ triết học, do đó thường tập trung vào giải quyết những vấn đề lý
luận chung, những vấn đề mang tính khái quát và phổ biến.
Bên cạnh đó cũng có một số ít tác giả bàn riêng về tư duy kinh tế,
nhưng trong các tác phẩm này mối liên hệ giữa tư duy lý luận, tư duy biện
chứng với tư duy kinh tế dường như chưa được quan tâm đúng mức. Dù
vậy, qua các tác phẩm đó, các tác giả đã nêu ra được những đặc điểm
chung, những nguyên tắc, những nét đặc thù của tư duy kinh tế và sự cần
thiết của một tư duy kinh tế mới trong công cuộc đổi mới kinh tế.
Tuy vậy, cho đến nay dường như chưa có công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách riêng biệt, có hệ thống và chuyên sâu về vai trò của tư
duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế. Trong khi đó, đây là một
vấn đề đang đặt ra hết sức cấp bách đối với công tác lãnh đạo kinh tế trong
điều kiện đổi mới đất nước ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là: Trên cơ sở làm sáng tỏ vai trò tư duy biện
chứng mácxít đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế, cũng như thực trạng tư duy
của đội ngũ cán bộ này ở nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao trình độ tư duy biện chứng cho đội ngũ cán bộ này.
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
- Làm rõ các phạm trù tư duy, tư duy biện chứng ở góc độ lôgíc
biện chứng duy vật.
- Phân tích vai trò tư duy biện chứng mácxít đối với cán bộ lãnh đạo
kinh tế.


- Khái quát một số đặc điểm nói lên thực trạng tư duy ở cán bộ lãnh
đạo kinh tế, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ
tư duy biện chứng cho đội ngũ cán bộ này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu trong luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho công
tác đào tạo, qui hoạch và sử dụng cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo kinh tế.
Kết quả của luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu và giảng dạy Triết học, Xây dựng Đảng, Kinh tế học trong
hệ thống các trường Đảng, các trường Nhà nước.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm có 3 chương, 7 tiết.


12

Chương 1
TƯ DUY BIỆN CHỨNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO KINH TẾ Ở NƯỚC TA

1.1. BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ DUY BIỆN CHỨNG

1.1.1. Tư duy - quá trình phản ánh ở trình độ lý tính đối với
hiện thực khách quan
Tư duy là một thuộc tính cố hữu của con người, là một trong những
tiêu chí để đánh giá năng lực hoạt động nhận thức và thực tiễn của các chủ
thể. Việc nghiên cứu tư duy, vì lẽ đó, đã từ lâu rất được chú trọng. Tư duy
của con người được nghiên cứu trong những lĩnh vực khoa học khác nhau.
Chẳng hạn: sinh lý học nghiên cứu tư duy với tính cách là hoạt động của hệ

hoặc gián tiếp) các tri thức mới. Tuy nhiên, năng lực sáng tạo của tư duy ở
mỗi người là không giống nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố căn bản
như: điều kiện lịch sử xã hội, thể chất của con người, môi trường xã hội...
Có thể nói tư duy mang bản chất người, thuộc phạm trù trí tuệ
người, giúp cho con người nhận thức, khám phá các thuộc tính, các mặt,
các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đi sâu tới từng cấp độ của bản chất,
phát hiện ra những quy luật vận động và phát triển của hiện thực khách
quan.
Quá trình tư duy cũng đồng thời là quá trình vận dụng tri thức vào
đời sống hiện thực. Hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội quy định tư duy.
Trong quá trình cải tạo giới tự nhiên, cải tạo xã hội, con người cũng cải tạo


16

chính bản thân mình, biến đổi và phát triển tư duy: "Trí tuệ con người đã
phát triển song song với việc người ta học cải biến tự nhiên" [67, tr. 720].
Nếu như hoạt động thực tiễn của con người là nguồn gốc, động lực
chủ yếu của tư duy, thì chính thực tiễn cũng là tiêu chuẩn cao nhất của tư duy,
là cái điều chỉnh tư duy. C. Mác nói: "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người
có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn
đề lý luận, mà là một vấn đề thực tiễn" [64, tr. 9-10]. Thực tiễn là nơi cung
cấp tài liệu cho tư duy.
Các giác quan phản ánh hiện thực thành các dữ liệu, với tính năng
động và sáng tạo, với hàng loạt các thao tác: phân tích, tổng hợp, khái quát
hóa, trừu tượng hóa, v.v., tư duy chế biến chúng, tạo ra tri thức mới, phản
ánh bản chất của đối tượng. Những tri thức này lại được đưa vào thực tiễn
để kiểm tra, đồng thời để triển khai sức mạnh của nó.
V.I. Lênin đã diễn đạt một cách cô đọng biện chứng của tư duy trừu
tượng và trực quan sinh động cùng với thực tiễn như sau: "Từ trực quan

của chủ thể nhận thức. Đó là từ những hiện tượng, thuộc tính rời rạc, riêng
lẻ của sự vật, hiện tượng, trong đầu óc chủ thể nhận thức diễn ra một quá
trình với những thao tác tư duy nhằm trừu tượng hóa và khái quát hóa để
nắm bắt được bản chất và các quy luật qui định sự tồn tại, phát triển của sự
vật. Năng lực tư duy còn thể hiện ở năng lực nhận thức và vận dụng lý luận
vào thực tiễn đời sống; ngoài ra năng lực tư duy của chủ thể hoạt động còn
biểu hiện ở chỗ biết tổng kết kinh nghiệm, khái quát hóa kinh nghiệm thực
tiễn thành lý luận và xây dựng mô hình lý luận mới phù hợp với sự vận
động và phát triển của thực tiễn.
Năng lực tư duy của chủ thể còn phụ thuộc cả vào yếu tố di truyền.
gen di truyền quy định các kiểu thần kinh bẩm sinh của chủ thể. Nó là nhân
tố vật chất tạo nên khí chất của con người. Chẳng hạn, khí chất hăng hái:


19

loại này ứng với kiểu thần kinh mạnh, linh hoạt. Người có khí chất này
thường nhận thức nhanh, phản ứng nhanh, tinh tình vui vẻ, các mối quan hệ
xã hội nhanh chóng, giao tiếp rộng rãi... Hay, loại khí chất bình thản, ứng
với kiểu thần kinh cân bằng. Loại người này có nhân thức và phản ứng
chậm hơn nhưng bình tĩnh, chín chắn, sâu sắc, có khả năng kiềm chế, tính
tự chủ cao, biểu hiện tình cảm kín đáo, tác động vào mọi người một cách
nhẹ nhàng theo kiểu "mưa dầm thấm lâu"...
Những người có một trong hai khí chất nói trên, phù hợp với công
tác lãnh đạo. Người cán bộ lãnh đạo thành đạt thường là người có một
trong những kiểu thần kinh nhu vậy. Yếu tố di truyền bẩm sinh của cá nhân
về hệ thần kinh và não bộ tạo nên sự khác biệt giữa cá nhân với cá nhân,
chứa đựng những yếu tố sinh học tự tạo trong cuộc sống cá thể. Thế nhưng,
đặc điểm di truyền, yếu tố gen có được bảo tồn ở thế hệ sau hay không, và
nó thể hiện ở mức độ nào... còn là do hoàn cảnh sống, môi trường xã hội

những mối liên hệ, những thuộc tính bên trong của sự vật và hiện tượng.
Còn trình độ tư duy lý luận là sự phản ánh hiện thực một cách gián
tiếp bằng các phạm trù, nguyên lý, qui luật. Ở đó, chủ thể nhận thức sử
dụng ngôn ngữ và các hình thức tư duy để phân tích, tổng hợp và khái quát
các tài liệu cảm tính, nhằm nắm bắt các thuộc tính, các mối liên hệ mang
tính bản chất, các qui luật nội tại quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật
và hiện tượng.
Về mặt loại hình tư duy triết học, trình độ phát triển cao nhất của tư
duy là tư duy biện chứng duy vật. Nó là sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ
nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng. Năng lực tư duy biện chứng là
tổng hợp tất cả các phẩm chất của tư duy ở trình độ cao, là khả năng đưa ra
những quyết định đúng đắn, hợp lý, kịp thời của chủ thể. Đó còn là khả
năng lãnh đạo, tổ chức để biến quyết định thành hiện thực.


21

1.1.2. Tư duy biện chứng
1.1.2.1. Bản chất tư duy biện chứng
Tư duy biện chứng đã được hình thành từ rất sớm ở trình độ tự
phát, chất phác. Trong triết học phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ...) cổ
đại không bàn trực tiếp về tư duy biện chứng, song đã có những yếu tố của
tư duy biện chứng trong các học thuyết của họ.
Trong triết học Trung Quốc, Lão Tử, Trang Tử, Huệ Thi là các triết
gia điển hình có những tư tưởng biện chứng về tự nhiên, xã hội. Trong tác
phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử có những mệnh đề nổi tiếng như: "Đạo khả
đạo, phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh" [130, tr. 33], "Thiên
hạ vạn vật sinh ư Hữu, Hữu sinh ư Vô" [130, tr. 202], "Đạo sinh Nhất, Nhất
sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn - vật. Vạn - vật phụ âm nhi bão
dương, Xung khí dĩ vi hòa" [130, tr. 210], phản ánh thế giới khách quan

luận, ông đã nhấn mạnh một cách biện chứng mối liên hệ giữa khái niệm,
nghĩa là sự phản ánh bằng khái niệm mối liên hệ lẫn nhau tồn tại trong thế
giới khách quan. Song, Aristốt cũng như các bậc tiền bối của ông chưa
vượt ra khỏi phạm vi quan niệm chung về giới tự nhiên.
Những phương pháp tư duy biện chứng thô sơ ấy phần lớn là tự
phát và còn nhiều hạn chế. Tư duy đó chỉ có thể dùng để nhận thức bức tranh
tổng quát thế giới, mà không thể dùng để nghiên cứu quá trình, hiện trạng
và các sự vật riêng lẻ được. Tư duy này chỉ hạn chế trong bức tranh tổng
quát của hiện thực xung quanh mà giác quan trực tiếp cảm thấy được, vì thế,
không nêu ra được mâu thuẫn nội tại vốn có và sự phát triển của một quá
trình nhất định. Do đó, quan niệm chung về mâu thuẫn, vận động và phát
triển của tư duy biện chứng cổ đại có được dường như là do nhận thức trực
quan mà có.


23

Tư duy biện chứng như vậy đương nhiên không thể chiến thắng
được tư duy siêu hình, thậm chí có lúc nó còn cùng tồn tại với siêu hình
học trong những nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Ph. Ăngghen nhận xét như
sau:
Hình thức thứ nhất là triết học Hy Lạp. Trong triết học
này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự
nhiên... Chính vì người Hy Lạp chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân
tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự nhiên là
một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy. Mối
liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng
minh về chi tiết; đối với họ, mối liên hệ đó là kết quả của sự quan
sát trực tiếp. Đó chính là thiếu sót của triết học Hy Lạp, do đó mà
sau này, nó buộc phải nhường chỗ cho những cách nhìn khác.

Ph. Ăngghen viết: "Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn
bản là xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng,
trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận
động, sự phát sinh và tiêu vong của chúng" [67, tr. 38].
Trên cơ sở kế thừa, chọn lọc, cải tạo các tư tưởng của các nhà triết
học đi trước, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xây dựng phép biện chứng duy
vật, đặt tư duy biện chứng lên một trình độ mới, khoa học hơn. Ph.
Ăngghen đã định nghĩa: "Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên,
của xã hội loài người và của tư duy" [67, tr. 201]. Do đó, lịch sử phát triển
của phép biện chứng cũng là lịch sử phát triển của tư duy biện chứng.
Tư duy biện chứng là tư duy phản ánh những mối liên hệ, sự vận
động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
1.1.2.2. Một số đặc điểm cơ bản của tư duy biện chứng
Tư duy biện chứng mácxít là trình độ cao của tư duy biện chứng ở
trình độ lý luận. Tư duy đó không chỉ dựa trên các quy luật của tự nhiên, xã
hội và tư duy mà còn dựa trên các quy luật biện chứng riêng của tư duy


27

được phản ánh trong lôgíc biện chứng mácxít. Tư duy biện chứng mácxít
có một số đặc điểm cơ bản sau.
a) Nắm bắt và vận dụng được trong tư duy các quy luật phổ biến
của phép biện chứng duy vật.
Tư duy biện chứng là tư duy phản ánh một cách năng động, sáng
tạo biện chứng của thế giới khách quan mà thế giới khách quan tự nó là
biện chứng, do vậy, tư duy, với tư cách là phản ánh lý tính của hiện thực
khách quan cũng tất nhiên phải biện chứng. Nghĩa là, nó phải tuân thủ các
quy luật phổ biến, như quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng - chất, quy luật

người, biến cái hạn chế của tư duy từng con người cụ thể thành cái tối cao
của tư duy con người nói chung.
Tư duy biện chứng dựa trên sự thống nhất hai giai đoạn nhận thức:
cảm tính và lý tính. Nhận thức cảm tính bao giờ cũng thấp hơn trình độ nhận
thức lý tính. Song nó lại là cơ sở của lý tính, nhưng vấn đề ở chỗ tư duy phải
bao quát toàn bộ "biểu tượng" trong sự vận động của nó, do đó, tư duy phải
biện chứng, nghĩa là tư duy phải nắm được biểu tượng trong tính chỉnh thể
của nó. Tư duy được rút ra từ biểu tượng nhưng tư duy phải bao quát biểu
tượng.
Tư duy biện chứng đóng vai trò khái quát từ cái ngẫu nhiên trong
lịch sử thành cái tất yếu. Phương pháp của tư duy biện chứng là sự thống
nhất của các mặt đối lập: phân tích - tổng hợp; quy nạp - diễn dịch, lôgíc lịch sử, trừu tượng - cụ thể;... các mặt đối lập đó cũng tồn tại trong tư duy
biện chứng. Sự xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng là động lực
phát triển của tư duy biện chứng.
Tư duy biện chứng là quá trình tư duy mãi không ngừng tiến gần
đến biện chứng của khách thể. Như V.I. Lênin viết:
Phản ánh của giới tự nhiên trong tư tưởng con người phải
được hiểu không phải một cách "chết cứng", "trừu tượng", không


29

phải không vận động, không mâu thuẫn mà là trong quá trình
vĩnh viễn của vận động, của sự nảy sinh mâu thuẫn và sự giải
quyết những mâu thuẫn đó [51, tr. 207-208].
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những
thay đổi về chất và ngược lại. Mọi người đều biết, sự vật chẳng những có
tính qui định về chất mà còn có tính qui định về lượng. Tư duy biện chứng
với tính cách là phản ánh lý tính của sự vật phải tái tạo sự thống nhất giữa
chất và lượng của sự vật đang ở trạng thái nào. Sự phụ thuộc hữu cơ tất yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status